HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
§éi ngò trÝ thøc gi¸o dôc §¹i häc ViÖt Nam
trong ®µo t¹o nguån nh©n lùc chÊt lîng cao
thêi kú ®Èy m¹nh c«ng nghiÖp hãa, hiÖn ®¹i hãa
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THANH HÀ
§éi ngò trÝ thøc gi¸o dôc §¹i häc ViÖt Nam
trong ®µo t¹o nguån nh©n lùc chÊt lîng cao
thêi kú ®Èy m¹nh c«ng nghiÖp hãa, hiÖn ®¹i hãa
Chuyên ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số : 62 22 85 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS ĐỖ THỊ THẠCH
HÀ NỘI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực và
có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Nguyễn Thị Thanh Hà
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 6
Chương 4
QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 121
4.1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN 121
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VIỆT NAM
TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
127
KẾT LUẬN 157
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 175
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNCS : Chủ nghĩa cộng sản
CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đạị hóa
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CTQG : Chính trị quốc gia
ĐHQG : Đại học quốc gia
GS : Giáo sư
KH&CN : Khoa học và công nghệ
KHTN : Khoa học tự nhiên
KHXH&NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
KTTT : Kinh tế tri thức
KT-XH : Kinh tế - xã hội
LLSX : Lực lượng sản xuất
NNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao
hội của toàn cầu hoá nhằm phát triển đất nước.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Quá trình này chỉ đạt được
kết quả khi chúng ta kết hợp tốt sức mạnh của mọi nguồn lực, trong đó nội lực là quyết định. Do
vậy, yêu cầu về NNLCLC đang đặt ra đối với hệ thống giáo dục nói chung và hệ thống giáo dục đại
học nói riêng, trong đó đội ngũ trí thức các nhà giáo đại học giữ vai trò trọng yếu.
Trí thức giáo dục đại học (bao gồm các nhà giáo, nhà khoa học, nhà quản
lý, các chuyên gia đang trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu ở bậc đại học) là bộ phận
quan trọng của đội ngũ trí thức giáo dục và đào tạo, giữ vai trò quyết định nhất
1
trong đào tạo NNLCLC, thực hiện chuyển giao và đổi mới công nghệ, bảo tồn và
phát triển những giá trị văn hoá dân tộc, tiếp thu có hiệu quả những giá trị văn hoá
tiên tiến trên thế giới.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định vai trò
của trí thức. Đặc biệt, gần đây, Hội nghị Trung ương 7 Khoá X, Đảng ta nhấn
mạnh: "Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào dân tộc sâu
sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bằng hoạt động sáng tạo, trí
thức nước ta đã có đóng góp lớn trên tất cả các lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Tổ
quốc" [46, tr.82].
Thực tế gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế đã chứng minh cho sức
mạnh và đóng góp to lớn của trí thức Việt Nam vào quá trình phát triển đất nước,
trong đó có đội ngũ trí thức giáo dục đại học. Bằng lao động sáng tạo của mình, trí
thức giáo dục đại học đã góp phần đào tạo những lớp người lao động mới (học
viên, sinh viên) hữu ích cho sự phát triển xã hội. Đó là NNLCLC trong tương lai
gần, những người có năng lực làm chủ công nghệ tiên tiến, có khả năng đổi mới
và hiện đại hoá công nghệ truyền thống, từng bước sáng tạo những công nghệ
mới, hiện đại, phù hợp với con người, với điều kiện và môi trường Việt Nam.
Trong Chiến lược phát triển KT-XH đến năm 2020, Đảng ta quán triệt ba khâu
cần đột phá, trong đó: “phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là NNLCLC, tập
trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở lí luận về vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
và thực trạng của đội ngũ trong đào tạo NNLCLC, luận án đề xuất một số quan
điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu góp phần phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ
sau đây:
- Trình bày lí luận chung về trí thức giáo dục đại học và NNLCLC ở Việt Nam
thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH;
3
- Phân tích thực trạng vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam
trong đào tạo NNLCLC, thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra hiện nay;
- Đề xuất một số quan điểm cơ bản và các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy
vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu đào tạo
NNLCLC thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức giáo dục đại học
và NNLCLC.
- Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử;
đồng thời kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như:
phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử; đối chiếu và so sánh, nghiên cứu tài liệu và
điều tra xã hội học
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vai trò của đội ngũ trí thức giáo dục đại học (tập trung
vào vai trò của đội ngũ giảng viên) trong đào tạo NNLCLC và giải pháp chủ yếu
nhằm phát huy vai trò đó trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
và thực tiễn trong đề xuất chính sách đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng nhân tài của
đất nước.
