MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử phát triển các nền văn minh đã minh chứng rằng: “Trong
mọi thời đại tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là
lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức”. Trong một quốc gia
dân tộc, nguồn lực con người, nguồn lực trí tuệ là yếu tố thúc đẩy sáng
tạo, là nền tảng tiến bộ xã hội, là sức mạnh nội sinh tạo nên sự phồn
thịnh của đất nước.
Thực tế trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam,
việc chọn người hiền tài đã luôn được cha ông ta chú trọng. Trên bia tiến
sĩ khoa Nhâm Tuất (1442) đặt tại Văn miếu - Quốc Tử Giám, Thân Nhân
Trung viết: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế
nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy yếu thì thế nước yếu mà thấp
hèn. Vì thế các bậc đế vương thanh minh, không đời nào không coi việc
giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công
việc cần thiết”. Từ thực tiễn bao đời, ông cha ta đã đúc rút ra thành chân
lý cho mọi thời đại: “Phi nông bất ổn, phi công bất hoạt, phi thương bất
phú, phi trí bất hưng”, hay: “ Tôn tộc đại quy, tôn lộc đại nguy, tôn tài đại
thịnh, tôn nịnh đại nguy”.
Trong giai đoạn hiện nay, khi các nước phát triển đã hoàn thành hai cuộc
cách mạng công nghiệp và đang thực hiện cuộc cách mạng khoa học - công
nghệ hiện đại thì nước ta mới bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước. Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và vận hội
lớn, đồng thời phải đương đầu với những khó khăn, thử thách rất quyết liệt
để giải quyết mâu thuẫn lớn nhất ở nước ta hiện nay là phải dốc sức vào việc
phát triển lực lượng sản xuất bằng cách đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa với tình trạng kinh tế còn nghèo nàn, kém phát triển. Để
đạt được “Mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ
bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi
hỏi phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao
nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng
và đời sống, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và là động lực thúc đẩy
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đưa Hà Tĩnh sớm trở thành tỉnh có công
nghiệp và dịch vụ phát triển như nghị quyết của Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII
đã đề ra và góp phần làm cho tình hình Hà Tĩnh “nổi bật lên” như lời Bác
Hồ đã căn dặn. Làm sao để phát huy nguồn lực trí tuệ của tỉnh, làm sao để
xây dựng được đội ngũ trí thức hùng mạnh làm nòng cốt trong sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà, đưa Hà Tĩnh ngày càng phát triển tương
xứng với tiềm năng vốn có của mình đang là vấn đề cần sự quan tâm kịp
thời và cấp thiết, là hòn đá tảng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững ở
Hà Tĩnh.
Vì những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển đội ngũ trí thức ở Hà
Tĩnh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” làm luận văn
thạc sĩ triết học của mình.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2
Trí thức là một đề tài đã và đang thu hút các nhà khoa học, lý luận, các
học giả ở trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cho đến nay, ở nước
ta đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đội ngũ trí thức với
nhiều khía cạnh, quy mô khác nhau. Trong đó có một số công trình mà tác
giả luận văn cần tham khảo và kế thừa là: “Vấn đề trí thức và cách mạng”
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb Sự thật, 1973; “Trí thức Việt Nam thời
xưa” của giáo sư Vũ Khiêu, Nxb Thuận Hóa; “Trí thức Việt Nam trong sự
nghiệp đổi mới xây dựng đất nước” của Đỗ Mười, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1995; “Một số vấn đề về trí thức Việt Nam” của Nguyễn Thanh
Tuấn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 đã giải quyết được các vấn
đề về mối quan hệ giữa trí thức và tiến bộ xã hội, sự phát triển của trí thức
qua các chặng đường lịch sử và xu hướng phát triển của đội ngũ trí thức
Việt Nam hiện nay. “Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm
năm chấn hưng đất nước” của tác giả Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diệu,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996; “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu
quan điểm của Lênin về trí thức', Tạp chí Thông tin khoa học xã hội, số 4 năm
1996; “Bài học từ những quan điểm của Hồ Chí Minh về trí thức”, Tạp chí
Lịch sử Đảng, số 2 năm 2001; “Trí thức trong khối liên minh công - nông - trí
vì sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, tháng 11 năm
1999 “Bài học từ những quan điểm của chủ nghĩa Mác về trí thức” trong
cuốn “Học thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội năm 2003 của Phan Thanh Khôi, Trong đó, các tác giả đã
đi sâu nghiên cứu các vấn đề: bản chất giai cấp của trí thức, chính sách sử
dụng các chuyên gia tư sản, cải tạo trí thức cũ, đào tạo trí thức mới, xây dựng
khối liên minh công - nông - trí thức, các giải pháp phát huy vai trò của trí
thức. “Hà Tĩnh với công tác xây dựng đội ngũ trí thức” của Lê Công
Lương Tạp chí Cộng sản số 16 năm 2008. Bên cạnh đó còn có nhiều luận
văn, luận án và công trình khoa học, bài viết được đăng trên các Tạp chí
liên quan ít nhiều đến vấn đề trí thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa mà tác giả luận văn chưa có điều kiện để tiếp cận.
