LUẬN VĂN:
Tìm hiểu về công tác đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực tại Học viên
Thanh thiếu niên Việt Nam
Lời nói đầu
Theo kế hoạch thực tập của Học viện Hành chính Quốc gia đối với sinh viên
KH2, được sự đồng ý của Học viện Hành chính Quốc gia, sự tiếp nhận của Học viên
Thanh thiếu niên Việt Nam, Em đã hoàn thành kế hoạch thực tập từ ngày 18/4 đến ngày
15/5 năm 2005 tại Học viện Thanh thiếu niên.
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin chuyển lời cảm ơn sâu sắc tới
cho các tỉnh thành Đoàn phía Bắc.
Năm 1970 "Trường Đoàn TW" ra đời và được Ban tuyên huấn TW Đảng giao
nhiệm vụ đào tạo cán bộ Đoàn có trỡnh độ chính trị trung cấp. Trước yêu cầu đặc thù của
công tác Đoàn Miền núi, TW Đoàn quyết định mở phân hiệu của Trường Đoàn TW tại
Bắc Thái.
Năm 1976, khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, Trường Đoàn TW II ra đời với
nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Đội cho các tỉnh phía Nam.
Năm 1982, được phép của Ban bí thư TW Đảng, Trường thí nghiệm hệ đào tạo
cao cấp 4 năm với chuyên môn hẹp là lịch sử, do đó, trường đổi tên thành Trường Đoàn
cao cấp.
Năm 1991, Trường đổi tên thành "Trường Cán bộ Thanh thiếu niên Trung ương"
trên cơ sở hợp nhất hai cơ sở đào tạo tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng
nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cán bộ Đoàn, Hội, Đội, cho các cơ quan quản lý Nhà nước
về công tác Thanh thiếu nhi.
Năm 1995, Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ
chức lại hệ thống đào tạo, nghiên cứu và thông tin khoa học của TW Đoàn. Học viện có 3
thành viên: Trường cao cấp Thanh niên, Viện nghiên cứu Thanh niên và Phân viện Miền
Nam.
Năm 2001, Ban Bí thư TW Đoàn đó trỡnh Bộ Chính trị phê duyệt đề án hoàn
thiện bộ máy tổ chức của Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam theo hướng thống nhất
quản lý và nõng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, thông tin khoa học về các
vấn đề thanh thiếu nhi, phục vụ đắc lực hơn cho công tác cán bộ của Đoàn.
Năm 2002, Trường đó chớnh thức mang tên Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
vào hoạt động theo cơ chế của một Học viện cấp Trung ương.
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương
Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu và thông
tin khoa học về Thanh thiếu nhi, Học viện có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng để thực
trước mắt là Xã hội học Thanh niên ở mức độ chọn lọc, có thi tuyển để bồi dưỡng những
tài năng trẻ trong hoạt động chính trị - xã hội, tạo nguồn cho tương lai. Tiếp tục đào tạo
cơ bản ở trình độ trung cấp lý luận Mác - Lê nin và nghiệp vụ Đoàn, Hội, Đội trong thời
kỳ quá độ (10 năm).
2.3. Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu dự báo các vấn đề về thanh thiếu nhi nhằm
xây dựng các luận cứ khoa học cho việc đề xuất các chính sách đối với thế hệ trẻ của
Đảng và Nhà nước, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Đoàn các cấp.
2.4. Nghiên cứu ứng dụng và triển khai các vấn đề về công tác vận động thanh
thiếu nhi và công tác xây dựng Đoàn, Hội, Đội. Tổ chức nghiên cứu, tổng kết thực tiễn
phong trào thanh thiếu nhi, tạo cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương công tác Đoàn
và công tác thanh thiếu nhi của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể.
2.5. Biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo về công tác Đoàn, Hội, Đội và lưu
trữ, trao đổi các thông tin, tư liệu phục vụ cho công tác đào tạo, nghiên cứu của học viện.
