LUẬN án TIỄN sĩ mối QUAN hệ GIỮA PHÁT HUY dân CHỦ xã hội và TĂNG CƯỜNG kỷ LUẬT TRONG QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ XHCN và kỷ luật tự giác là thuộc tính bản chất của quân đội kiểu mới.
Sự thống nhất hài hoà giữa dân chủ XHCN và kỷ luật là yêu cầu khách quan để hoàn
thiện thiết chế dân chủ và kỷ luật trong quân đội ta và là nội dung cốt lõi của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và kỷ luật. Sự thống nhất đó có ý nghĩa
như một tư tưởng định hướng, nguyên tắc chỉ đạo hoạt động để nâng cao sức mạnh
chiến đấu, chất lượng tổng hợp của quân đội ta và giải quyết mối quan hệ giữa phát huy
dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật trong quân đội. Quá trình bảo đảm sự thống nhất
hài hoà giữa dân chủ XHCN và kỷ luật là sự sống còn của quân đội ta. Thế nhưng hiện
nay quá trình đó đang phải đối mặt trực tiếp với những lực cản bắt nguồn từ những
nguyên khách quan và chủ quan khác nhau.
Hiện nay các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những nguyên tắc, tư tưởng cơ bản bảo đảm
cho dân chủ và kỷ luật phát triển thống nhất biện chứng với nhau như nguyên tắc tập
trung dân chủ; tư tưởng về dân chủ và chuyên chính, dân chủ và pháp luật, kỷ luật
nhằm lái quá trình dân chủ hoá ở nước ta, quân đội ta theo quỹ đạo của CNTB như
đã diễn ra ở Đông Âu, Liên Xô. Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa phát huy dân chủ
XHCN và tăng cường kỷ luật trong quân đội ta hiện nay là vấn đề cấp bách, có ý
nghĩa to lớn cả về lý luận và thực tiễn để tiếp tục khẳng định giá trị khoa học những
nguyên tắc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và kỷ luật
trong điều kiện mới. Chỉ có như vậy, mới có cơ sở khoa học để giữ vững định hướng
XHCN, nâng cao chất lượng hiệu quả của quá trình thực hiện mối quan hệ giữa phát
huy dân chủ XHCN và của tăng cường kỷ luật trong quân đội ta.
Hiện nay, mối quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật
trong quân đội ta đang thường xuyên phải khắc phục những khuynh hướng lệch lạc,
chệch hướng XHCN, vi phạm tư tưởng về sự thống nhất hài hoà giữa dân chủ và kỷ
luật v.v.. những khuynh hướng này do hạn chế về mặt nhận thức, năng lực, do cá nhân
chủ nghĩa, thiếu trách nhiệm, cũng như tàn dư, tập quán của xã hội cũ còn tồn tại
trong mỗi cán bộ, chiến sĩ, sự chống phá của kẻ địch. Thực tế trong suy nghĩ và hành



vực khác, có liên quan đến mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật. Có thể chỉ ra ở


đây, những công trình tiêu biểu: Giáo sư Trần Xuân Trường, “Một số vấn đề giáo
dục xã hội chủ nghĩa trong Quân đội nhân dân Việt Nam”, Nhà xuất bản Quân đội
nhân dân, Hà Nội, 1998.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Quang: “phát triển ý thức chính trị xã hội chủ
nghĩa trong xã hội và quân đội trong thời kỳ mới”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân,
Hà Nội, 2001. Luận án Phó tiến sĩ CNCSKH của Hồ Tấn Sáng: “Dân chủ hoá trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, 1991. Luận án Tiến sĩ triết học của
Lê Thanh Thập: “Dân chủ và cơ chế thực hiện dân chủ ở nước ta hiện nay” 1995.
Liên quan đến đề tài còn có các tác giả như: Hoàng Văn Hảo, “Dân chủ và pháp
chế”, Tạp chí Thông tin lý luận, số 6/1988; Nguyễn Ngọc Long, “Dân chủ và kỷ luật”,
Tạp chí Cộng sản, số 1/1991; Nguyễn Tiến Phồn, “Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hiện
dân chủ và nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý nhà nước”, Tạp chí
Triết học, số 6/1997; Văn Tạo, “Dân chủ và kỷ cương”; “ổn định và phát triển”, Tạp chí
Cộng sản số 13/1998; Nguyễn Tuấn, “Tăng cường dân chủ và kỷ luật trong quân đội
theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nhà trường quân đội, số 3/2001; Nguyễn Văn Tài,
“Giải quyết mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật nhằm phát huy vai trò đội ngũ cán bộ
trong xây dựng quân đội ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, số 3/2003... Những công trình
trên đã tập trung nghiên cứu từng mặt dân chủ hay kỷ luật mà đã đề cập đến mối quan hệ
giữa chúng ở các lĩnh vực, tổ chức, hoạt động xã hội khác nhau. Mặc dù có sự khác nhau
về cách tiếp cận, nội dung nghiên cứu, nhưng thống nhất ở một điểm, dân chủ và kỷ luật
thống nhất trong tính chỉnh thể, không tách rời, không thiên lệch, tuyệt đối hoá một mặt.
Chính tư tưởng đó đã góp phần quan trọng vào nhận thức, vận dụng giải quyết và nghiên
cứu những vấn đề về dân chủ XHCN, về pháp luật, kỷ luật và cả mối quan hệ giữa chúng
ở các tổ chức, hoạt động khác nhau. Những công trình trên đã thể hiện tính phong phú,
đa dạng của sự nghiên cứu mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, nhưng chưa có công
trình nào nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và tăng cường
kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; luận án sử dụng tổng
hợp các phương pháp cụ thể như: Phân tích - tổng hợp; lôgíc - lịch sử; xử lý thông
tin theo phương pháp xã hội học...
5. Những đóng góp mới về khoa học
+ Làm sâu sắc hơn đặc điểm mối quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và
tăng cường kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam.