Những công trình nghiên cứu trên đã đi sâu và làm rõ quan niệm về trí
thức, vai trò vị trí và những định hướng để xây dựng đội ngũ trí thức trong
lịch sử cũng như trong quá trình xây dựng phát triển kinh tế, xã hội ở nước
ta hiện nay. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa có một đề tài khoa học, một công
trình nghiên cứu nào đề cập đến đội ngũ trí thức ở Hà Tĩnh dưới góc độ
luận văn thạc sĩ Triết học. Do đó, đề tài nghiên cứu của tôi không trùng
lặp với bất kỳ công trình khoa học nào trước đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu
Làm rõ sự cần thiết và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển đội
ngũ trí thức ở Hà Tĩnh một cách hiệu quả, góp phần vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát quan điểm cơ bản của triết học Mác–Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về trí thức.
- Luận văn góp phần làm luận cứ khoa học cho việc xây dựng chính
sách đối với đội ngũ trí thức ở Hà Tĩnh và làm tài liệu tham khảo cho
những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
hai chương, năm tiết.
5
Chương 1
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ
CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC
1.1. Quan điểm về đội ngũ trí thức
1.1.1. Khái niệm về trí thức
Các nhà sáng lập và phát triển chủ nghĩa Mác là những người rất quan
tâm đến trí thức và vấn đề tri thức. Cho nên, trong kho tàng lý luận mà các
ông để lại trí thức là một vấn đề rất lớn và phức tạp đã thu hút sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều nhà chính trị và khoa học.
Xét về nguồn gốc thì thuật ngữ “trí thức” xuất phát từ tiếng La Tinh -
Intelligentia nghĩa là thông minh có trí tuệ hiểu biết. Trong tiếng Anh trí
thức là một tính từ có nghĩa là: intelltual, còn danh từ gốc của nó là Intellect.
Trong tiếng Đức thì theo V.I.Lênin viết: Tôi dịch người trí thức, tầng lớp trí
thức theo nghĩa Đức là literat, literatentum bao gồm không phải chỉ các nhà
văn hóa, những người làm nghề tự do nói chung, những đại biểu của lao
động trí óc (brain worker như người Anh nói) để phân biệt với những đại
biểu của lao động chân tay.
Từ khi được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác quan tâm nghiên cứu,
Quan điểm triết học về trí thức và vai trò trí thức đã được bàn đến với góc
độ sâu sắc và toàn diện hơn. Nhìn chung các ông đã đánh giá, phân tích
nhìn nhận về trí thức như một lực lượng có vai trò to lớn trong sự phát
triển xã hội. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng trí thức là kết quả và sản phẩm
của quá trình phân công lao động vật chất và tinh thần tức là sự phân chia
người, lao động bằng trí não, có trí thức về văn hóa, khoa học - kỹ thuật,
công tác văn nghệ, giáo sư, bác sĩ, biên tập, ký giả hình thành trên cơ sở
xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư và phân chia giai cấp.
Ở nước ta, cho đến nay cũng có rất nhiều khái niệm khác nhau về trí
thức. Chẳng hạn, theo “Từ điển tiếng Việt” do Viện ngôn ngữ biên soạn và
Nhà Xuất bản Giáo dục ấn hành năm 1994 định nghĩa thì: “Trí thức là
người chuyên môn làm việc trí óc và có trí thức chuyên môn cần thiết cho
hoạt động nghề nghiệp của mình”. “Từ điển triết học” viết trí thức là “Tập
đoàn xã hội gồm những người làm nghề lao động phức tạp. Giới trí thức
bao bao gồm: kỷ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo,
người làm công tác khoa học và bộ phận lớn viên chức”.