- Luận án là tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy về trí
thức, nguồn nhân lực và cho những nghiên cứu quan tâm đến chủ đề này.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
án gồm 4 chương, 9 tiết.
5
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1. Công trình nghiên cứu ở trong nước
1.1.1.1. Về trí thức
Ở Việt Nam, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước nhằm
thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, vấn đề bồi dưỡng và phát huy
nguồn lực con người, đặc biệt nguồn lực trí tuệ - “hiền tài là nguyên khí quốc gia”
là rất cần thiết, là nhiệm vụ chiến lược quan trọng đặt ra đối với toàn bộ hệ thống
chính trị và nhân dân ta. Từ năm 1996 đến nay, những công trình thuộc nhóm vấn
đề này được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu. Trong đó, đáng chú ý là một số
công trình tiêu biểu sau:
Phạm Tất Dong (chủ biên), Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tầng lớp trí
thức. Những định hướng chính sách, thuộc chương trình KHXH.03 (Giai đoạn
1996 - 2000) [28]. Đề tài đã làm rõ những vấn đề đặt ra của đội ngũ trí thức Việt
Nam với tư cách là nguồn lực quan trọng, cơ bản để đào tạo nguồn nhân lực; vị trí,
vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH, thực trạng đội
ngũ trí thức và chính sách của Đảng đối với đội ngũ trí thức. Trên cơ sở đó, Đảng
và Nhà nước có chiến lược phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam để họ xứng
đáng với vai trò là lực lượng nòng cốt, bộ phận tinh túy của nguồn nhân lực.
Phan Thanh Khôi (2001), Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về
với đội ngũ trí thức Việt Nam trong thế kỷ XXI; phương hướng phát triển của đội
ngũ trí thức Việt Nam trong tình hình mới.
Đỗ Thị Thạch (2005), Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb CTQG, Hà Nội [136]. Thông qua việc
làm rõ quan niệm về trí thức, trí thức nữ, những phẩm chất trí tuệ và các yếu tố tác
động đến sự phát triển trí tuệ, tác giả đi sâu phân tích sự hình thành, đặc điểm, vai
trò của nguồn lực trí thức nữ Việt Nam, đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy
nguồn lực trí thức nữ Việt Nam đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Ngô Thị Phượng (2007), Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới, Nxb CTQG, Hà Nội [120]. Công trình đã phân tích
rõ khái niệm trí thức KHXH&NV; vai trò của đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt
Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước; quan điểm và giải pháp phát huy vai trò của
đội ngũ trí thức KHXH&NV Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay.
7
Nguyễn Công Trí (2007), Vận dụng quan điểm của V.I.Lênin về thực hiện
chính sách đối với trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 5 [148]. Tác giả đã phân tích quan điểm của V.I.Lênin
về thực hiện chính sách đối với trí thức trong cách mạng XHCN; những luận điểm
về nhận thức và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đội ngũ trí thức.
Đỗ Thị Thạch (2008), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước
và hội nhập quốc tế, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 6 [137]. Dựa vào việc phân tích
vai trò của trí thức đối với sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước, tác giả
đã đưa ra mục tiêu phát triển đối với đội ngũ trí thức Việt Nam và một số giải pháp
để thực hiện được mục tiêu này.
Lê Văn Dũng (2008), Phát huy vai trò lực lượng trí thức quân đội trong
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, Tạp chí Cộng sản, số 794 [36]. Bài viết đã đánh giá
thực trạng về số lượng, cơ cấu, chất lượng của đội ngũ trí thức quân đội nhân dân
Việt Nam và vai trò của họ trong nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học
quân sự phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, bài viết đã đưa
ra ba phương hướng thiết thực nhằm xây dựng đội ngũ trí thức quân đội ngang
Minh về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình CNH, HĐH ở Việt
Nam. Từ đó, các tác giả đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng đội ngũ trí
thức trong giai đoạn 2010 - 2020.
Nguyễn Thị Thơm (2012), Tạo động lực và môi trường để phát huy tính
sáng tạo của đội ngũ trí thức, Tạp chí Lý luận Chính trị, số 11 [144]. Ngoài việc
phân tích những đặc điểm cơ bản nhất của đội ngũ trí thức, tác giả đã đưa ra năm
vấn đề chủ yếu nhằm tạo động lực và môi trường để phát huy tính sáng tạo của đội
ngũ trí thức - lực lượng tinh túy của NNLCLC.
