TIỂU LUẬN
QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
Đề tài: Những thành công của Singapore trong
đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và các
kinh nghiệm cần thiết cho Việt Nam
1. MỞ ĐẦU
Mục đích của bài viết
Bài viết này mô tả và phân tích cách thức mà Singapore đã tham gia vào
trận chiến toàn cầu về tài năng. Để chống chọi với trận chiến này, bài viết sẽ bàn
đến việc Singapore đã minh chứng quan điểm Foucault (1) trong ‘nghệ thuật
điều hành’ của chính phủ về mọi mặt (2) bằng việc cố gắng uốn nắn người dân
suy nghĩ theo một cách thức đã được chuẩn bị thích hợp cho việc dấn thân vào
cuộc chiến đó. Trước tiên, chúng ta sẽ điểm qua quan điểm của chính phủ về
mặt xã hội, chính trị và kinh tế nhằm đáp ứng với trận chiến.
Sau đó, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn những sáng kiến trong hệ thống giáo
dục nhằm hỗ trợ cho chiến lược quốc gia trong việc cạnh tranh nhân tài toàn cầu.
Bài báo này cũng sẽ thảo luận đến những thách thức trước mắt đối với
Singapore trong trận chiến này.
1
Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài viết này là những bài diễn văn quan
trọng của chính phủ, những tuyên bố báo chí, những bình phẩm về sự điều hành
của chính phủ, những động lực xã hội và hệ thống giáo dục … , được công bố
trong các sách vở và những tờ báo chuyên ngành.
Dựa trên quan điểm toàn diện của Foucault về xã hội, chính trị, văn hóa… ,
những lập luận và kết luận được hình thành ở đây do sự phân tích sâu sắc về
những nguồn thông tin này. Các tác gỉa tin rằng bài báo này sẽ làm tăng gía trị
cho cộng đồng nghiên cứu toàn cầu, vì thông qua việc tìm hiểu trường hợp này
những nhà nghiên cứu có thể nhìn thấu suốt cách thức mà một quốc gia đã đáp
ứng với trận chiến tòan cầu về tài năng.
2
Thật ra thì cuộc chiến không chỉ về những người lao động có tri thức trung
bình mà nó liên quan đến người lao động có tri thức xuất chúng. Florida (2005,
page 26) cho rằng thế giới đã đi vào thời đại của sáng tạo; vì yếu tố chính yếu
thúc đẩy chúng ta tiến về phía trước chính là sự sáng tạo như là động lực chủ
yếu cho nền kinh tế. Chính các “ tài năng với óc sáng tạo” này mới nâng cấp sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Cùng một ý như thế, Cohen (2006, xvi) cũng cho
rằng “ chính tài năng của những người điều hành đã làm nên sự khác biệt quan
trọng giữa các công ty phát triển, đổi mới và những công ty yếu kém hay chỉ đủ
để sống còn”. Thật vậy, có những gợi ý cho rằng phần lớn việc sinh lời cho công
ty là do đóng góp của một thiểu số điều hành đầy tài năng (Micheal và các đồng
nghiệp 2001). Do đó, ở một số quốc gia nhiều trường tiểu học và phổ thông bị
bỏ rơi vì các gia đình thuộc giai cấp trung lưu và thượng lưu đang tìm chỗ cho
con cái của họ trong những trường hoặc các chương trình giáo dục có uy tín để
mong ước sao cho một ngày nào đó chúng sẽ được săn lùng trong số những tài
năng trên toàn cầu (Ball, 2003; Brown, 2000; Tomlinson, 2007).
4
Một số trường Đại học ở Singapore
5
Đối với các nhà nước độc lập, việc cạnh tranh trong trận chiến toàn cầu về
nhân tài đôi khi đưa đến những thay đổi sâu sắc trong chính sách về di dân, giáo
dục, kinh tế và xã hội nhằm thu hút và giữ chân những người có tài năng cũng
như củng cố mô hình phát triển hàng đầu của các nước đầy sức cạnh tranh
(Abella, 2006; Lavenex, 2007; Schaar, 2006).
