Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học việt nam hiện nay - Pdf 14

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH
TRN TH LAN
chất lợng lao động của đội ngũ trí thức
giáo dục đại học ViệT NAM hiện nay
Chuyờn nganh : Ch ngha xó hi khoa hc
Ma sụ : 62 22 85 01
LUN AN TIấN S TRIấT HOC
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS hoàng chí bảo
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, tư liệu được sử dụng trong
luận án là trung thực, có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng.
Tác giả luận án
Trần Thị Lan
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
LUẬN ÁN
6
1.1. Những công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến luận án 6
1.2. Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến luận án 17
1.3. Những giá trị, hạn chế của các công trình nghiên cứu liên quan
đến luận án và những vấn đề luận án tiếp tục làm sáng tỏ 20
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG CỦA TRÍ
THỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
23
2.1. Quan niệm về trí thức, trí thức giáo dục đại học và lao động của
trí thức giáo dục đại học 23
2.2. Tính đặc thù của lao động trí thức giáo dục đại học Việt Nam

CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐH : Đại học
GDĐH : Giáo dục đại học
GS : Giáo sư
NCKH : Nghiên cứu khoa học
Nxb : Nhà xuất bản
PGS : Phó giáo sư
TB : Trung bình
Ths : Thạc sĩ
TS : Tiến sĩ
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Trang
Bảng 3.1: Đánh giá của sinh viên về chất lượng một số hoạt động
kiêm nhiệm của đội ngũ trí thức GDĐH 80
Bảng 3.2: Mức độ hài lòng của trí thức GDĐH đối với kết quả lao
động của bản thân 85
Bảng 3.3: Mức độ hài lòng của sinh viên về một số lĩnh vực hoạt
động của đội ngũ trí thức GDĐH 86
Bảng 3.4: Các kỹ năng và phẩm chất cá nhân, phẩm chất chính trị,
đạo đức và năng lực sinh viên đạt được trong thời gian học
tập tại trường đại học 89
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Trang
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu trình độ của đội ngũ trí thức giáo dục đại học
Việt Nam năm 2012 - 2013 71
Biểu đồ 3.2: Cơ cấu chức danh phân theo ngành của trí thức giáo dục
đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu biểu năm
2010 - 2011 101
Biểu đồ 3.3: Cơ cấu chức danh GS, PGS theo vùng, miền của trí thức
giáo dục đại học Việt Nam ở một số trường đại học tiêu

1
được đặt ra từ chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo đại học chưa đáp ứng tốt
yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế. Điều đó xa lạ với bản chất
lao động khoa học sư phạm sáng tạo và phẩm chất cao qúi của nhà giáo, nếu
không kịp thời khắc phục chắc chắn sẽ để lại “di chứng” cho nguồn lực con
người không chỉ hiện hữu ở thực tại mà còn trong tương lai.
Để vượt qua lực cản và thách thức này cần đến những giải pháp đồng
bộ, nhất là những giải pháp mang tính đột phá nhằm cải biến hiện trạng đã nêu.
Chính yêu cầu tìm kiếm chìa khoá cho sự phát triển nguồn nhân lực đã đưa vấn
đề chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH trở thành mối quan tâm
thường trực, hàng đầu của các chủ thể lãnh đạo, quản lý cũng như toàn xã hội
trong quá trình thực hiện cuộc cách mạng về giáo dục. Mặt khác, đó cũng là điều
kiện đảm bảo cho sự tồn tại, phát triển bền vững của cơ sở đào tạo đại học Việt
Nam trong bối cảnh cạnh tranh, hội nhập quốc tế, trước những kỳ vọng của xã
hội vào sự cách tân từ các chủ thể giáo dục, từ chương trình, phương pháp giáo
dục đại học mà mục đích cao nhất là cải biến chất lượng nguồn nhân lực được
đào tạo. Đây là đòi hỏi bức xúc của xã hội, là công việc khó khăn, phức tạp, tốn
kém nhiều công sức, thời gian, tâm lực, trí lực và tiền bạc.
Trên một bình diện cao hơn, thuộc về trách nhiệm, lương tâm xã hội,
quan tâm đến chất lượng lao động của trí thức GDĐH là chăm lo cho sự
nghiệp đào tạo nguồn lực trí tuệ của dân tộc. Để đảm bảo độ tin cậy cho chiến
lược phát triển, bền vững của quốc gia cần thiết phải tìm ra khâu đột phá từ
tiềm lực của con người trên cái giá đỡ vật chất của sự phát triển kinh tế. Cơ sở
để tạo nên nguồn lực trí tuệ không thể nằm ngoài GDĐH mà mấu chốt là ở
chất lượng lao động của đội ngũ trí thức nhà giáo.
Chỉ với cái nhìn biện chứng như vậy mới thấy hết tầm quan trọng và
tính bức thiết vì sao phải đổi mới GDĐH, bắt đầu từ những cải biến trong chất
lượng lao động của đội ngũ cán bộ quản lý cũng như các thế hệ giảng viên đại
học. Luận giải, khảo sát vấn đề này để tìm giải pháp phát triển không chỉ có ý
nghĩa lý luận mà còn góp phần thực hiện chủ trương kiểm định chất lượng các