2.6. Tổ chức Thông tin Khoa học, Lý luận và nghiệp vụ về công tác thanh thiếu
nhi về xây dựng Đoàn, Hội, Đội, xã hội hóa các kết quả nghiên cứu và tổng kết thực tiễn
về thanh thiếu nhi và phong trào thanh thiếu nhi.
2.7. Là đầu mối nghiên cứu khoa học của Trung ương Đoàn, quản lý công tác
NCKH, hoạt động khoa học của Đoàn Thanh niên, Thường trực HSSKH Cơ quan Trung
ương Đoàn
2.8. Xây dựng và thực hiện các kế hoạch hợp tác với cơ quan đào tạo, nghiên cứu
thông tin khoa học ở trong nước. Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực đào
tạo, nghiên cứu và thông tin khoa học các vấn đề về thanh thiếu nhi theo các qui định
hiện hành.
2.9. Hướng dẫn nghiệp vụ, nội dung chương trình, biên soạn tài liệu về công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và công tác nghiên cứu, thông tin khoa học đối với các trung
tâm, Trường Đoàn các tỉnh thành và Đoàn trực thuộc Trung ương.
2.10. Bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ giảng viên, nghiên cứu
học, Đạo đức học, Pháp luật và Quản lý Nhà nước theo chương trình Trung cấp lý luận
chính trị do BCH Trung ương Đảng quy định
-Giảng dạy các học phần chủ yếu, tiến tới tham gia đào tạo theo chương trình đào
tạo hệ cử nhân
2. Khoa xã hội học Thanh niên: là Khoa chuyên ngành của Học viện, có nhiệm
vụ giảng dạy các môn Khoa học Xã hội và Nhân văn liên quan đến công tác Thanh thiếu
nhi như: Tâm lý học; Giáo dục học; đặc biệt là Xã hội học, với chuyên ngành hẹp là Xã
hội học Thanh niên
3. Khoa công tác thanh thiếu nhi là Khoa đặc thù của Học viện, có nhiệm vụ
giảng dạy các môn học: Phương pháp luận công tác Thanh thiếu nhi, Lý luận và Nghiệp
vụ xây dựng Đoàn, Hội; Lý luận và Phương pháp công tác Đội; Kỹ năng công tác Thanh
thiếu nhi; Lý luận và Nhgiệp vụ Văn hóa Thể thao; Giáo dục Quốc phòng toàn dân, Dân
số - Giới - Phát triển.
4. Viện Nghiên cứu Thanh niên có nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và tổng kết
thực tiễn các vấn đề của các đối tượng trong độ tuổi thanh thiếu nhi, công tác Đoàn, Hội,
Đội; là một đầu mối nghiên cứu khoa học của Bộ Khoa học - Công nghệ đã được phê
duyệt từ 1991
5. Phòng Quản lý Đào tạo và Tổ chức: Phụ trách công tác tổ chức bộ máy, công
tác cán bộ và công tác chính trị của Học viện, quản lý giảng dạy, học tập của các hệ đào
tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, đào tạo tại chức, liên kết đào tạo, đào tạo lại
6. Phòng Quản lý Khoa học và Hợp tác Quốc tế: có nhiệm vụ quản lý các dự án,
các đề tài khoa học từ cấp Khoa, Viện, Phân viện đến cấp Bộ, cấp Nhà nước do đội ngũ
cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên của Học viện thực hiện, tham gia tổ chức các Hội
thảo khoa học từ cấp Khoa, Viện, Phân viện đến cấp học viện, Biên tập Tạp chí Thông tin
Khoa học - Nghiệp vụ của Học viện; phụ trách công tác đối ngoại của Học viên Thanh
thiếu niên Việt Nam.
6. Trung tâm thông tin - Tư liệu - Thư viện
Hội đồng Khoa học do Lãnh đạo Học viện quyết định.
Hội đồng Giảng viên của học viện
Hội đồng Giảng viên của học viện là cơ quan tư vấn cho Lãnh đạo Học viện về
đánh giá chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên, thẩm định các đối tượng có
nguyện vọng về công tác ở các Khoa của Học viện giúp lãnh đạo Học viện bình xét danh
hiệu giáo viên giỏi các cấp, các danh hiệu vinh dự của Nhà nước trong lĩnh vực Giáo dục
- Đào tạo.