+ Bước đầu khái quát, đánh giá tình hình nhận thức, vận dụng giải quyết mối
quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật trong quân đội ta hiện
nay.
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát
huy dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật trong quân đội ta hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần vào hoàn thiện, phát triển lý luận
khoa học về mối quan hệ giữa dân chủ và chuyên chính; dân chủ và pháp luật, dân
chủ và kỷ luật nói chung và trong quân đội nói riêng.
Kết quả nghiên cứu còn góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, chiến sĩ về
mối quan hệ giữa phát huy dân chủ XHCN và tăng cường kỷ luật trong quân đội.
Đồng thời giúp cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức được bản chất phản động từ những
luận điệu tuyên truyền về dân chủ của kẻ địch và có thái độ phê phán đúng đắn.
Luận án còn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu giảng dạy ở
các học viện, nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu; 3 chương (7 tiết); phần kết luận; danh mục tài liệu
tham khảo và phần phụ lục.
CHƯƠNG 1
THỰC CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁT HUY
DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ TĂNG CƯỜNG KỶ LUẬT
TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

chủ, nhưng không thể có xã hội có dân chủ mà lại không có pháp luật [43, tr. 14].
Như vậy, dân chủ bao giờ cũng gắn liền với pháp luật, kỷ luật và pháp luật, kỷ
luật như một mặt đối lập không thể tách rời với dân chủ trong những giai đoạn lịch
sử nhất định.
Dân chủ, tức là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, trước hết là nhân
dân lao động; nhân dân có địa vị, quyền làm chủ đối với nhà nước; nhân dân là
nguồn gốc của nhà nước. Khi quyền lực nhà nước không thuộc về nhân dân thì
nhà nước đó phải đối mặt trực tiếp với cuộc đấu tranh của nhân dân vì mục
tiêu dân chủ. Với ý nghĩa đó, dân chủ phản ánh trực tiếp mối quan hệ giữa nhà
nước với nhân dân, trong đó nhân dân quyết định sự thay đổi hoặc củng cố nhà
nước. Nếu nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân thì nhà nước đó vững


mạnh bởi nhân dân và ngược lại. Những quan hệ đó phản ánh quan hệ bản chất
của dân chủ, đó là quan hệ bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội trước
pháp luật, quyền lực nhà nước. Quan hệ này phản ánh đầy đủ nhất bản chất của
dân chủ. Nếu không có bình đẳng thì không có dân chủ trong xã hội. Bình
đẳng còn là điều kiện trực tiếp cho tự do, bình đẳng bảo đảm cho con người xã
hội không rơi vào sự “tha hoá” lao động, không có lực lượng xã hội cản trở sự
phát triển tự do của con người. Vì vậy, tự do và bình đẳng cũng là nội dung cốt
lõi, thuộc tính bản chất nhất của dân chủ, đồng thời, nó là nguyên tắc cho xác
định mục tiêu, nội dung xây dựng một nền dân chủ đích thực. Tuy nhiên, tự do
ở đây được hiểu, tự do trên cơ sở nhận thức được cái tất yếu theo chủ nghĩa
duy vật biện chứng quan niệm, không phải tự do tuỳ tiện, tự do vô chính phủ,
vô kỷ luật.
Khi tự do được hiểu trên cơ sở nhận thức được cái tất yếu thì pháp luật của nhà
nước, kỷ luật của một tổ chức xã hội như là cái tất yếu đối với mỗi cá nhân và là điều
kiện cho tự do của các thành viên khác trong xã hội. Như vậy, dân chủ đã bao hàm
thực hành kỷ luật , pháp luật và kỷ luật sẽ bao hàm dân chủ, nếu kỷ luật đó là cái tất
yếu được nhận thức đối với mỗi cá nhân để mọi người tự do.

