MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Văn hóa đọc là một yếu tố cơ bản quyết định hiệu quả của quá trình tự
học, trong đó sách là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất để con người
quyết định đến nguồn thông tin, văn hóa tri thức, đồng thời khối lượng kiến
thức thu thập được từ việc đọc sách chính là một thước đo đánh giá tầm vóc
tri thức của mỗi người. Trước khi có các phương tiện nghe nhìn (truyền
hình, phim ảnh, internet…), sách là phương tiện cơ bản và hữu hiệu nhất để
con người tiếp cận với nguồn thông tin, văn hóa và tri thức. Mỗi cuốn sách
là một bậc thang nhỏ đưa con người đến với những chân trời mới và những
khám phá mới giúp con người tiến bộ và hoàn thiện hơn trong cuộc sống.
Ngày nay, cùng với sự phát triển đời sống kinh tế - xã hội cũng như yêu cầu
ngày càng cao về trình độ tri thức của nhân loại, nhu cầu đọc sách và văn
hóa đọc đang trở thành vấn đề được nhiều quốc gia, nhiều tổ chức quan tâm
và đặt lên hàng đầu, đặc biệt là trong thời đại văn hóa nghe nhìn ngày càng
tỏ ra hấp dẫn và có ưu thế hơn đang lấn át văn hóa đọc. Điều này đặt ra yêu
cầu cần thiết phải tiến hành giải quyết vấn đề duy trì vai trò truyền thống của
sách và đọc sách đồng thời nâng cao hiệu quả của quá trình cải biến, xây
dựng văn hóa đọc theo hướng hiện đại.
Cùng với quá tình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và xu thế
toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, vấn đề đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao ngày càng trở nên cấp thiết, đặc biệt trong hoàn cảnh chất lượng nguồn
nhân lực của nước ta còn nhiều hạn chế. Quá trình đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao phải được tiến hành dựa trên sự phối kết hợp đồng bộ của
nhiều yếu tố và đòi hỏi cung cấp một hệ thống cơ sở vật chất, tri thức, khoa
1
học thường xuyên đổi mới. Trong đó, hệ thống thư viện được xem như
phương tiện gần gũi, trực tiếp nhất để con người tiếp cận những kiến thức
khoa học một cách nhanh chóng và hiệu quả. Để đáp ứng được yêu cầu thực
tiễn khách quan đó, hệ thống thư viện, đặc biệt là thư viện phục vụ trực tiếp
cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cần phải được tổ chức
chung trên cơ sở tìm hiểu tổng quát quy định về quản lý nhà nước về thư
viện. Đồng thời, tìm hiểu thực tế việc tình hình thực hiện quản lý nhà nước
đối với một số thư viện phục vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao như thư viện Quốc gia, thư viện một sô trường đại học trên địa
bàn thành phố Hà Nội.
IV – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Với mục đích tìm kiếm, khảo sát những thông tin xác thực, toàn diện và
khoa học, trong quá trình nghiên cứu đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn theo mẫu
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu
- Phương pháp điều tra xã hội học
3
- Phương pháp hệ thống hoá, phân tích, tổng hợp tài liệu lưu trữ.
4
NỘI DUNG
Chương 1: Khái quát chung về QLNN đối với hệ thống thư viện phục
vụ cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
1. Một số vấn đề chung về quản lý nhà nước
1.1. Quản lý
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức, điều hành các hoạt
động có mục đích, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý
nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật
khách quan.
1.2. Quản lý nhà nước
- Theo quan điểm lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà nước xét về bản
chất, là một hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, tồn tại dựa trên một cơ sở
kinh tế nhất định; là công cụ để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai
cấp khác, là một tổ chức quyền lực đặc biệt, có bộ máy chuyên trách để cưỡng
cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế,
văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Thư viện có các nhiệm vụ sau đây:
+ Đáp ứng yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi cho người đọc trong việc sử
dụng vốn tài liệu thư viện và tham gia các hoạt động do thư viện tổ chức.
+ Thu thập, bổ sung và xử lý nghiệp vụ vốn tài liệu; bảo quản vốn tài liệu
và thanh lọc ra khỏi kho các tài liệu lạc hậu, hư nát theo quy chế của thư viện.
+ Tổ chức thông tin, tuyên truyền vốn tài liệu thư viện, tham gia xây dựng
và hình thành thói quen đọc sách, báo trong nhân dân.
+ Xử lý thông tin, biên soạn các ấn phẩm thông tin khoa học.
+ Thực hiện sự liên thông giữa các thư viện trong nước; trao đổi tài liệu với
thư viện nước ngoài theo quy định của Chính phủ.
6
+ Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến vào
công tác thư viện, từng bước hiện đại hóa thư viện.
+ Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho người làm công tác thư
viện.