Các quốc gia giàu có đã chứng tỏ sức hấp dẫnngày càng tăng để thu hút
những người lao động có kỹ năng đã từng được đào tạo và trả lương bởi các xứ
sở khác thường là nghèo hơn (Kapur và Mc Hale, 2005; Florida, 2005). Các
nước giàu ngày càng tăng cường tuyển dụng di dân có kỹ năng để đảm trách
những công việc mà người dân trong nước từ chối.
Nhưng với sự tự do hóa thị trường lao động có kỹ năng cao, thì những công
giới (Docquier và Marfouk, 2005). Không nói đến chủ nghĩa quân bình, nhưng
điều có lý là những xã hội càng có nhiều bất bình đẳng thì những người xuất
chúng càng có ít động lực để rời bỏ (Kapur và McHale, 2005). Chính vì vậy, vẫn
có một vấn nạn là làm thế nào để khoảng cách về thu nhập được thu hẹp lại. Nếu
chính phủ cố gắng giữ những người có thu nhập cao thì sự di chuyển mạnh mẽ
của những người lao động có tài năng là một mối đe dọa có tính cạnh tranh thực
sự.
Singapore là một đất nước nhỏ
ở Đông Nam Á với dân số khoảng
4,5 triệu trên một diện tích chỉ
khoảng 700 km2. Đất nước này có
7
một nền kinh tế mạnh và thu nhập bình quân tính theo đầu người vào hạng cao
nhất trên thế giới. Xứ sở này không có tài nguyên thiên nhiên nên nguồn nhân
lực trở nên một lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế khi nó phải tranh giành
với thế giới miếng bánh sinh lợi trong kỹ thuật cao và trong kỹ nghệ phục vụ có
gía trị. Chính vì lẽ đó mà cuộc chiến về tài năng trên toàn cầu đã ảnh hưởng rất
lớn lên Singapore. Đó là một cuộc chiến trong đó đất nước này là một thành
phần tham gia tích cực. Bài viết này sẽ mô tả và phân tích cách thức mà
Singapore đã dấn thân vào cuộc chiến toàn cầu về tài năng. Nó sẽ thảo luận vấn
đề làm thế nào Singapore chứng tỏ quan niệm Foucauld về sự điều hành toàn
diện của chính phủ (governmentality) trong nỗ lực huấn luyện cho người dân
suy nghĩ theo cách thức thích hợp để tăng tốc một cách thích nghi vào cuộc
chiến toàn cầu về tài năng này.
Đầu tiên bài viết sẽ điểm lại những quan điểm của chính phủ về khía cạnh xã
hội, chính trị và kinh tế trong việc đáp trả cuộc chiến toàn cầu về tài năng này.
Sau đó, chúng tôi sẽ phân tích sâu xa hơn những sáng kiến trong hệ thống giáo
dục để hỗ trợ cho chiến lược quốc gia trong việc cạnh tranh về tài năng. Chúng
tôi cũng sẽ thảo luận đến những thách thức trước mặt của Singapore trong cuộc
Một trong những bài diễn văn chính trị sáng sủa nhất chứng tỏ rằng
Singapore đã bị ảnh hưởng như thế nào bởi cuộc chiến toàn cầu về tài năng
chính là bài nói chuyện của cựu thủ tướng Goh Chok Tong nhân ngày Quốc
Khánh năm 1997. Ông nói: “Người dân Singapore có tiếng tốt. Chúng ta thường
được biết đến như những người có năng lực, kỷ luật, chăm chỉ và đáng tin cậy.