Nguyễn Trọng Chuẩn (2013), Trí thức và trách nhiệm xã hội, Tạp chí Cộng
sản, số 853 [26]. Bài viết chia làm ba phần lớn, thứ nhất, tác giả phân tích vai trò
lao động trí óc của trí thức trong lịch sử nhân loại tiến bộ; thứ hai, phân tích trách
nhiệm của trí thức trong mọi thời đại; thứ ba, phân tích vai trò và trách nhiệm xã hội
của trí thức Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế. Cuối cùng tác giả
kết luận: Trí thức chỉ có thể thực hiện được trách nhiệm xã hội của mình, nếu như
họ ý thức rõ được trách nhiệm đó.
1.1.1.2. Về giáo dục đại học và trí thức giáo dục đại học
Phạm Văn Thanh (2001), Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin
trong các trường đại học ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ Triết học, chuyên
9
ngành CNXH khoa học [140]. Công trình nghiên cứu những nét cơ bản về đội ngũ
trí thức khoa học Mác-Lênin trong các trường đại học; đề xuất phương hướng và
những giải pháp chủ yếu xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác-Lênin, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục đại học và sau đại học phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước theo định hướng XHCN.
Lâm Quang Thiệp xuất bản hai cuốn sách cùng tên: “Giáo dục học đại học”,
Hà Nội, 1997 của Vụ Đại học - trường Cán bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo (quyển
I: các tài liệu chính) [141] và “Giáo dục học đại học”, Hà Nội, 2003 của Khoa Sư
phạm thuộc ĐHQG Hà Nội [142] đã giới thiệu nhiều chuyên đề bàn luận trực tiếp
đến hoạt động tổ chức đào tạo, quản lý chất lượng cho giáo dục đại học. Với chuyên đề
“Về hệ thống đảm bảo chất lượng cho giáo dục đại học Việt Nam”, tác giả bước đầu
kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo
hướng đánh giá tổng thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học cho
tác giả luận án.
Hoàng Tụy (2006), Giải pháp nào cho giáo dục đại học?
(http://www vast.ac.vn/HVGD/ThamLuan/giaiphapnao_htuy.htm) [199]. Ông cho
rằng: Hiện đại hoá giáo dục đại học thực chất là cuộc cải cách toàn diện từ mục
tiêu, đến nội dung, phương pháp và tổ chức, quản lý, để hướng tới một nền đại học
tương đồng với thế giới theo xu thế chung đã nói ở trên. Những đặc điểm chủ yếu
của xu thế đại học này là: 1. Nhấn mạnh năng lực sáng tạo trong mọi khâu đào tạo;
đặc biệt coi trọng nghiên cứu khoa học; 2. Bảo đảm cho mọi công dân quyền bình
đẳng về cơ hội học tập và thành công trong học vấn; đó là một xu thế tất yếu. Đây
là cơ hội tốt để chúng ta có thể tranh thủ hợp tác, học hỏi kinh nghiệm của các nước
có nền giáo dục và công nghệ đào tạo tiên tiến, đẩy mạnh công cuộc cải cách giáo
dục hướng tới các chuẩn mực quốc tế.
Phòng Phát triển con người khu vực Đông Á và Thái Bình Dương của Ngân
hàng Thế giới với Báo cáo “Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng”, tháng
6/2008 [107]. Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực giáo dục đại học trong mối
liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Rất nhiều nội dung quan trọng về chất
lượng của giáo dục đại học được luận giải, khảo sát và chứng minh. Đáng chú ý là
vấn đề hiệu quả đào tạo; chương trình học, phương pháp sư phạm; chất lượng đội
ngũ giảng dạy; năng lực nghiên cứu của đội ngũ giảng viên; sự hài lòng của sinh
viên; khả năng, mức độ cung cấp thỏa đáng các kỹ năng cần thiết của giáo dục đại
học Việt Nam cho nguồn nhân lực, cho gia tăng năng suất lao động và thúc đẩy
năng lực sáng tạo của người lao động trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao
11
từ thị trường trong nước, khu vực và quốc tế. Giá trị thực tiễn của Báo cáo còn thể
hiện ở những khuyến nghị đổi mới hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đến năm
2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu của Báo cáo có ý nghĩa quan
trọng đối với tác giả luận án trong việc kế thừa cách tiếp cận về chất lượng giáo dục
đại học thông qua những số liệu minh chứng về hiệu quả giảng dạy, nghiên cứu
quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010 - 2012 đã chỉ ra hạn chế trong chất lượng giáo
dục đại học và khẳng định sự cần thiết phải có giải pháp đổi mới quản lý toàn diện, có
tính đột phá để nâng cao được chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.