Nhiệm vụ, số lượng, thành phần, tiêu chuẩn, chế độ làm việc của các Uỷ viên
Hội đồng Khoa học do Lãnh đạo Học viện quyết định.
Căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ của Học viện trong từng thời kì, lãnh đạo Học viện
xem xét thành lập một số hội đồng khác.
Phân viện miền Nam:
Chủ nhiệm về đào tạo bồi dưỡng và nghiên cứu, thông tin khoa học theo phân
cấp của Giám đốc Học viện.
Biên chế của các Khoa, Phòng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của các Khoa,
Phòng, tổng định biên được Ban Bí thư Trung ương Đoàn phân bổ hàng năm; lãnh đạo
Học viện sẽ bố trí cho các Khoa Phòng có đủ điều kiện hoàn thành chức năng, nhiệm vụ
dược giao
V. lề lối làm việc, các mối quan hệ và quyền hạn của Học viện
1- Chế độ làm việc của Học viện:
1.1- Lãnh đạo Học viện làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tậpthể lãnh
đạo và cá nhân phụ trách.
1.2- Lãnh đạo Học viện họp thường kì 01 tháng 01 lần. Trong trường hợp cần
thiết, Giám đốc Học viện triệu tập họp bất thường. Giám đốc Học viện là người chủ trì và
kết luận các cuộc họp của lãnh đạo
Học viện.
1.3- Con dấu của Học viện được quản lí và sử dụng theo qui định số
Phần thứ hai
tìm hiểu công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Học viện thanh thiêu niên Việt
Nam
I. Thực trạng công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực của Học viện
thanh thiếu niên Việt Nam những năm qua
1. Về công tác đào tạo bồi dưỡng
Học viện thanh thiếu niên Việt Nam được thành lập ngay 15 tháng 10 năm 1956 (
với những tên gọi khác nhau qua tưng thời kỳ: Trường Huấn luyện Cán bộ Đoàn; Trường
Đoàn Trung ương; Trường Đoàn Cao cấp; Trường cán bộ Thanh thiếu niên Trung ương;
Trường cao cấp thanh niên và chính thức có tên gọi Học viện thanh thiếu niên Việt Nam
từ năm 1995 theo quyết định thành lập số 373 (do đồng chí bí thư thứ nhất Trung ương
Đoàn Hồ Đức Việt ký), đã góp phần quan trọng vào công tác đào tạo (hệ trung cấp, hệ
cao cấp)và bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Đoàn, Hội, Đội các cấp ở
trong nước và quốc tế:
Từ năm 1985 trở về trước trường đã đào tạo được:
- 75 khoá bồi dưỡng từ 1 đến 9 tháng với 10.663 học viên.
- 15 khoá khoá đào tạo từ 18 tháng đến 3 năm với 2363 học viên.
- 5 khoá cao cấp 4 năm với 258 học viên.
-13 khoá đào tạo dài hạn cán bộ chủ chốt của Đoàn TNND CM Lào với 482 học
viên
- 6 khoá đào tạo cán bộ chủ chốt của Đoàn TNND CM Cămpuchia với 130 HV.
Số cán bộ Đoàn học qua các khoá đào tạo đó trưởng thành nắm các vị trí chủ
chốt: Bí thư, Phó bí thư các Tỉnh, thành đoàn, tham gia cấp uỷ của Địa phương. Trên 60
đồng chí đó tham gia BCHTW Đoàn; 16 đồng
chí đó là Uỷ viên Thường vụ, Bí thư TW Đoàn; 6 đồng chí là Uỷ viên BCHTW Đảng.