Như vậy, có thể thấy rằng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, với cách
tiếp cận khác nhau, mỗi quốc gia mỗi nhà khoa học có những quan niệm
khác nhau về trí thức. Nhưng dù tiếp cận ở góc độ nào tựu trung lại thì các
định nghĩa về trí thức đó thường đề cập tới hai dấu hiệu cơ bản là: thứ nhất
trí thức là lao động trí tuệ, có chuyên môn sâu; Thứ hai trí thức là những
người có học vấn cao.
Hồ Chí Minh, sinh thời người đặc biệt quan tâm đến tầng lớp trí thức.
Vì vậy, Người đã đưa ra quan niệm sâu sắc về trí thức và diễn đạt một
cách mộc mạc, dễ hiểu. Trong “Sữa đổi lối làm việc”, Người viết: “Trí
thức là gì”, “trí thức là hiểu biết, trong thế giới có hai thứ hiểu biết: một là
hiểu biết sự đấu tranh sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu
7
biết đấu tranh dân tộc và đấu tranh xã hội. Khoa học xã hội từ đó mà ra.
Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác”. “Một người học xong đại
học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm
công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại:
công việc thực tế y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nữa. Trí
thức của y là trí thức học sách, chưa phải là trí thức hoàn toàn. Y muốn
thành một người trí thức hoàn toàn, thì phải đem cái trí thức đó áp dụng
8
1.1.2. Khái niệm về đội ngũ trí thức
Khái niệm “đội ngũ” được xuất phát từ thuật ngữ quân sự, đó là tổ chức
gồm nhiều người tập hợp thành một lực lượng hoàn chỉnh. Ở nước ta, từ
các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII trở về trước thuật ngữ “tầng lớp trí
thức” được sử dụng phổ biến. Trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
IX, lần thứ X sử dụng thuật ngữ “đội ngũ trí thức” nhằm nhấn mạnh đặc
trưng lao động của trí thức với sự có mặt ngày càng đông đảo của trí thức
trên các lĩnh vực, địa bàn trong các giai tầng xã hội. Từ đó khái niệm “đội
ngũ” được sử dụng rộng rãi trong các tổ chức như đội ngũ cán bộ, đội ngũ
cán bộ khoa học, đội ngũ nghệ sỹ, đội ngũ trí thức….Trong cuốn “Từ điển
tiếng Việt” do Nhà Xuất bản Đà Nẵng ấn hành năm 2009, khái niệm đội
ngũ được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, là “khối đông người được tập hợp
và tổ chức thành một lực lượng có quy cũ”. Thứ hai, là “tập hợp một số
đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp”. Như vậy, đội ngũ có
thể được hiểu là tập hợp một số đông người có cùng chức năng, nhiệm vụ
và nghề nghiệp, có sự thống nhất về mặt tổ chức. Nhờ thống nhất về mặt
tổ chức nên họ thống nhất về cả mặt hành động và mục tiêu. Hay nói cách
khác, đội ngũ là tập hợp một số người thành một lực lượng thống nhất về
mặt tổ chức, cùng nhau hành động thực hiện một hay một số chức năng,
nhiệm vụ nhất định để cùng đem về kết quả cụ thể nào đó.
Như vậy, ta có thể hiểu: Đội ngũ trí thức là tập hợp những người lao
động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có
năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, thành
một lực lượng đông đảo thống nhất về mặt tổ chức, hành động để cùng
nhau thực hiện mục tiêu đó là tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật
chất có giá trị đối với xã hội một cách có hiệu quả nhất.
Đội ngũ trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kì một
giai tầng nào khác trong xã hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công,
quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Đội ngũ trí thức là tập
xuất hiện những nhóm khác nhau, đại biểu cho quan điểm và quyền lợi
của các giai tầng khác nhau. Trong các xã hội mà còn tồn tại tình trạng áp
bức bóc lột, như xã hội Phong kiến hay xã hội tư bản thì nhìn chung người
trí thức và đội ngũ trí thức thường gắn với tầng lớp thượng lưu và giai cấp
bóc lột, bởi đại bộ phận trí thức đều xuất thân từ những gia đình khá giả,
có điều kiện học tập đến nơi đến chốn và cũng có điều kiện phát triển trí
tuệ một cách tự do. Còn trong xã hội Việt Nam thì phần lớn trí thức xuất
thân từ giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành những người trí
thức chân chính phục vụ cho lợi ích nhân dân.
Quan niệm về trí thức đã được đặt ra rất sớm trong lịch sử dân tộc Việt
Nam, truyền thống tôn trọng trí thức, nhân tài được tiếp nối từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Đến thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người đã kế thừa những giá
trị truyền thống của dân tộc và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác -
Lênin về trí thức trong sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Vì vậy, quan điểm
của người về trí thức, đội ngũ trí thức rất toàn diện và sâu sắc.