Nghị quyết nhấn mạnh, phải đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo
dục đại học…
Nguyễn Văn Sơn (2010), Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb CTQG, Hà Nội [125]. Cuốn sách đã làm
rõ tính đặc thù của đội ngũ trí thức giáo dục đại học trong tầng lớp trí thức Việt
Nam. Tác giả tập trung phân tích thực trạng về cơ cấu chất lượng đội ngũ trí thức
giáo dục đại học theo các phương thức hoạt động chủ yếu, theo nhóm ngành khoa
học lớn, theo sự phân bố vùng lãnh thổ, theo các trường và chủ thể quản lý, về trình
độ, phẩm chất, năng lực của đội ngũ. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm
xây dựng đội ngũ này cơ cấu hợp lý và chất lượng cao nhằm đáp ứng sự nghiệp
CNH, HĐH ở nước ta.
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2010), Kinh nghiệm một số nước về
phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí
thức, Nxb CTQG, Hà Nội [155]. Các tác giả đã phân tích chính sách phát triển giáo
dục và đào tạo, KH&CN với xây dựng đội ngũ trí thức của từng nước, từ đó rút ra
các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (tháng 7 năm
2011), Báo cáo tổng hợp Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-
2020 [18]. Báo cáo đã tập trung làm rõ các nội dung quan trọng sau: Một là, hiện
trạng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với những thành tựu cơ bản, những hạn
chế chủ yếu và nguyên nhân của nó. Hai là, phương hướng phát triển nguồn nhân
lực Việt Nam đến năm 2020 và những vấn đề đặt ra. Ba là, các giải pháp chủ yếu
thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Bốn là, tổ
chức thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020.
Trần Quốc Toản (2011), Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế [127]. Nội dung cuốn sách đã nghiên cứu và làm rõ bản
chất của giáo dục, hoạt động giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế; luận giải cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn sự tác động của cơ chế thị
giáo; đánh giá thực trạng của đội ngũ giảng viên đại học về số lượng, chất lượng, cơ
cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, khía cạnh thu nhập và vị thế của họ trong xã hội.
14
Đồng thời, tác giả phân tích sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy trong
việc xây dựng đội ngũ giảng viên đại học ở nước ta hiện nay.
Ban Tổ chức Trung ương, Đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Cơ sở lý
luận và thực tiễn của Chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, mã số ĐTĐL. 2010G/47 [3], Hội thảo khoa
học: Công tác nhân tài ở Việt Nam một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội,
tháng 8/2011 [4]. Công trình nghiên cứu này là tập hợp những bài viết nghiên cứu
khoa học đầy tâm huyết của các nhà khoa học, các nhà quản lý. Kỷ yếu hội thảo tập
trung làm rõ một số khái niệm cơ bản về nhân tài, nguồn nhân lực CLC, về tình
hình công tác nhân tài ở nước ta hiện nay, về định hướng và giải pháp đối với công
tác nhân tài ở Việt Nam trong thời gian tới.
1.1.1.3. Về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao
Đỗ Minh Cương (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [22]. Với quan điểm xem nhà giáo đại học là nhân tố quan
trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta,
tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức giáo dục đại học, đánh giá thực trạng nguồn
nhân lực giáo dục đại học, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng phát triển đội
ngũ này trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam, Nxb CTQG, Hà Nội [81]. Tác giả đi sâu bàn về phạm trù nguồn lực trí tuệ và
nội hàm của nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam; tầm quan trọng của việc phát huy nguồn
lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Tác giả làm rõ thực trạng của nguồn
lực trí tuệ Việt Nam (điểm mạnh, mặt hạn chế), từ đó đề xuất những giải pháp chủ
yếu để xây dựng nguồn lực trí tuệ Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Đây là công trình chuyên khảo, chuyên sâu về nguồn lực trí tuệ ở nước ta, là tài liệu
bổ ích để tác giả nghiên cứu cho các nội dung trong luận án của mình.
Phạm Thành Nghị, Vũ Hoàng Ngân (chủ biên) (2004), Quản lý nguồn nhân
Nam, trong đó nhấn mạnh đến giải pháp cải cách mạnh mẽ hệ thống giáo dục quốc
dân theo hướng hiện đại.