Từ năm 1986 đến nay thực hiện các chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo kế
Đảng, Chính quyền cùng các ban, ngành, đoàn thể khác. Khoảng 50% cán bộ chủ chốt
của các cấp quận, Huyện, Đoàn, Tỉnh, thành Đoàn và Trung ương Đoàn hiện nay nguyên
là học viên của trường. Theo số liệu điều tra mới nhất của Ban tổ chức Trung ương Đoàn
có 50, 3% số Bí thư Đoàn xã, phường, 69% số cán bộ chuyên trách quận, huyện Đoàn và
48, 2% số cán bộ chuyên trách tỉnh Đoàn đã được đào tạo cơ bản qua Học viện Thanh
thiếu niên Việt Nam (Nguồn thống kê Ban tổ chức Trung ương Đoàn, 6/2003).
2. Các hệ đào tạo, bồi dưỡng
2.1.Hệ đào tạo trung cấp lý luận Mác-Lênin và nghiệp vụ Đoàn, Đội
Đay là hệ đào tạo mang tính quá độ
-Đối tượng: Cán bộ Đoàn chuyên trách cấp quận, huyện và cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở.
-Thời gian đào tạo:2 năm, trong đó 21 tháng học tập tại trường và 3 tháng thực
tập viết chuyên đề tốt nghiệp cấp cơ sở.
-Nội dung chương trình: Gồm 05 học phần:2160 h
+ Lý luận Mác-Lênin 630h
+ Khoa học cơ sở 630h
+ Phương pháp luận và kỹ năng 210h
+ Văn hoá thể thao 240h
+ Lý luận, nghiệp vụ xây dựng Đoàn 240h
+ Lý luận phương pháp công tác Đội 210h
-Phương thức: Tập trung, tỷ lệ lý thuyết-thực hành là 2-3
2.2 Hệ đào tạo cử nhân
Đào tạo Cử nhân Xã hội học Thanh Niên.
-Hệ 2, 5 năm, (bằng thứ hai) cho sinh viên đã tốt nghiệp các chuyên ngành khác
có nguyện vọng và khả năng công tác thanh thiếu nhi.
-Hệ 4, 5 năm, đối tương là đoàn viên ưu tú, tốt nghiệp PTTH có năng khiếu rõ rệt
và nguyện vọng hoạt động chính trị - xã hội trong thanh thiếu nhi.
ương Đoàn.
- Nội dung chương trình: Kỹ năng công tác thanh thiếu nhi, nghiệp vụ xây dựng
tổ chức Đoàn, Hội, Đội(120h)
- Tỷ lệ lý thuyết, thực hành là 1/, trong đó đi thực tế cơ sở 03 ngày
- Thi 02 môn và viết thu hoạch.
2.6.Các khoá bồi dưỡng theo chức danh, theo chuyên đề, theo
đối tượng, theo yêu cầu của Ban Bí thư Trung ương Đoàn (Từ 1 tuần đến 3 tuần).
2.7 Các khoá đào tạo lại và bồi dưỡng về các kiến thức hành chính, Tin học,
Ngoại ngữ, thi nâng ngạch theo phương thức liên kết, tập huấn theo chuyên đề.
2.8.Đào tạo trên đại học
Nếu điều kiện cho phép có thể đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ về các chuyên ngành.
Giáo dục học, Quản lý giáo dục, Xã hội học Thanh niên, Những chuyên ngành về công
tác Thanh thiếu nhi.
3.Về đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Học viện (tính
đến 31/5/2003)
-Tổng số cán bộ công chức của Học viện:124 người
-Số Giảng viên, Nghiên cứu viên có trình độ đại học trở lên:76 người
Trong đó số có trình độ Thạc sĩ:22 người, (về các chuyên ngành:Quản lý giáo
dục, Tâm lý, Xã hội học)
-Tiến sĩ:09 (Về các ngành Triết học, Tâm lý, Giáo dục, Xã hội học).Tính chung
có 31/76 GV-NCV có trình độ thạc sĩ trở lên, chiếm 41%.(một tỉ lệ khá cao so với các
Trường Đại học hiện nay)
-01 Phó Giáo sư và Nhà giáo ưu tú
-43, 5% số giảng viên, nghiên cứu viên có trình độ Cao cấp lý luận chính trị trở
lên
-50, 5% số giảng viên, NCV có trình độ Trung cấp lý luận chính trị
-90% số giảng viên, nghiên cứu viên có chứng chỉ ngoại ngữ và tin học thực
tục liên kết để hoàn thiện kiến thức cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống Đoàn
Thanh niên. Hiện tại Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam đang tiến hành thử nghiệm 1
khoá học (100 học viên ) đào tạo cử nhân Xã hội học Thanh niên trong sự liên kết với
khoa Xã hội học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.