Qua nghiên cứu những trước tác của Hồ Chí Minh, có thể rút ra một
số nội dung: Thứ nhất, để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức mới,
theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải: “Đào tạo đội ngũ trí thức mới, cải tạo trí
10
thức cũ, công nông hóa trí thức, trí thức công nông hóa”. Thứ hai, để sử
dụng nhân tài trí thức, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh trước hết phải nhìn vào
việc hiểu biết thấu đáo nguyện vọng, khả năng, mặt mạnh và mặt yếu của họ.
Trong chính sách đối với trí thức, Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện phương
châm: Dân chủ, cởi mở để họ được trân trọng, trọng dụng trong lao động,
sáng tạo. Để sử dụng trí thức theo Hồ Chí Minh phải chú trọng tạo các
điều kiện vật chất cần thiết, đãi ngộ thoả đáng cho nghiên cứu, phát minh
khoa học dưới mọi hình thức. Người luôn luôn coi trọng, động viên,
khuyến khích họ cống hiến được nhiều nhất cho Đảng và nhân dân bên
cạnh đó người cũng không quên nhắc nhở: “Nhưng đôi khi trí thức vì thế
mà kêu ngạo, lên mặt. Chứng kêu ngạo lên mặt rất có hại cho họ. Nó ngăn
của chủ nghĩa tư bản, trí thức đã đóng vai trò tích cực. Trí thức tham gia
vào quá trình cách mạng hóa lực lượng sản xuất để hình thành nên nền sản
xuất công nghiệp lớn tư bản chủ nghĩa. Do vậy, góp phần vào phát triển
văn hóa văn minh nhân loại lên một bước mới.
Tất nhiên, vai trò của trí thức đối với phát triển xã hội trong chủ nghĩa
tư bản bị hạn chế rất nhiều. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
C.Mác và Ph.Ăngnghen viết: “Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị
giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó”.
Ngày nay, trong các nước tư bản chủ nghĩa, số lượng trí thức tăng lên
nhiều. Thành phần trí thức phong phú và phân hóa phức tạp hơn. Nhưng
trong thực tế chỉ có một số lượng trí thức đã tư sản hóa, còn lại phần lớn là
những người lao động làm thuê và bị giai cấp tư sản bóc lột không kém
phần nặng nề. Nói chung trí thức vẫn là một lực lượng cách mạng xã hội.
C.Mác - Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin còn đặc biệt đánh giá cao vai trò, vị
trí của tầng lớp trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ
xây dựng chủ nghĩa xã hội V.I.Lênin cho rằng, cùng với việc tạo dựng
tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ của giai cấp công nhân là phải
tiến hành cải tạo lực lượng trí thức của chế độ cũ. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội
cần một lực lượng trí thức lớn hơn cả chủ nghĩa tư bản để không chỉ điều
hành bộ máy nhà nước, mà còn xây dựng và quản lý toàn bộ nền kinh tế
quốc dân. Những người Cộng sản phải biết học tập tiếp thu những tinh hoa
của chủ nghĩa tư bản, phải biết sử dụng các chuyên gia tư sản trong quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin sẵn sàng đổi một tá người
Cộng sản không biết làm việc lấy một chuyên gia tư sản giỏi. Từ việc xác
định tầm quan trọng của trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội,
V.I.Lênin chủ trương phải xây dựng một đội ngũ trí thức từ giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, đồng thời cải tạo tầng lớp trí thức củ theo
hướng xã hội chủ nghĩa.
Thấm nhuần quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin
về vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội, Hồ Chí Minh không
dân tộc dân chủ mà càng có vai trò to lớn trong cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Xã hội càng phát triển thì vai trò của trí thức càng quan trọng, điều
đó cũng có nghĩa là trách nhiệm của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển
xã hội càng nặng nề hơn. Đội ngũ trí thức là tầng lớp duy nhất có khả năng
giúp giai cấp thống trị nói chung, giúp Đảng và Nhà nước ta nói riêng
trong hoạch định đúng chủ trương, đường lối, chính sách cách mạng. Dĩ
nhiên khi nói đến đội ngũ trí thức là chỉ bao gồm những trí thức đã giác
ngộ cách mạng.