GDĐH ở Việt Nam trong điều kiện của đổi mới, của đẩy mạnh CNH, HĐH
3
đất nước, với tác động của xu thế hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ
của kinh tế tri thức.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH có nội dung rất rộng.
Tuy nhiên, luận án chỉ giới hạn nghiên cứu trên ba phương diện chủ yếu:
giảng dạy; NCKH; quản lý giáo dục của đội ngũ trí thức GDĐH ở các trường
Đại học công lập của Việt Nam.
- Về thời gian, luận án khảo sát thực trạng chất lượng lao động của đội
ngũ trí thức GDĐH Việt Nam giai đoạn 2000 - 2013 và xây dựng giải pháp
nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ đó cho những năm tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức GDĐH; về vấn đề lao động
và động lực lao động nói chung.
Luận án còn kế thừa hợp lý những kết quả nghiên cứu có liên quan đến
luận án của các tác giả trong và ngoài nước.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đồng thời chú trọng sử dụng
phương pháp logic - lịch sử cùng các phương pháp có tính liên ngành như phân
tích, tổng hợp, điều tra xã hội học, so sánh, khái quát hoá.
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án nghiên cứu một cách hệ thống vấn đề chất lượng lao động của
trí thức GDĐH dưới góc độ triết học - chính trị - xã hội - giáo dục.
- Luận án xây dựng tiêu chí đánh giá đối với chất lượng lao động của
trí thức GDĐH trong hoạt động nghề nghiệp.

- GS, TS Phạm Tất Dong (chủ biên): “Định hướng phát triển đội ngũ trí
thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [42]. Công trình đã có
những luận giải xác đáng về vai trò của trí thức trong phát triển lực lượng sản
xuất, trong sáng tạo văn hóa, phát huy bản sắc dân tộc, trong lãnh đạo, quản lý
và điều hành sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Với thái độ tôn trọng trí thức,
GS, TS Phạm Tất Dong khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, “sản phẩm
lao động của trí thức là một loại hàng hóa đặc biệt, nó có thể mất đi hoặc bị
chiếm đoạt mà không ai biết, song nó cũng có thể được lưu thông và trả giá
xứng đáng như bao thứ hàng quý hiếm khác” [42, tr.330]. Đây chính là khởi
nguồn cho sự đổi mới tư duy khi xem tiền lương và các loại phụ cấp của trí
thức như những chính sách đầu tư có lợi nhất để mua lại “chất xám” - một
loại sản phẩm đặc biệt trong nền kinh tế thị trường.
- TS Nguyễn Đắc Hưng: “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển
đất nước” [72] và “Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại” [73]. Hai cuốn
sách làm rõ quan niệm về trí thức; vị trí, vai trò của trí thức; những phương
hướng chủ yếu để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta đáp ứng
6
yêu cầu của thời đại. Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệm
trí thức, tác giả đã chỉ rõ: trí thức là những người không chỉ có trình độ học
vấn cao mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính
sáng tạo, có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xã
hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [72, tr.16-17]. Đây
là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được
đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự
kiểm định khách quan của xã hội.
- PGS, TS Nguyễn An Ninh: “Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học
xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước” [109]. Từ những kiến
giải về tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện
nay, tác giả đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng của
đội ngũ này góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.