Khi các công ty đa quốc gia khởi đầu vận hành hay triển khai hoạt động ở
9
Trung quốc họ vẫn thường thuê người Singapore. Các công ty Mỹ đều nhắm đến
các sinh viên Singapore đang theo học ở Mỹ và không chỉ những người có
MBA, đã tốt nghiệp mà ngay cả những sinh viên chưa tốt nghiệp vì họ muốn
tuyển dụng cho những dự án ở Đông Nam Á và nhất là ở Trung quốc. Một số
sinh viên của chúng ta được tuyển chọn ngay cả khi họ chưa tốt nghiệp. Con số
phá vỡ mối ràng buộc với đất nước ngày càng tăng vì mời chào của các công ty
mới qúa hấp dẫn khó mà có thể cưỡng lại được. Đó thực sự là một vấn đề. Rất
nhiều sinh viên của chúng ta hiện nay đang đóng góp cho các nền kinh tế khác
thay vì trở về Singapore. Họ làm điều này không phải vớitính cách tạm thời mà
là dài hạn… Đây không phải là sự phê phán mà là công nhận một sự kiện mới
trong cuộc sống. Đây là khía cạnh của sự toàn cầu hóa và địa phương hóa mà
chúng ta cần suy nghĩ và giải quyết. (Goh, 1997a).”
Điều này tạo nên một vấn đề cần phải tập trung gỉai quyết: các quốc gia
khác đang lôi kéo nhân tài của Singapore và đất nước này đang bị chảy máu chất
xám. Goh cũng cho biết đây cũng là một phần công việc phải thực hiện của
chính phủ Singapore khi ông nói:
Theo một cách nào đó, thì chúng ta nên cổ vũ cho sự phân tán những tài
năng Singapore bằng việc yêu cầu các bạn đến những vùng đất khác và tạo nên
đôi cánh cho Singapore. Nhưng sự phân tán này mang lại điều nguy hiểm- nếu
người dân Singapore không bám rễ sâu vào đất nước bởi các mối dây chặt chẽ
với gia đình, bằng hữu, cộng đồng và quốc gia thì lực lượng nòng cốt của đất
nước sẽ bị phân tẻ (Goh,1997a)
Câu trả lời cho hiện tượng này chính là thu hút một cách tích cực những tài
đất nước Singapore trong tâm tư.
Đây là cơ sở của một sáng kiến quan trọng về giáo dục mà nền giáo dục
quốc gia phải thực hiện ở nhà trường Singapore. Nền giáo dục này sẽ được bàn
thảo trong phần sau.
Hài hòa với sự điều hành đất nước toàn diện theo quan điểm Foucault,
chính quyền đã cố gắng làm cho công dân của mình có được sự lý giải thực tế về
những quyền lợi tiềm năng trong kinh tế. Lập luận đó chính là: làm cho đất nước
Singapore trở nên thành phố hàng đầu của thế giới với những công việc được trả
lương rất cao cũng là điều tốt lành cho mọi người dân trong nước. Goh (1997a)
nói: “Chúng ta có thể xây dựng ngôi nhà tốt nhất cho mọi người dân Singapore
bằng việc thu hút nhân tài của thế giới. Để có được những đại học hàng đầu
của thế giới chúng ta phải thu hút những sinh viên và giáo sư giỏi về đây. Để có
việc làm tốt cho mọi người lao động chúng ta phải lôi kéo được những người
chủ giỏi nhất- nghĩa là những chuyên gia, doanh nghiệp và những công ty mạnh
nhất thế giới chẳng hạn như Shell, Compaq hay Sony. Hấp dẫn được nhân tài
của thế giới là chìa khóa để tạo nên điều tốt nhất cho người dân Singapore”.