Vì thế, quan tâm hơn nữa đến xây dựng đội ngũ trí thức vẫn là trách
nhiệm lớn lao và lâu dài của Đảng và nhà nước, nhân dân ta nói chung, Hà
Tĩnh nói riêng.
13
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC Ở HÀ TĨNH HIỆN NAY
2.1. Khái quát về lịch sử, kinh tế - xã hội Hà Tĩnh
Hà Tĩnh là tỉnh thuộc vùng Duyên hải Bắc Trung Bộ, có tọa độ địa lý
từ 17
0
53'50'' đến 18
0
45'40'' vĩ độ Bắc và 105
0
05'50'' đến 106
o
30'20'' kinh
độ Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An
. Phía Nam giáp Quảng Bình
Hà Tĩnh đã tạo được những chuyển biến to lớn, tương đối toàn diện trên
các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, công tác xây dựng Đảng,
xây dựng hệ thống chính trị. Mức tăng trưởng bình quân: giai đoạn 2001 -
14
2005 đạt 8.85% và giai đoạn 2005 - 2010 là 9,6%. Trong tương lai không
xa Hà Tĩnh sẽ trở thành một trung tâm công nghiệp ở khu vực miền trung.
Vì vậy, Hà Tĩnh cần phải đầu tư xây dựng và phát triển nguồn nhân lực
nói chung và đội ngũ trí thức nói riêng để đáp ứng được với yêu cầu phát
triển của nền kinh tế.
2.2. Thực trạng đội ngũ trí thức ở Hà Tĩnh hiện nay
2.2.1. Về số lượng, chất lượng và cơ cấu
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đội ngũ trí thức Hà Tĩnh đã có
sự trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng. Nếu như năm
1996 toàn tỉnh chỉ mới có khoảng 4123 người có trình độ đại học trở lên,
trong đó cử nhân là: 4056, thạc sĩ: 56, tiến sĩ: 9, phó giáo sư: 2 thì đến 2009
đã có 26.720 người có trình độ cử nhân 568 thạc sĩ, 30 tiến sĩ, 5 giáo sư và
phó giáo sư. Bên cạnh đó, còn một lực lượng khá đông có trình độ tương
đương bằng con đường tự học tạo ra xu hướng trí thức hóa lãnh đạo, trí thức
hóa công nhân, trí thức hóa nông dân và giới kinh doanh ngày càng rõ rệt.
Ngoài ra hàng năm đội ngũ trí thức Hà Tĩnh còn được bổ sung bởi lực lượng
sinh viên tốt nghiệp đại học ngày càng tăng. Tuy vậy, so với yêu cầu của sự
nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì với số lượng đó của đội
ngũ trí thức Hà Tĩnh vẫn chưa đủ đáp ứng.
Bên cạnh, sự tăng lên về số lượng thì chất lượng của đội ngũ trí thức
Hà Tĩnh cũng có bước chuyển biến rõ rệt. Số trí thức có trình độ thạc sĩ,
tiến sĩ, phó giáo sư ngày càng tăng, nếu như năm 1999 mới chỉ có 97
thạc sĩ và 14 tiến sĩ thì đến năm 2009 đã tăng lên 568 thạc sĩ và 30 tiến sĩ
và 5 giáo sư và phó giáo sư. Thêm vào đó, trình độ chuyên môn, kỹ năng
ngoại ngữ, tin học cũng không ngừng được nâng cao. Tuy vậy, Năng lực
đội ngũ trí thức Hà Tĩnh chưa đáp ứng được đòi hỏi của tiến trình công
đội ngũ trí thức bậc cao vừa ít lại vừa cao tuổi, điều này sẽ dẫn đến sự hụt
hẫng khi lớp cán bộ trẻ kế cận chưa đáp ứng được. “Số đông trí thức được
đào tạo theo cơ chế cũ, vừa học vừa làm hụt hẫng về kiến thức hệ thống,
do vậy đòi hỏi cần phải tiếp tục đào tạo, đào tạo lại trong thời gian tới”.