về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, đề tài đi sâu phân tích, kiến nghị
những giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳ
đổi mới toàn diện đất nước. Đề tài đã làm rõ thêm nội hàm của khái niệm trí
thức trên bình diện rộng. Không những chỉ ra tính chất lao động trí óc cùng
với những yêu cầu về sự hiểu biết, trình độ, khát vọng dân chủ, công bằng, tự
do và kết quả sáng tạo trong việc truyền bá, phổ biến, ứng dụng vào đời sống
xã hội của trí thức, các tác giả đề tài còn xác định rõ thiên chức, phẩm chất,
tính cách của người trí thức Việt Nam.
Ba là, các luận án nghiên cứu về trí thức đã bảo vệ thành công trong
những năm gần đây:
- PGS, TS Phan Thanh Khôi: “Động lực của trí thức trong lao động sáng
tạo ở nước ta hiện nay” [77]. Trên cơ sở nhận diện lực lượng trí thức với tư cách
là “tầng lớp xã hội đặc biệt”, tác giả luận giải tính chất lao động của người trí
thức đồng thời cũng tập trung làm rõ động lực lao động sáng tạo và những giải
pháp chủ yếu phát huy vai trò của đội ngũ trí thức ở nước ta hiện nay.
- PGS, TS Đỗ Thị Thạch: “Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi
mới hiện nay - tiềm năng và phương hướng xây dựng” [133]. Đây là công
8
trình nghiên cứu chuyên sâu về lực lượng trí thức nữ. Tác giả đã có những
đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn khi kiến giải tiềm năng cũng như vai
trò to lớn của lực lượng trí thức nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đời
sống xã hội. Xuất phát từ thái độ tôn trọng, tin cậy vào khả năng đóng góp
của lực lượng này, tác giả đã đề xuất những phương hướng cơ bản nhằm phát
huy tiềm năng, vai trò của lực lượng trí thức nữ trong sự nghiệp cách mạng
nước ta, đặc biệt là trong quá trình đổi mới toàn diện của đất nước.
- TS Nguyễn Công Trí: “Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri
thức” [146]. Từ cách tiếp cận tổng hợp, luận án chỉ ra những đặc trưng, tiêu
chí cơ bản để xác định trí thức, vai trò của đội ngũ này trong điều kiện phát
triển kinh tế tri thức. Luận án xác định, trí thức là người lao động trí óc và
thường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo. Tuy nhiên, “giá trị

1.1.2. Những công trình nghiên cứu về trí thức giáo dục đại học,
đặc điểm và chất lượng lao động của trí thức giáo dục đại học
Một là, những công trình nghiên cứu khái quát về trí thức GDĐH:
Thông qua việc làm sáng tỏ khái niệm, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ nhà giáo; khảo sát thực trạng cơ cấu, chất lượng của trí thức GDĐH, nhiều
công trình nghiên cứu đã đề xuất giải pháp để xây dựng, phát triển đội ngũ
này ở bậc đại học. Có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau:
- TS Phạm Văn Thanh: “Xây dựng đội ngũ trí thức khoa học Mác -
Lênin trong các trường đại học ở nước ta hiện nay” [131]. Tác giả chỉ rõ, đội
ngũ giảng viên giảng dạy lý luận Mác - Lênin ở Việt Nam vừa là nhà giáo
dục, vừa là nhà khoa học, vừa là nhà chính trị. Vai trò của đội ngũ đó được
tác giả đề cập và phân tích ở nhiều bình diện từ chức năng đào tạo cán bộ,
phát triển lực lượng trí thức mới cho đất nước đến việc đảm trách nhiệm vụ
NCKH và tham gia các công tác khác ở hệ thống những trường đại học, cao
đẳng thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Trên cơ sở đánh giá thực trạng và xu
hướng biến đổi của đội ngũ trí thức khoa học Mác - Lênin ở nước ta, tác giả
đã đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm xây dựng đội ngũ này thành lực
lượng lớn mạnh, đóng góp ngày càng nhiều trí tuệ cho sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.
10
- TS Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doan“Phát triển nguồn nhân lực
giáo dục đại học Việt Nam” [38]. Với quan điểm xem nhà giáo đại học là
nhân tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất đến chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực ở nước ta, tác giả đã đi sâu phân tích vai trò của trí thức
GDĐH, qua đó luận chứng một số giải pháp xây dựng, phát triển nguồn nhân
lực GDĐH trước yêu cầu hội nhập quốc tế.
- PGS, TS Nguyễn Văn Sơn: “Trí thức Giáo dục Đại học Việt Nam thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [126]. Theo tác giả, đội ngũ trí
thức GDĐH Việt Nam có một số đặc điểm cơ bản: là lực lượng trực tiếp tham
gia vào quá trình đào tạo ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân;