Lý lẽ của việc chào đón những tài năng thế giới dựa trên lợi ích kinh tế và
óc thực tế. Nhưng việc quản lý những hệ lụy của nó là điều bắt buộc. Không
phải tất cả mọi người dân đều được trang bị những lý lẽ này. Điều này đặc biệt
có thể thấy rõ trong cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1998-1999. Khi chính phủ
tiếp tục thu hút nhân tài thế giới đến làm việc và sau đó định cư ở Singapore thì
nhiều người dân trong nước bị sa thải. Sự chống đối của người dân về dòng
người nhập cư gia tăng. Theo Mukhopadhaya (2003) sự bất bình đẳng về thu
nhập ở Singapore rất cao và một lý do của sự kiện này chính là chính sách di dân
chọn lọc của chính phủ Singapore. Đã có những căng thẳng âm ỉ chung quanh
12
chính sách nhân tài nước ngoài (Koh, 2003; Yeoh và Huang, 2004). Nhưng
chính phủ vẫn duy trì chính sách này bằng việc quản lý thận trọng cùng với việc
thương lượng những giải pháp và động lực chính trị. Một tín hiệu mạnh mẽ đã
được chính phủ gửi đi về việc duy trì chính sách tuyển dụng nhân tài thế giới
Group và hiện nay là Piyush Gupta, một người Ấn độ từ City Bank và đang nộp
đơn vào quốc tịch Singapore (Chen, 2009). Tài năng nước ngoài không chỉ là
một nguồn vốn về mặt kinh tế mà còn là nguồn vốn biểu tượng mang ý nghĩa
đặc trưng cho nhịp độ phát triển ở tầm mức cao của guồng máy kinh tế
Singapore so với các nền kinh tế khác (Ong, 2007).
Sáu năm sau đó, vấn đề sử dụng nhân tài nước ngoài lại được chú ý đến.
Năm 2006, thủ tướng đương nhiệm Lee Hsien Loong với cùng tâm trạng đã chỉ
ra vấn đề chảy máu chất xám trong bài diễn văn nhân ngày Quốc Khánh. Thủ
tướng Lee cho rằng, ngày càng có nhiều người tài năng của Singapore được
nhắm đến và tuyển dụng làm việc ở nước ngoài. Do đó Singapore cần dấn thân
vào “cuộc chiến” về nhân tài và đẩy mạnh việc di dân đến Singapore nhằm bù
vào chỗ trống do những người trong nước ra đi (Lee, 2006).
Quan điểm của Singapore về việc tìm kiếm và mở cửa cho tài năng nước
ngoài đã được tái xác nhận trong chính sách của chính phủ. Một bộ phận chuyên
trách về vấn đề dân số và quốc tịch được thành lập ngay trong văn phòng thủ
tướng để xúc tiến những chương trình di dân đến Singapore. Goh Chok Tong,
giờ đây đã trở thành cựu thủ tướng, cũng tăng thêm sức mạnh cho quan điểm
này bằng cách nêu ra rằng nhiều chính phủ khác cũng đang làm điều tương tự.
14
Nếu không đủ người có tài được đào tạo trong nước thì nhiều xứ sở đang
chuẩn bị du nhập không hạn chế những người này. Chẳng hạn như nước Anh đã
có một hệ thống chấm điểm để thu hút nhiều hơn những di dân có kỹ năng làm
việc. Trong khi các nước khác như Mỹ và Úc đã có những tác động lên hệ thống
giáo dục để khuyến khích những sinh viên nước ngoài ở các trường đại học của
họ ở lại làm việc sau khi tốt nghiệp. Cũng như thế, năm 2006, Hồng Kông đã
đưa ra Qui định chấp nhận những di dân có kỹ năng. Singapore cũng đã làm
tương tự, với mạng lưới tiếp cận Singapore làm cho việc “thu nhập chất xám”
được thuận lợi. (Goh, 2008)
Như thế, tư duy chính trị của Singapore về vấn đề tài năng nước ngoài đã tỏ
có thể thu hút được các tài năng nước ngoài chính là dự án ‘Nhà Trường Toàn