2.2.3. Về sử dụng đội ngũ trí thức
Thực hiện chủ trương của Bộ chính trị, Đảng bộ Hà Tĩnh trong thời
gian qua cũng rất quan tâm đến công tác sử dụng đội ngũ trí thức, nhằm
phát huy nguồn lực trí tuệ để phát triển. Tuy nhiên, trước yêu cầu đẩy
mạnh công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế, thì vấn đề sử dụng trí thức ở
Hà Tĩnh hiện nay còn nhiều bất cập, hạn chế. Chưa phát huy hết được
nguồn lực trí tuệ để phát triển kinh tế - xã hội. Nguyên nhân của hạn chế
trên là do chưa coi trọng công tác tập hợp, tổ chức trí thức thành một đội
ngũ nòng cốt để phát triển lực lượng sản xuất. Hiện nay, trong nhiều lĩnh
vực số cán bộ được làm công việc đúng chuyên môn, chuyên ngành đào
tạo không nhiều do vậy đã phần nào ảnh hưởng tới sự phát huy năng lực
cá nhân của họ. Cùng với quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng
mạnh mẽ thì thực tế hiện nay đội ngũ trí thức trẻ có năng lực, được đào tạo
cơ bản ít được làm việc trong các cơ quan Đảng và Nhà nước. Mặt khác,
trong công tác quản lí và sử dụng đội ngũ trí thức còn rất lỏng lẻo. Một số
cán bộ của Đảng và chính quyền chưa nhận thức đúng vị trí, vai trò cũng
như chưa đánh giá, sử dụng đúng trình độ, năng lực của trí thức đã làm
16
hạn chế sự cống hiện của đội ngũ trí thức cho xã hội. Hiện nay, lĩnh vực
khoa học xã hội và nhân văn tỉnh vẫn không thu hút được nhiều trí thức, dẫn
đến tình trạng thừa cứ thừa nhưng thiếu vẫn cứ thiếu. Trong khi đó, đội ngũ
trí thức thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật, tự nhiên của tỉnh vẫn còn mỏng.
Điều này một mặt gây ra sự thất thoát đội ngũ trí thức, mặt khác làm giảm
hiệu quả sử dụng lực lượng trí thức. Việc triển khai thực hiện chính sách đãi
ngộ, tôn vinh đối với trí thức, khai thác trí thức Việt kiều chưa được thực
hiện một cách thực sự hiệu quả. Để khắc phục được những hạn chế này, tỉnh
17
mẽ từ năm 2007 - 2009, khi mà các điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi nền
kinh tế tăng trưởng mạnh, đầu tư cho việc xây dựng nguồn nhân lực của
tỉnh được chú trọng, lúc này tỉnh đã có những chính sách để bồi dưỡng,
khuyến khích thu hút nhân tài.
Đội ngũ trí thức Hà Tĩnh có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh,
gắn bó với Đảng và nhân dân. Trí thức Hà Tĩnh có truyền thống yêu nước,
truyền thống hiếu học, đặc biệt là tinh thần vượt khó, chịu đựng gian khổ,
vươn lên trong học tập, lao động sáng tạo. Trước những khó khăn chung
của đất nước và của tỉnh nhà, đại đa số trí thức vẫn giữ được tinh thần
nhiệt huyết cách mạng, đoàn kết cùng nhau đóng góp trí tuệ và sức lực vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quê hương. Trí thức Hà Tĩnh đã có
những đóng góp quan trọng trong việc tổng kết thực tiễn, phát triển lý
luận, tham gia hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc
phòng an ninh của tỉnh nhà trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, nhìn một cách toàn diện chúng ta thấy rằng, đội ngũ trí thức Hà
Tĩnh còn nhiều bất cập, hạn chế. Bên cạnh việc số lượng chưa đáp ứng đủ yêu
cầu của sự phát triển thì đội ngũ trí thức Hà Tĩnh hiện nay vẫn có cơ cấu chưa
đồng bộ. Trí thức tập trung chủ yếu vào hai ngành chính là giáo dục - đào tạo
và y tế. Trí thức bậc cao làm việc tại Hà Tĩnh lại không nhiều và đang thiếu
các chuyên gia giỏi, nhất là ở các lĩnh vực quản lý kinh tế, ngoại ngữ, tin học.
Một điều đáng quan tâm nữa là do tỉnh vừa mới tái lập, nên đội ngũ trí thức bị
phân tán nhiều. “Trí thức Hà Tĩnh chưa có sự phối hợp cao trong các hoạt
động khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, từ đó khó tập trung
được năng lực trí tuệ tập thể để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Một bộ phận trí thức
chưa yên tâm với công việc, thiếu sự say mê sáng tạo, thậm chí còn có những
hiện tượng kìm giữ nhau, làm suy giảm lòng tin đối với cấp trên và nhân
dân”. Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của việc đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đòi hỏi Hà Tĩnh phải đầu tư xây dựng nguồn nhân lực chất
lượng cao, đa dạng hóa, về lĩnh vực, phong phú về ngành nghề nhằm góp
hỗ trợ kinh tế và giải quyết việc làm được xem là một trong những giải
pháp quan trọng để phát triển đội ngũ trí thức.