+ Bảo quản cơ sở vật chất, kỹ thuật và tài sản khác của thư viện.
2.2. Quản lý nhà nước đối với thư viện
Quản lý nhà nước về thư viện là sự tác động có chủ đích, có định hướng của
nhà nước đối với toàn bộ hoạt động liên quan đến công tác thư viện bằng quyền
lực của nhà nước, thông qua pháp luật, chính sách, công cụ, môi trường, lực
lượng vật chất và tài chính trên tất cả các mặt hoạt động của công tác thư viện
nhằm đạt mục tiêu của nhà nước.
Hoạt động thư viện được đặt dưới sự quản lý thống nhất của Nhà nước;
chủ động dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp của
các loại hình thư viện trong mối liên kết chặt chẽ, thúc đẩy nhau cùng phát
triển.
2.2.1. Về quản lý nhà nước đối với thư viện, Pháp lệnh thư viện quy
- Ưu tiên giải quyết đất xây dựng thư viện.
- Hỗ trợ, giúp đỡ việc bảo quản các bộ sưu tập tài liệu có giá trị đặc biệt
về lịch sử, văn hóa, khoa học của cá nhân, gia đình.
2.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về thư viện bao gồm:
- Xây dựng, chỉ đạo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các loại hình
thư viện.
- Ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thư
viện.
- Đào tạo, bồi duỡng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, chuyên môn,
nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm công tác thư viện.
8
- Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa
học và công nghệ trong lĩnh vực thư viện.
- Tổ chức đăng ký hoạt động thư viện.
- Hợp tác quốc tế về thư viện.
- Tổ chức, chỉ đạo công tác thi đua khen thưởng trong hoạt động thư
viện.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về thư viện; giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm pháp luật về thư viện.
1.1. Một số văn bản quy phạm pháp luật về công tác thư viện
- Sắc lệnh lưu chiểu năm 1946 của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng
hòa.
- Sắc lệnh số 18 ngày 31 tháng giêng năm 1946 đặt thể lệ lưu chiểu
văn hóa phẩm trong nước Việt Nam.
- Quyết định của Bộ trưởng Bộ Lao Động số 120/LĐ-QĐ ngày 6
tháng 6 năm 1985 ban hành bản danh mục số 1 các chức danh đầy đủ
viên chức Bộ Văn hóa và chuyên ngành báo chí xuất bản; biểu diễn nghệ
thuật; thư viện.
- Thông tư liên bộ 97 ngày 15 tháng 6 năm 1990 của Bộ VHTT và Bộ
Tài chính về chính sách đầu tư của nhà nước đối với thư viện công cộng.
Thông tin ngày 22 tháng 8 năm 2003 về việc Quy định mức kinh phí mua
sách lý luận, chính trị của hệ thống thư viện.
- Thông tư số 56/2003/TT-BVHTT của Bộ văn hóa thông tin ngày
16/9/2003 về hướng dẫn chi tiết về điều kiện thành lập thư viện và thủ
tục đăng ký hoạt động thư viện.
- Luật xuất bản số 30/2004/QH11 của Quốc hội ngày 03 tháng 12
năm 2004.
- Quyết định số 16/2005/QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa - Thông tin
ngày 04 tháng 5 năm 2005 ban hành Quy chế mẫu Tổ chức và hoạt động
của thư viện Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
10
- Quyết định số 49/2006/QĐ-BVHTT của Bộ trưởng Bộ Văn hóa
Thông tin ngày 05 tháng 5 năm 2006 ban hành quy chế mẫu về tổ chức
và hoạt động của thư viện Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố trực thuộc
Tỉnh.
- Thông tư liên tịch số 46/2006/TTLT/BVHTT-BTC của Bộ Văn hóa–
Thông tin và Bộ tài chính ngày 25 tháng 4 năm 2006 về hướng dẫn thực
hiện chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa.
- Thông tư liên tịch số 02/2006/TTLT-BTP-BCA-BQP-BGD&ĐT-
BLĐ-TB&XH-TLĐLĐVN của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Bộ GD&ĐT, Bộ LĐ-TB&XH và Tổng Liên đoàn lao động Việt
Nam ngày 07 tháng 6 năm 2006 về hướng dẫn việc xây dựng, quản lý,
khai thác Tủ sách pháp luật ở cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, trường
học...