5.Tiêu chuẩn Đội ngũ cán bộ chủ chốt:
Trên cơ sở những tiêu chuẩn chung của cán bộ chính trị xã hội theo Nghị quyêt
BCH Trung ương lần thứ 3 ( Khoá VIII), Lãnh đạo Học viện và đội ngũ cán bộ chủ chốt
của Học viện cần đáp ứng nhưng tiêu chuẩn cụ thể sau đây:
1. Ban Lãnh đạo Học viện bao gồm các giám đốc và các Phó giám đốc
- Giám đốc phu trách chung các mặt công tác của Học viện, có trình độ Tiến sĩ,
Cao cấp lý luận chính trị, am hiểu nghiệp vụ quản lý đào tạo và NCKH, đã là chủ nhiệm
đề tài cấp Bộ, cấp Nhà nước.
- Phó Giám đốc phụ trách NCKH có trình độ Tiến sĩ trở lên; Cao cấp lý luậnh
chính trị, am hiểu nghiệp vụ quản lý đào tạo, đã từng làm chủ nhiệm đề tài Bộ, cấp Nhà
nước.
- Phó Giám đốc phụ trách đào tạo, có trình độ tiến sĩ trở lên; Cao cấp lý luận
chính trị, am hiểu nghiệp vụ quản lý đào tạo, đã từng làm chủ nhiệm đề tài cấp Bộ, chủ
biên các giáo trình.
- Phó giám đốc phụ trách Hành chính, cơ sở vật chất, có trình độ thạc sĩ trở lên,
có trình độ Cao cấp lý luận chính trị, am hiểu nghiệp vụ Quản lý Hành chính trong môi
trường đào tạo và NCKH, có khả năng quan hệ đối ngoại.
- Phó Giám đốc phụ trách Phân viện có năng lực tương đối toàn diện, có trình
độ thạc sĩ trở len, Cao cấp lý luận chính trị, am hiểu nghiệp vụ quản lý đào tạo và NCKH.
2. Trưởng các khoa.
Có trình độ Thạc sĩ trở lên, Cử nhân hoặc Cao cấp lý luận chính trị, là Giảng viên
chính, am hiểu nghiệp vụ quản lý đào tạo, có công trình nghiên cứu khoa học cấp Học
viện trở lên, chủ trì biên soạn giáo trình của các bộ môn trong Khoa.
Phó Văn phòng: Có trình độ Cử nhân trở lên, Cử nhân hoặc Cao cấp lý luận
chính trị, có khả năng quản lý một lĩnh vực chuyên môn nhất định trong nghiệp vụ Văn
phòng.
8. Trưởng Phòng nghiệp vụ của các đơn vị thành viên
Có trình độ Cử nhân trở lên, Cao cấp lý luận chính trị, am hiểu chuyên môn
nghiệp vụ và có khả năng về công tác quản lý.
Phó Trưởng Phòng: Có trình độ Cử nhân trở lên, Cử nhân hoặc Trung cấp lý luận
chính trị trở lên, có khả năng quản lý một lĩnh vực chuyên môn nhất định
9.Đối với cán bộ công chức, giảng viên, nghiên cứu viên, học viên có Qui chế
riêng, do Giám đốc Học viện ban hành.