Thứ nhất, xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung và Hà Tĩnh
nói riêng trong thời đại hiện nay phải được gắn bó chặt chẽ với sự phát
triển của nền kinh tế tri thức
Thứ 2, thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh tế trọng điểm giải
quyết được nhiều việc làm cho trí thức
2.3.4. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
Đào tạo và sử dụng là hai mặt của một quá trình phát triển trí thức. Nếu
trong quá trình phát triển đội ngũ trí thức mà tách rời đào tạo và sử dụng thì
sẽ ảnh hưởng đến quá trình phát triển trí thức và nó sẽ ảnh hưởng đến sự
phát triển nền kinh tế của tỉnh.
- Về đào tạo và bồi dưỡng trí thức, đây là giải pháp then chốt trong
việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức. Trong những năm trước mắt cần
tiếp tục đổi mới công tác giáo dục - đào tạo theo hướng nâng cao chất
lượng có trọng tâm và trọng điểm, điều chỉnh cơ cấu đào tạo, trong đó tập
trung phát triển đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học cao trong các lĩnh
vực, đủ sức giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
19
Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức cần tập trung vào
một số vấn đề sau đây:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn đào tạo
Thứ hai, đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo
Thứ ba, điều chỉnh cơ cấu đào tạo cho phù hợp với yêu cầu phát triển của
tỉnh
Thứ tư, đa dạng hóa các hình thức, các chuyên ngành đào tạo gắn liền
với nâng cao chất lượng đào tạo
- Về công tác sử dụng trí thức, như đã nói ở trên đào tạo và sử dụng trí
thức là một quá trình phát triển trí thức. Đào tạo mà không sử dụng, hoặc sử
dụng sai chuyên ngành cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển đội ngũ trí
từng cương vị công việc
Thứ hai, xây dựng các cơ chế về tổ chức, chính sách và tài chính phù
hợp với điều kiện của tỉnh cho công tác trí thức và chính sách để phát huy
vai trò đội ngũ trí thức khoa học, công nghệ và giáo dục - đào tạo.
Thứ ba, xây dựng đề án quy hoạch và phát triển đội ngũ trí thức cấp
tỉnh, trong đó chú ý đến việc đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức
Thứ tư, xây dựng chính sách thu hút trí thức nhân tài và sử dụng đội
ngũ trí thức trong, ngoài tỉnh
Thứ tư, Xây dựng chính sách đãi ngộ và tôn vinh những trí thức có
nhiều đóng góp tích cực trong nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và
công nghệ
Thứ năm, xây dựng chính sách đoàn kết, tập hợp trí thức
Thứ sáu, ban hành chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư đổi
mới thiết bị và ứng dụng các sáng tạo khoa học công nghệ, góp phần tạo
lập và phát triển khoa học công nghệ tỉnh.
Thứ bảy, hoàn chỉnh cơ chế thành lập trung đào tạo chất lượng cao
ở bậc trung học và đại học
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trên cơ sở lập trường của chủ nghĩa Mác – Lênin, những quan điểm
của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, về vai
trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong tiến trình phát triển của xã hội loài
người nói chung và trong sự nghiệp công nhiệp hóa, hiện đại hóa ở nước
ta hiện nay nói riêng, chương 2 của luận văn chỉ ra những thành tựu và hạn
chế của đội ngũ trí thức cũng như công tác phát triển đội ngũ trí thức ở Hà
Tĩnh hiện nay. Từ đó chương 2 đã đề xuất một số nhóm giải pháp mang
tính khả thi nhằm phát triển đội ngũ trí thức ở Hà Tĩnh trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là: Nhóm giải pháp về sự lãnh đạo
của Đảng đối với trí thức; Nhóm giải pháp về nhận thức ; Nhóm giải pháp
về phát triển kinh tế, giải quyết việc làm; Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi
dưỡng và sử dụng ; Nhóm giải pháp về tạo động lực ; Nhóm giải pháp về
thức sáng tạo. Do vậy, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đang là
một trong những vấn đề chiến lược, có tính ưu tiên hàng đầu đối với tất cả
các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Để thực
hiện tốt chiến lược này, mỗi một quốc gia đều quan tâm tới việc phát huy
vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình phát triển đất nước.