Cầu’. Bản thân dự án này là một viễn ảnh về một trung tâm giáo dục hàng đầu
thế giới (Chan và Ng, 2008; Olds, 2007; Sidhu, 2009). Đặc biệt là, chính phủ đã
cố gắng thiết kế một “nền kinh tế thị trường” trong phân khúc giáo dục đại học
bằng cách khuyến khích người nước ngoài hay tư nhân trong nước gia nhập
nhiều hơn nữa vào thị trường giáo dục đại học của Singapore. Những đại học
hàng đầu của thế giới được nhắm đến và được mang vào đất nước để làm mũi
nhọn cho sự nghiên cứu và phát triển (R&D) ở tầm mức thế giới, chuyển giao tri
thức công nghệ và đưa Singapore lên vị trí hàng đầu thế giới về giáo dục ( Olds,
2007; Sidhu, 2009). Nhiều thách thức được đặt ra cho chính phủ vì một mặt nhà
nước mong muốn nắm giữ để tập trung kiểm soát, mặt khác lại khuyến khích sự
đa dạng trong thị trường giáo dục đại học (Ng và Tan, 2010). Ngay từ năm
16
2002, một số trường đại học hàng đầu của thế giới (WCU) đã thiết lập cơ sở ở
Singapore bao gồm INSEAD (Institut Européen d’Administration des Affairs),
University of Chicago-Graduate School of Business, University
of Pennsylvania-Wharton School, Massachusetts Institute of Technology,
Technische Universiteit Eindhoven, Technische University Munchen, Georgia
Institute of Technology và Johns Hopkins University (Ng và Tan, 2010). Các
trường đại học trong nước cũng bị thúc đẩy làm việc để nhắm tới tiêu chuẩn
hàng đầu của thế giới và chấp nhận mô hình
liên kết (Wong, 2007).
Tương ứng với những sự kiện trên, dưới
dạng đầu tư quốc gia vào nghiên cứu và phát triển (R&D) chính phủ cũng đã
tăng tổng chi tiêu cho nghiên cứu lên đến 7,5 tỷ SD hàng năm vào năm 2010,
hay là 3% của GDP trong đó 1/3 được dùng làm qũy nghiên cứu một cách công
khai (Tharman, 2008a). Thông qua Cơ Quan Nghiên Cứu Quốc Gia (National
Research Foundation-NRF), Cơ Quan Khoa Học, Kỹ Thuật và Nghiên Cứu
(A*STAR) và các viện nghiên cứu cao cấp khác, chính phủ nhắm đến việc phát
School và Avondale Grammar School (Ban Phát Triển Kinh Tế, 2008). Ngay cả
hệ thống giáo dục của Singapore, dù đã có tiếng về hiệu qủa và song ngữ, cũng
phải là trọng tâm thu hút sự chú ý khi các nhân tài hay nhà đầu tư nước ngoài
xem xét đến việc giáo dục con em của họ. Goh (2008) đã cho chúng ta biết rằng:
18
Nhà đầu tư tỷ phú Mỹ, Jim Rogers, đã chuyển đến Singapore sinh sống. Ông
ta muốn con mình được học tập và học tiếng Trung quốc trong một môi trường
song ngữ. (Goh, 2008).
Một thí dụ khác về cách thức làm thế nào để hệ thống giáo dục được sử
dụng để thu hút tài năng nước ngoài chính là việc cấp hỗ trợ tài chính cho những
sinh viên nước ngoài xuất sắc đến học tập tại Singapore. Bộ Giáo Dục (MOE) đã
tài trợ mạnh mẽ cho những sinh viên giỏi nước ngoài đến học ở 3 trường đại học
công lập. Để có thể duy trì một hệ thống giáo dục đại học có trợ cấp, các trường
đại học phải bảo đảm rằng chỉ những sinh viên có phẩm chất cao dựa trên các
tiêu chuẩn nghiêm khắc mới được chấp nhận. Những sinh viên quốc tế được
nhận tài trợ của chính phủ bắt buộc phải phục vụ 3 năm sau khi tốt nghiệp bằng
cách làm việc tại Singapore và họ sẽ bổ sung vào khối nhân tài đang có mặt.