II- những khó khăn trong công tác đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực tại
Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam
1.Cơ sở vật chất
Hiện nay cơ sở vật chất của Học viên đang xuống cấp, thiếu các lớp học cho học
viên, thiếu sân chơi, sân tập, thậm chí phải dùng sân thượng, hành lang để làm lớp học
cho một số bộ môn học như khiêu vũ, nhạc , điều này ảnh hưởng đến công việc của các
phòng, ban khác
Phòng máy dành cho việc học tin với diện tích 100m2 với 1 máy PentiumIII, 4
máy 486, 6 máy 386, một máy in kim, quá ít so với nhu cầu của học viên và phần lớn là
máy cũ, tốc độ chậm, không đáp ứng được nhu cầu học tập của học viên
Chưa có phòng đọc riêng, chung với phòng cho mượn sách. Đầu sách phục vụ
cho Học viên còn ít, đa số là sách cũ, ít bổ sung sách mới.
Phương tiện phục vụ cho công tác giảng dạy con thiếu, đặc biệt là phương tiện
hiện đại như hệ thông máy chiếu. Việc sử dụng công nghệ thông tin vào việc dạy học còn
hạn chế
2. Đội ngũ giảng viên
Chất lượng đội ngũ giảng viên chưa đáp ứng được yêu cầu của hệ thống tổ chức
Đội trên phạm vi cả nước. Điều này cấp bách khi công tác vận động quần chúng ngày
càng đi vào chiều sâu, chứ không trải trên diện rộng như trước đây.
+ Trao đổi nghiệp vụ với các Cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước như:
Ban Dân vận Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Đảng, Ban Khoa giáo Trung
ương Đảng, Bộ Nội Vụ, Bộ Giáo dục - Đào tạo về việc từng bước gia nhập vào hệ thống
giáo dục Quốc gia, xác đinh chuyên nghành cử nhân Xã hội học Thanh niên với mã số
tương ứng, duyệt hệ thống Giáo trình, chương trình (trong các năm 2004-2005), nhằm
thu hút một bộ phận thanh niên ưu tú để đào tạo họ thành những cán bộ chính trị trẻ tuổi
có trình độ xuất phát là cử nhân cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam sau nay. Lĩnh vực này chưa có một trường nào trong hệ thống quốc dân đảm nhiệm.
+Nâng cao hiệu qủa của công tác đào tạo, nghiên cứu và thông tin khoa học, tạo
điều kiện thuận lợi cho giảng viên được tham gia nghiên cứu khoa học và nghiên cứu
viên được trực tiếp tham gia giảng dạy
+ Tại Học viện có thể thực hiện đào tạo đa hệ, đa ngành, đa cấp ( từ trình độ
trung cấp trở lên đến Tiến sĩ ), bồi dưỡng ngắn hạn theo chức danh, theo chuyên đề tuỳ
thuộc vào nhiệm vụ chinh trị của từng ngành, từng đoàn thể, vừa nghiên cứu khoa học
chuyên nghành, vừa ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học vào hoạt động thực tiễn
+ Liên kết với Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đào tạo Cử nhân Xã hội
học Thanh niên ( Tháng 9/2003), trước hết đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp quận, huyện
Đoàn trở lên, chưa qua đào tạo cơ bản.
+ Tăng cường hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu và
thông tin khoa học. Học viện Thanh thiếu niên Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng
mà Học viện Thanh thiếu niên Việt Nam có thể học tập, rút kinh nghiệm được
+nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên, cán bộ công chức của
Học viện đáp ưng yêu cầu của hệ thống tổ chức mới: với một biên chế hợp lý và hoạt
động đồng bộ, phấn đấu đến năm 2005.50% giảng viên, nghiên cứu viên có trính độ thác
sĩ trở lên.
I. Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Học viện Thanh thiếu niên
Việt Nam.
1. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng.
2. Các hệ đào tạo, bồi dưỡng
3. Đội ngũ giảng viên và nghiên cứu khoa họccủa Học viện
4. Đội ngũ cộng tác viên của Học viện
5. Tiêu chuẩn đội ngũ cán bộ chủ chốt của Học viện
II. nhưng khó khăn trong công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Học viện Thanh
thiếu niên Việt nam.
III. Một số giải pháp để nâng cao trình độ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại Học
việnThanh thiếu nien Việt Nam
Kết luận
Tài liệu tham khảo