Hơn nữa, xu thế toàn cầu hóa đang mài mòn dần khái niệm “chảy máu
chất xám” để thay vào đó bằng sự xuất hiện của một khái niệm mới - “lưu
thông chất xám”, cũng là lúc cạnh tranh về trí thức, nhân tài giữa các nước
trở nên gay gắt chưa từng có. Cái gọi là “lưu thông chất xám” chính là
thực tế chất xám sẽ chuyển đến nơi mà nó có điều kiện phát triển tốt nhất.
Do đó, các nhà lãnh đạo cần phải có chính sách đãi ngộ để thu hút nhân tài
trí thức. Ở mọi thời kỳ phát triển của đất nước, để có được lực lượng trí
22
thức, nhân tài đông đảo, đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp dựng nước và
giữ nước đều đặt ra yêu cầu từ hai phía: Các nhà lãnh đạo cần có chính
sách đúng để đào tạo và trọng dụng nhân tài và ngược lại, trí thức nêu cao
trách nhiệm trước đất nước, nhân dân để cống hiến tài năng vì sự hùng
cường của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân.
Nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về trí thức, vai trò của đội ngũ trí thức trong tiến trình phát lịch sử nhân
loại. Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm
nhận thức được vai trò và vị trí quan trọng của đội ngũ trí thức trong mọi
giai đoạn cách mạng. Từ đó, Đảng ta từng bước đổi mới phương thức lãnh
đạo đối với đội ngũ trí thức nhằm xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh đủ
sức giải quyết những vấn đề của đất nước và thời đại. Trong thời gian gần
đây, cùng với những cải cách quan trọng trong chính sách phát triển kinh
tế - xã hội, Đảng ta đã có nhiều chính sách đổi mới trong công tác đối với
trí thức. Trong nhận thức mới, Đảng đã khẳng định trí thức là một tầng lớp
xã hội độc lập và là một chủ thể bình đẳng trong khối liên minh công nhân -
nông dân - trí thức, là động lực cơ bản để phát triển đất nước. Những nhận
trung giải quyết hai vấn đề là số lượng và chất lượng đội ngũ trí thức của
tỉnh. Cần phải đổi mới nhận thức để xây dựng được những cơ chế, chính
sách sao cho thực sự giải phóng mọi lực lượng sản xuất, phát huy sáng tạo,
khuyến khích trí thức làm giàu trong khuôn khổ luật pháp. Tuy nhiên, việc
xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Hà Tĩnh không bó hẹp trong cách
hiểu đơn giản là phải có những chính sách cụ thể đối với việc phát triển đội
ngũ trí thức của tỉnh, mặc dù điều đó rất quan trọng và cần thiết. Do những
yêu tố khách quan và chủ quan nên việc phát triển đội ngũ trí thức được thể
hiện trong chính sách giáo dục và đào tạo của tỉnh. Vì như đã phân tích, trí
thức Hà Tĩnh xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội, đa số hiện nay đang trên
ghế nhà trường. Vì vậy, phải quan tâm phát triển từ khi trí thức đang còn là
học sinh. Có như thế thì mới đảm bảo cho chất lượng đội ngũ trí thức sau
này. Cốt lõi của việc phát triển đội ngũ trí thức là phát triển giáo dục, phát
triển toàn diện con người. Do đó, phải chú trọng đầu tư cho sự nghiệp giáo
dục đào tạo, coi việc phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ là
quốc sách hàng đầu. Việc đào tạo phải cải cách theo hướng hiện đại, hướng
ra thế giới và hướng tới tương lai, tăng nhanh về số lượng và coi trọng chất
lượng đào tạo, chú ý tới việc giáo dục đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho
người học và gắn với chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh. Phải từng bước
xây dựng trường Đại học Hà Tĩnh trở thành trung tâm học tập nghiên cứu đa
ngành, đa lĩnh vực. Phải đầu tư xây dựng các trung tâm công nghệ cao của
tỉnh. Đối với đội ngũ trí thức nói chung, cần có chế độ ưu đãi đặc biệt nhằm
động viên, khuyến khích tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho họ làm
việc, cống hiến; Có giải pháp cụ thể, tiêu chí và chế độ rõ ràng; Thu hút đầu
tư của trí thức trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài cho xây dựng và
phát triển quê hương; Tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu và đào
tạo trí thức chuyên gia hàng đầu. Cân đối việc đào tạo và sử dụng đội ngũ trí
thức một cách hợp lý, tránh tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” gây lãng phí
nguồn nhân lực như hiện nay. Đây là vấn đề then chốt để tỉnh Hà Tĩnh phát
triển bền vững trong những năm tiếp theo.