- Ngoài những công trình nêu trên, có thể kể đến một số bài nghiên cứu
của các học giả đăng trên tạp chí, kỷ yếu hội thảo, tiêu biểu như: Nguyễn Văn
Duệ: “Đội ngũ cán bộ giảng dạy đại học - thực trạng và kiến nghị” [43];
Nguyễn Duy Yên: “Đổi mới giáo dục trước hết phải đổi mới từ những người
làm giáo dục” [176]; Đinh Thị Minh Tuyết: “Xây dựng và phát triển đội ngũ
giảng viên đại học” [153]. Nhìn chung, các tác giả nêu trên đều có chung
quan điểm khi xem nhà giáo ở bậc đại học là lực lượng nòng cốt xây dựng
cho sinh viên thế giới quan, nhân sinh quan tiến bộ, trang bị tri thức và
phương pháp tư duy khoa học, khả năng làm việc độc lập, sáng tạo cho người
học. Các tác giả nhận định, để nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo cần tập
trung đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng chuẩn
hoá và hiện đại hoá; việc bố trí, sử dụng nhà giáo phải hợp lý, coi trọng năng
lực sáng tạo thực sự về chuyên môn nghiệp vụ đồng thời phải tạo lập hệ thống
động lực cho đội ngũ nhà giáo.
Hai là, những công trình nghiên cứu bước đầu bàn luận trực tiếp về
đặc điểm lao động của trí thức GDĐH:
- Tác giả Đỗ Văn Phức với bài viết “Đặc điểm lao động của giáo viên
đại học và dạy nghề” [117] chủ yếu nhấn mạnh đến các đặc điểm về tính chất
lao động và những đặc thù nghề nghiệp của trí thức GDĐH. Tác giả nhận
định, lao động của đội ngũ giảng viên là loại lao động sáng tạo, lao động trí
óc, có cả một số yếu tố độc hại và những căng thẳng đặc thù.
12
- Xác định tính chất lao động của trí thức GDĐH, PGS, TS Nguyễn Thị
Mỹ Lộc và TS Đặng Xuân Hải với chuyên đề “Người dạy ở bậc đại học và
giao tiếp sư phạm”, “Phương pháp dạy học ở bậc đại học” trong tài liệu bồi
dưỡng “Giáo dục học đại học” đã đưa ra quan niệm: “Ở đại học, sự sáng tạo
sư phạm đi liền với sự sáng tạo khoa học” [53, tr.217]. Do đó, hoạt động
giảng dạy đại học được thực hiện bởi những người gắn bó với NCKH. Ngoài
những phẩm chất và năng lực của các chuyên gia, họ phải có hai phẩm chất
năng lực có ý nghĩa nhất đối với lao động chuyên môn là năng lực sư phạm

xã hội và quốc gia. Những sản phẩm như vậy được gọi là loại hàng hoá có
ngoại biên thuận” [31, tr.22].
- TS Ngô Văn Hà: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy và việc xây
dựng đội ngũ giảng viên đại học hiện nay” [66]. Trên cơ sở phân tích nội
dung tư tưởng Hồ Chí Minh về người thầy giáo, tác giả đã nêu lên một số
luận đề về đặc điểm lao động của giảng viên: công tác giảng dạy là loại lao
động đặc thù; “người giảng viên đại học phải kết hợp trong bản thân mình
những phẩm chất năng lực của một nhà khoa học và một nhà giáo dục - dạy
học; nhiệm vụ của họ không chỉ là đào tạo nhân lực có trình độ cao cho đất
nước mà còn là chỗ dựa về khoa học cho các viện nghiên cứu và các cơ sở sản
xuất kinh doanh” [66, tr.158]. Đạo đức cách mạng của người giảng viên là sự
say mê với công việc giảng dạy, nghiên cứu, trung thực trong khoa học, tìm
tòi sáng tạo, có khát vọng chinh phục đỉnh cao của tri thức.
Ba là, những công trình nghiên cứu bước đầu đề cập đến chất lượng
lao động của trí thức GDĐH:
- Năm 2006, GS, TS Nguyễn Đức Chính và PGS, TS Nguyễn Phương
Nga đã nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt
động giảng dạy đại học và NCKH của giảng viên trong Đại học Quốc gia”
[37]. Giá trị thực tiễn của đề tài thể hiện ở những khuyến nghị đổi mới các
tiêu chí đánh giá hoạt động giảng dạy và NCKH của giảng viên có tính đến xu
thế hội nhập toàn cầu trong GDĐH. Đây là nghiên cứu về lĩnh vực đo lường
và đánh giá hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ nhà giáo do
các chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục thực hiện nên kết quả nghiên cứu có
14
ý nghĩa quan trọng trong việc gợi mở cách tiếp cận theo hướng đánh giá tổng
thể chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH cho tác giả luận án.
- Năm 2008, Phòng Phát triển con người Khu vực Đông Á và Thái Bình
Dương của Ngân hàng thế giới đã công bố Báo cáo“GDĐH và kỹ năng cho
tăng trưởng” [113]. Báo cáo tập trung nghiên cứu lĩnh vực GDĐH trong mối
liên hệ với trị trường lao động ở Việt Nam. Nhiều nội dung quan trọng về chất

những tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động chuyên môn của trí thức
GDĐH, trong đó đặc biệt chú ý tới dấu hiệu về khả năng và mức độ thỏa mãn,
đáp ứng yêu cầu công việc của trí thức nhà giáo.
- Phan Văn Kha: “Ứng dụng mô hình quản lý chất lượng ISO 9000
trong quản lý đào tạo sau đại học ở Việt Nam”. Bài viết được trình bày trong
cuốn sách “Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI - kinh nghiệm
của các quốc gia” [76]. Thông qua việc nghiên cứu những quan niệm khác
nhau về chất lượng trong các lĩnh vực, tác giả đã đưa ra quan niệm về chất
lượng GDĐH là sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và được đánh giá qua
mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn.
- Tiếp cận và phản ánh vấn đề chất lượng GDĐH còn có thể kể đến bài
viết “Hệ thống đảm bảo chất lượng trong trường đại học theo quan điểm của
mạng lưới các trường đại học khu vực Đông Nam Á” của Tạ Thị Thu Hiền
[70]. Tác giả trực tiếp bàn luận đến qui trình đánh giá, tiêu chí kiểm định chất
lượng đào tạo của các trường đại học, trong đó nhấn mạnh đến lĩnh vực giảng
dạy chuyên môn, NCKH, quản lý đào tạo của giảng viên, chất lượng của yếu tố
đầu vào - sinh viên và chất lượng yếu tố đầu ra - nguồn nhân lực được đào tạo.
- Lê Hữu Ái, Lâm Bá Hòa: “Giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay -
Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng” [3]. Trong bài viết, hai tác giả
đã tập trung phân tích những bất cập, yếu kém của GDĐH ở nước ta hiện nay,
đặc biệt là khía cạnh chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Trên cơ sở đó, bài
viết luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò của GDĐH trong phát
triển kinh tế ở nước ta hiện nay.
- Phạm Ngọc Trung: “Chất lượng giáo dục trong các trường đại học ở
nước ta hiện nay” [147]. Với quan niệm, chất lượng GDĐH là “tổng thể hệ
16
thống của trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, khả năng hội nhập và
việc làm ổn định của sinh viên khi tốt nghiệp” [147, tr.38], tác giả đã phân
tích những nhân tố tác động đến chất lượng giáo dục trong các trường đại học
ở nước ta hiện nay, đó là đội ngũ nhà giáo, người học, cơ sở vật chất kỹ thuật