- Quyết định số 10/2007/QĐ - BVHTT của Bộ văn hóa thông tin
ngày 04 tháng 05 năm 2007 phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thư
viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ văn hóa,
thể thao và du lịch ngày 10 tháng 03 năm 2008 về việc ban hành Quy chế
mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học
- Hệ thống thư viện phải góp phần nâng cao về trình độ dân trí; mở
rộng hiểu biết, tìm tòi nghiên cứu và kích thích khả năng sáng tạo trong
hoạt động thực tiễn; hình thành tinh thần tự giác, ham muốn học hỏi, trau
dồi kiến thức, rèn luyện kỹ năng và không ngừng nâng cao trình độ; bồi
12
dưỡng khả năng thích ứng và tính linh hoạt cao cho người học tập,
nghiên cứu, lao động khi vận dụng những tri thức cơ bản vào giải quyết
các đòi hỏi của thực tiễn, ứng dụng linh hoạt lý thuyết vào thực hành và
nâng cao khả năng làm chủ của con người trong cuộc sống vốn luôn có
nhiêu biến đổi.
- Hệ thống thư viện phải tự mình khẳng định được vị trí quan trọng
của mình trong quá trình nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài thông quá việc cải tiến chất lượng phục vụ và mở rộng quy mô
hoạt động với nhiều phương thức khác nhau. Từ đó góp phần tác động
đến việc thay đổi nhận thức của xã hội, của chính quyền các cấp, của các
cơ quan về vai trò của thư viện trong thời kỳ mới đặc biệt coi trọng vị trí
của thư viện và đầu tư cho hoạt động của thư viện trong phục vụ công tác
đào tạo nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm làm cho thư
viện trở thành nhân tố tích cực và trực tiếp góp phần vào quá trình đào
tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao.
- Hình thành mạng lưới thư viện rộng khắp với hai loại hình thư
viện cơ bản là thư viện công cộng và thư viện đa ngành, chuyên ngành có
khả năng đáp ứng mọi nhu cầu đọc và thông tin của mọi độc giả. Mạng
lưới thư viện phải tạo ra được sự đào tạo, bồi dưỡng, trau dồi kiến thức
không chỉ đối với đội ngũ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư
mà cả đối với đội ngũ công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ trung cấp, kỹ
sư… nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội và sự phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Cụ thể:
+ Đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có hệ thống các thông tin cho
nghiên cứu và học tập; tham gia góp phần nâng cao trình độ tiếp nhận,
thức: Chính quy, tại chức, đào tạo lại ở nhiều cấp độ khác nhau: thạc sỹ,
cử nhân, trung cấp.
- Công tác xã hội hoá hoạt động thư viện được đẩy mạnh và phát huy
hơn nữa hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thư viện. Hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực thư viện trên cơ sở tranh thủ tối đa các nguồn lực
ngoài nước, đồng thời huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội
trong việc xây dựng và phát triển ngành thư viện Việt Nam phù hợp trong
bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế và yêu cầu ngày càng cao của
đời sống kinh tế - xã hội.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐi VỚI HỆ THỐNG THƯ
VIỆN PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO QUA THỰC TẾ TẠI THƯ VIỆN QUỐC GIA VÀ MỘT SỐ
THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thư viện quốc gia Việt Nam cũng như thư viện của các trường đại học trên
địa bàn Hà Nội đều là một bộ phận của hệ thống thư viện trong cả nước, có
chức năng, nhiệm vụ chung là: Đảm bảo việc thu thập, lưu trữ và phổ biến,
cung cấp thông tin văn hóa – khoa học – xã hội, cũng như hỗ trợ khai thác hiệu
quả những nguồn thông tin phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập và nghiên
cứu khoa học của người đọc. Với vai trò, chức năng đó, hệ thống thư viện này
góp phần cơ bản và tích cực vào quá trình cũng cấp nguồn thông tin, tri thức
cho toàn bộ dân cư trên địa bàn Hà Nội nói riêng và cả nước nói chung trong
hoạt động tra cứu, tìm hiểu, học tập, nghiên cứu, giảng dạy… đặc biệt là trong
quá trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Trong những năm qua, cùng
với quá trình đổi mới đất nước, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động trên tất
15
cả các lĩnh vực và quá trình nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo, hoạt động
của Thư viện quốc gia và thư viện các trường đại học đã có những thay đổi
đáng kể, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao trình độ dân trí và làm phong
phú sự hiểu biết trong toàn dân, góp phần vào nỗ lực chung của toàn xã hội
MUA TRAO
ĐỔI
BIẾU
TẶNG
TỔNG
CỘNG
A SÁCH, TÀI LIỆU ĐẶC BIỆT (TRANH, BẢN ĐỒ,...), LUẬN ÁN
TIẾNG
VIỆT
19.199
TÊN
86.209
BẢN
452
TÊN
2.913
BẢN
19.651
TÊN
89.122
BẢN
NGOẠI
VĂN
3 TÊN 945
TÊN
3.029
TÊN
3.977 TÊN
B
BÁO, TẠP CHÍ, BẢN TIN
+ Sách Nga: 267.819 cuốn
+ Sách Pháp: 45.065 cuốn
+ Tranh: 2.999 cuốn
17