Ngày nay, các sinh viên quốc tế chiếm 20% trong tổng số sinh viên ghi danh ở
các trường đại học, so với khoảng 12% vào cuối thập niên 90 ( Tharman, 2005).
3.2 Giáo dục và giữ chân người tài trong
nước.
Trong tầm nhìn rộng về giáo dục được đưa ra
trong khẩu hiệu “nhà trường tư duy, quốc gia học
tập” (TSLN) vào năm 1997 (Goh, 1997b), một loạt
các biện pháp cải cách giáo dục nhằm tăng tốc cho Singapore thành một nền
kinh tế tri thức cùng với một chủ đề phụ là phát triển những tài năng trong nước
đã được đưa vào chương trình hành động. Tư duy sáng tạo, cách tân và sáng
kiến đổi mới được nhấn mạnh như là một phần của qúa trình giáo dục tài năng
trong nước (Ng, 2005a). Để làm được như thế nhà trường được trao quyền tự
Tuy nhiên vẫn có những thách thức đối với việc giữ chân người tài trong
nước. Mặc dù cuộc chiến về tài năng đe dọa đến sự định hướng, khuôn khổ và
những điều khoản hướng đến tinh thần quốc gia của nền giáo dục; nhưng ở
Singapore, nền giáo dục càng trở nên mang tính quốc gia, ít nhất là đối với
người dân trong nước. Điều này đã định hình trong chương trình Giáo Dục Quốc
Gia (NE) được đưa ra năm 1997. NE được hiểu như là có phận sự kể về quốc gia
(Bhabha, 1990). Theo Koh (2000) thì NE kể một câu chuyện về cách thức mà
Singapore đã vượt qua những khó khăn, trở ngại. Đó là câu chuyện có ý hướng
giáo huấn luân lý mà người dân là chủ thể với lòng trung thành với đất nước
không suy suyển trong cơn sóng toàn cầu hóa. Một thông điệp mạnh mẽ được
gửi gấm trong NE chính là: ‘đi khắp thế giới, sống ở trong nước’. Để ngăn ngừa
những tài năng trẻ của Singapore bị cuốn đi bởi con sóng toàn cầu hóa, thông
điệp này động viên họ mạo hiểm tiến lên để tìm những cơ hội mới về kinh tế
trong thế giới nhưng cảm xúc bao giờ cũng bám rễ vào Singapore. Cả hai vị thủ
tướng tiền nhiệm và hiện nay đều bày tỏ mối quan ngại rằng, toàn cầu hóa sẽ
dẫn đến sự bật gốc và những người đã liều lĩnh ra đi có thể sẽ không trở về.
Thách thức này còn được gọi là “sự hoán chuyển quốc tịch” (Ong, 2006; trang
499) trong đó tính lưu động của những người chuyên nghiệp mang tính quốc tế
sẽ thách thức cam kết đối với quốc gia. Cho dù người Singapore ra đi hay những
tài năng nước ngoài đến thì chính họ cũng tạo nên những hiệu ứng làm bất ổn
đối với tòa nhà ‘quốc tịch’.
Do đó, NE nhắm đến việc giáo dục những gía trị và thái độ tích cực nơi giới
trẻ hướng đến đất nước để phát triển sự gắn bó và niềm tự hào về quốc gia trong
tương lai (Lee, 1997). Bên trong câu chuyện này là vai trò của chính phủ trong
việc biến đổi Singapore từ một thành phố lạc hậu trở thành một xứ sở hàng đầu
thế giới. Đây là một nỗ lực lớn để gây ảnh hưởng vào tâm trí của người dân trẻ.
21
Trong suốt thời kỳ áp dụng chính sách Giáo Dục Quốc Gia (NE), Lee 1997 đã
nói: “Chương trình Giáo Dục Quốc Gia là một cuộc tiến hành quan trọng. Hiệu
quả của nó là dài hạn. Để người dân nhận ra mình là những người đồng sở hữu
thực hiện sự kiểm soát này chính quyền tin rằng hệ thống giáo dục sẽ ngoan
ngoãn đi theo định hướng của họ.
4. NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA TƯƠNG LAI VÀ NHỮNG THÁCH THỨC
Trong cuộc chiến toàn cầu về tài năng thì sự điều hành toàn diện của chính
phủ Singapore được biểu thị trong việc quản lý “…con người trong mối liên hệ
với những điều khác như tập quán, thói quen, cách thức hành động và suy nghĩ
v.v…” ( Foucault, 2000, trang 209). Cuộc chiến này là một liệu pháp lâu dài và
nghiêm trọng mà chính phủ phải thương thảo một cách cẩn thận để tìm ra cách
thức uốn nắn người dân đi theo cách nghĩ sao cho có thể tập hợp được mọi tài
nguyên cho nền kinh tế và cho những mục đích sống còn của đất nước, bao gồm
việc chấp nhận những tài năng nước ngoài và cảm xúc bám rễ vào đất nước của
người dân.
Tuy nhiên, thách thức của cuộc chiến này ngày càng nghiêm trọng. Trước
tiên nó không ngừng thử sức chống chọi của việc “sử dụng người theo tài năng”
đối với chủ nghĩa quốc gia (Tan, 2008). Nó thúc bách chính quyền phải giải
quyết những xung đột mới nổi lên giữa nguyên tắc sử dụng theo tài năng và theo
chủ nghĩa quốc gia dựa trên sự tiếp cận hợp lý với chính sách giáo dục dành cho
23
người giỏi, với những công việc đòi hỏi trình độ cao và với tính lưu chuyển của
xã hội và kinh tế. Thông qua những điều ấy, chính phủ có xu hướng đu đưa giữa
hai đầu dây. Một mặt chính phủ kêu gọi “ một xã hội rộng mở, công khai chào
đón các tài năng và đón nhận mọi quan điểm khác biệt”. Mặt khác chính quyền
lại hy vọng phát triển một xã hội trong đó “mọi người gắn kết và có cùng cảm
xúc về mục tiêu chung” (Lee, 2004). Cách nói đẹp đẽ nhất thường vẫn là hứa
hẹn cơ hội đồng đều. Tuy nhiên, đối với những người dân đang chống đối thì
câu hỏi vẫn là: phải chăng sự bình đẳng về cơ hội là sự dân chủ mà họ đang tìm
kiếm ? (Harding, 1979). Con đường sử dụng nhân tài nước ngoài là một giải
pháp thay thế nghèo nàn cho những lối ra của các vấn đề về xã hội và kinh tế
Chính phủ cầm quyền hiện nay của đảng PAP đã thiết kế một xã hội Singapore
rất thành công trong qúa khứ. Nhưng với dòng người có tài đến từ nước ngoài và
sự liên thông toàn cầu của người dân ngày càng tăng, thì toàn cảnh bây giờ đã
trở nên rắc rối. Sự phức tạp của những mối tương tác xã hội trong một thành
phố-quốc gia mang tính toàn cầu như Singapore không thể kiểm soát được.
Chẳng hạn như chương trình Giáo Dục Quốc Gia được thực hiện từ năm 1997.
Vào năm 2001 một ký giả tường thuật rằng giới trẻ rất mơ hồ về điều tạo nên
căn cước quốc gia cho Singapore (Teo, 2001). Gần đây hơn, một nhà báo khác
cho biết kết qủa của một cuộc thăm dò cho thấy có đến 53% những người thuộc
lứa tuổi thiếu niên (13-19) cho biết là họ có cân nhắc đến chuyện di dân ra nước
ngoài (Lim, 2006). Mặc cho những việc làm của chính phủ, Sim và Print (2009)
báo cáo về toàn cảnh của chương trình giáo dục công dân như là còn lỏng lẻo,
25