phạm và nhà khoa học. Từ lập luận của J.Vial, có thể xem đây là đặc thù lao
động ở bình diện chức năng, nhiệm vụ nghề nghiệp của trí thức GDĐH.
- J.A Centra với các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: “Tự đánh giá
của giảng viên đại học: Một so sánh với đánh giá của sinh viên” [32]; Xác
định hiệu quả công tác của giáo viên [33]. J.A Centra cho rằng, bất cứ người
giảng viên nào cũng cần thực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu
như giảng dạy, NCKH, dịch vụ chuyên môn phục vụ cộng đồng. Vì vậy, cần
tập trung đánh giá chất lượng hay hiệu quả công tác của nhà giáo đại học theo
ba lĩnh vực hoạt động chính đã nêu.
- Ph.N.Gônôbôlin: “Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên” [65].
Khi bàn về tính đặc thù của công tác dạy học, tác giả cho rằng, hai mặt cơ bản
trong hoạt động sư phạm là “giảng dạy và giáo dục. Hai mặt hoạt động sư
phạm này liên hệ chặt chẽ với nhau, thâm nhập vào nhau và là một quá trình
thống nhất. Điều được tác giả nhấn mạnh là sự thay đổi vai trò, nhiệm vụ của
nhà giáo trong thời đại mới gắn liền với sự bùng nổ tri thức: “nhà giáo không
phải là người phán truyền chân lý mà là người lãnh đạo và tổ chức khéo léo
công việc của học sinh ở trên lớp” [65, tr.76]. Để đáp ứng sự biến đổi ấy, bản
thân mỗi nhà giáo phải phát huy tính tích cực giảng dạy như một thuộc tính
quan trọng. Xác định những phẩm chất tâm lý của người giáo viên, tác giả đã
chú ý đặc biệt tới dấu hiệu về khả năng sáng tạo. Đó là đặc trưng phổ biến của
lao động sư phạm mà nếu thiếu nó, giảng dạy chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến
thức một chiều, rất dễ sa vào rập khuôn, máy móc và nhàm chán.
- Franz Emanuel Weinert trong tác phẩm “Sự phát triển nhận thức học
tập và giảng dạy” [164] đã tập trung luận giải các đặc điểm của người giảng
viên tích cực. Nội dung quan trọng trong tác phẩm của Franz Emanuel
Weinert là việc xác định tiêu chí của một trí thức nhà giáo với hoạt động
chuyên môn giỏi. Theo tác giả, đó là người “thể hiện hành động sư phạm
18
được đặc trưng bởi chất lượng khác nhau hướng vào việc định hướng, điều
khiển và hỗ trợ các học sinh theo mục tiêu” [163, tr.537]. Thông qua tác

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC
LÀM SÁNG TỎ
Có thể nói, một khối lượng tri thức phong phú với nhiều công trình
nghiên cứu công phu về trí thức cho thấy sức hấp dẫn hay tính đặc biệt quan
trọng của vấn đề này đối với sự phát triển của xã hội. Giá trị khoa học của một
khối lượng lớn những tài liệu, công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về trí
thức, trí thức GDĐH đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả luận án nghiên cứu
chất lượng lao động của đội ngũ trí thức GDĐH ở nước ta hiện nay.
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án, tác giả
xin đưa ra những đánh giá khái quát như sau:
Một là, các công trình nghiên cứu đã vạch ra một hệ thống các phương
pháp tiếp cận về trí thức và đội ngũ trí thức GDĐH. Đáng chú ý là những
quan điểm xem trí thức như một lực lượng xã hội, một nhóm xã hội - nghề
nghiệp được nhận diện và phân định bởi phương thức, tính chất lao động trí
óc, sáng tạo và phức tạp. Trong những năm gần đây, các công trình nghiên
cứu khi quan niệm về trí thức thường chú trọng nhấn mạnh tiêu chí trách
nhiệm và hiệu quả đóng góp cho sự phát triển xã hội từ hoạt động chuyên
môn đặc thù của từng chủ thể trí thức trong cơ cấu nghề nghiệp. Đây chính là
sự bổ sung vào cách tiếp cận mới về trí thức, nó được thai nghén và dần trở
thành hướng nghiên cứu trọng tâm trong quá trình đổi mới tư duy, nhất là
trong bối cảnh phát triển kinh tế tri thức.
Hai là, những nghiên cứu lý luận về trí thức, trí thức giáo dục, trí thức
GDĐH là khá phong phú nhưng nghiên cứu về chất lượng lao động của trí
thức, trí thức GDĐH còn ít. Chưa có công trình nghiên cứu chuyên khảo hay
các đề án, chương trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cũng chưa có luận
án, luận văn nào trực tiếp đi sâu luận giải một cách có hệ thống về vấn đề này.
Ba là, dưới các góc độ, bình diện, phạm vi nghiên cứu khác nhau,
những công trình nghiên cứu liên quan đến luận án đã giải quyết được một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về trí thức GDĐH. Ở chừng mực nhất định đã đề
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status