Viện CNXH khoa học (2010), Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài
khoa học cấp cơ sở năm 2010, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức [157]. Đề
tài đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức;
đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC và thực trạng
16
NNLCLC của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra. Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra
xu hướng phát triển NNLCLC, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn
lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt
Nam.
Nguyễn Văn Khánh (2012), Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - lịch sử, hiện trạng
và triển vọng [74]. Cuốn sách là công trình nghiên cứu công phu của tập thể các nhà
khoa học đầu ngành của Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, do GS.TS Nguyễn
Văn Khánh chủ biên. Cuốn sách tập trung vào việc đánh giá nguồn lực trí tuệ Việt
Nam trong suốt chiều dài lịch sử, phân tích quá trình xây dựng nguồn lực trí tuệ,
những yếu tố thúc đẩy, cản trở việc phát huy nguồn lực này. Cuốn sách đã trình bày
những vấn đề chung về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ; kinh nghiệm xây dựng và phát huy
nguồn lực trí tuệ của Việt Nam và một số nước trên thế giới; thực trạng nguồn lực
trí tuệ của Việt Nam trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; xây dựng và phát huy
nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước.
Đặng Hữu Toàn (2012), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao - một đột
phá chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2011 -
2020, Tạp chí Triết học, số 8 (255) [128]. Trong bài viết, tác giả nêu rõ: Phát triển
NNLCLC là định hướng mang tầm chiến lược; là khâu đột phá quyết định; là yếu tố
hàng đầu để đẩy nhanh sự phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; là lợi thế
cạnh tranh quan trọng nhất trong phát triển KT -XH nhanh và bền vững; là đột phá
chiến lược trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thực hiện tái cơ cấu lại nền
kinh tế đất nước.
sống còn của đất nước. Nguyên Thủ tướng Quốc Vụ viện nước Cộng hòa dân chủ
nhân dân Trung Hoa - Lý Bằng cũng đã từng nhấn mạnh chức năng đào tạo và xác
định vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong sự phát triển KT- XH của đất nước.
Ông cho rằng, ra sức phát triển giáo dục là con đường tất yếu để nâng cao trình độ
người lao động và chấn hưng nền kinh tế v.v
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về trí thức, vai trò của trí thức, nhiều
nhà khoa học quốc tế còn quan tâm nghiên cứu về vấn đề con người, nhân tài,
nguồn nhân lực, NNLCLC. Tiêu biểu như công trình của: Thẩm Vinh Hoa - Ngô
Quốc Diện (chủ biên) (1996), Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, kế sách trăm
năm chấn hưng đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội [61]. Đây là cuốn sách có ý nghĩa
18
tham khảo đối với Việt Nam trong công cuộc đổi mới. Nội dung cuốn sách nói về
tư tưởng nhân tài của Đặng Tiểu Bình - nhà lãnh đạo kiệt xuất của công cuộc cải
cách, mở cửa, xây dựng hiện đại hóa XHCN của Trung Quốc. Tư tưởng Đặng Tiểu
Bình về nhân tài là sự kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Mao
Trạch Đông, là bộ phận cấu thành kho tàng lí luận của Trung Quốc trên con đường
xây dựng CNXH.
1.1.2.2. Công trình nghiên cứu về giáo dục đại học
Để bắt kịp với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, xu hướng biến đổi mạnh mẽ của giáo dục đại học trên phạm vi toàn
thế giới, UNESCO đã tổ chức Hội nghị thế giới đầu tiên về giáo dục đại học
phục vụ hoạt động tập trung trí tuệ của nhân loại suy nghĩ về một nền giáo dục
cho thế kỷ XXI (tổ chức vào 10/1998 tại Paris), với khẩu hiệu “Highter
Education in the Twenty - first Century, Vision and Action” (Giáo dục đại học
thế kỷ XXI, Tầm nhìn - Hành động) [151]. Đây là công trình nghiên cứu quốc tế
quan trọng, các tác giả và những người nghiên cứu về giáo dục đại học thấy
được sứ mệnh cao cả của hệ thống giáo dục đại học nói chung và đội ngũ trí thức
giáo dục đại học nói riêng, đó là phải gìn giữ, củng cố và phát triển “sự nghiệp
trồng người” một cách có trách nhiệm.
Hội nghị đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về giáo dục đại học với nhận