không phải tương lai vươn tới của nhân loại về dân chủ. Trong xã hội tư bản, những
quyền như: bầu cử tự do trên cơ sở đa nguyên, đa đảng; quyền tự do ngôn luận, tự
do báo chí; quyền tự do biểu tình, quyền chỉ trích chính phủ hoặc tổng thống... dù
sao cũng nói lên những quyền về con người mà trong chế độ quân chủ chuyên chế
không thể có, nhưng cũng phải thấy nhà nước tư sản không tự giác cho không những
quyền đó, mà là kết quả của cuộc đấu tranh của GCCN, nhân dân lao động đã phải
mất hàng trăm năm. Còn về bản chất, thực chất, dân chủ tư sản chưa có nội dung dân
chủ đích thực, với nghĩa toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân lao động.
“Quyền dân chủ, mọi sự chỉ trích... được thực hiện thoải mái, miễn là không đe doạ
quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp tư sản” [9, tr. 57].
Ngọn cờ dân chủ của Đảng Cộng sản trong xã hội tư bản gắn với mục tiêu
CNXH. Sự thắng lợi của cách mạng vô sản, cho ra đời chế độ XHCN, với nội dung
dân chủ XHCN, chế độ dân chủ XHCN. Dân chủ XHCN là nền dân chủ duy nhất


trong các xã hội văn minh đem lại địa vị, quyền làm chủ, quyền lực nhà nước thuộc
về nhân dân, nhân dân lao động trên thực tế.
Dân chủ XHCN là bước phát triển mới về chất của lịch sử phát triển dân
chủ, nó kế thừa, phát triển toàn bộ những giá trị dân chủ trong lịch sử và sáng tạo
ra những giá trị mới, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Dân chủ XHCN đã
thực hiện bước phủ định biện chứng nền dân chủ tư sản và thực hiện hoàn chỉnh
một chu kỳ phát triển (phủ định của phủ định) khẳng định sự phát triển, khẳng
định dân chủ đích thực.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa nhiều mặt của chế độ dân chủ nguyên thuỷ tất
nhiên sẽ sống lại, vì lần đầu tiên trong lịch sử những xã hội văn minh, quần chúng
nhân dân vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử và tuyển
cử, mà cả vào việc quản lý hàng ngày nữa. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mọi người
sẽ lần lượt quản lý và sẽ mau quen với tình hình không cần ai quản lý cả [38, tr.
143].
Sự ra đời của nền dân chủ XHCN là sản phẩm tất yếu của lịch sử đấu tranh

là những nấc thang hoàn thiện nền dân chủ XHCN. Dân chủ XHCN luôn là nội dung
quan trọng trong quan điểm, đường lối của Đảng ta, là thuộc tính bản chất của hệ
thống chính trị đất nước. Bản chất, mục tiêu của dân chủ XHCN được Hồ Chí Minh
khái quát:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền lực đều của dân” [52, tr.698].
Ngay từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, khi nhà nước cách mạng còn là
mục tiêu phấn đấu, trong “yêu sách của nhân dân An Nam” gửi Hội nghị Véc-xây
(1919) Nguyễn ái Quốc đã đòi phải thay thế chế độ cai trị bằng sắc lệnh không dân
chủ bằng các đạo luật. Chính điều đó đã thể hiện một quan điểm về dân chủ mới.
Khi giành được chính quyền, Người đã trực tiếp soạn thảo bản Tuyên ngôn độc
lập, một văn bản pháp lý có giá trị đóng góp vào nền pháp lý dân chủ và tiến bộ của loài
người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn luận Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ (1776);
Tuyên ngôn nhân quyền của nước Pháp (1789), từ quyền con người để khẳng định
quyền tự do, độc lập, dân chủ của một dân tộc: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả
các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình bẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền
sung sướng và quyền tự do”[49, tr. 1]. Đó là nội dung dân chủ của xã hội mới -


XHCN. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân ta trong các cuộc
kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới, nội dung dân chủ XHCN trong tư
tưởng của Người ngày càng được hoàn thiện, bổ sung, cụ thể hoá. Chủ tịch Hồ Chí
Minh khẳng định: “chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ” [59,
tr.251] v.v..
Lịch sử cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân chủ luôn là mục
tiêu, động lực, ngọn cờ tập hợp lực lượng và vấn đề xây dựng nền dân chủ, phát huy
quyền làm chủ của nhân dân là một nội dung chủ yếu trong đường lối quan điểm của
Đảng, tại các kỳ Đại hội Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên CNXH của Đảng đã khẳng định: “Xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà

đội.
Dân chủ bao giờ cũng gắn liền với sự bình đẳng về chính trị giữa các thành
viên trong xã hội, trong một tổ chức xã hội. Trong quân đội ta, quan hệ giữa cán bộ
và chiến sĩ, giữa các quân nhân là quan hệ trên tình hữu ái giai cấp, quan hệ của
những người cùng địa vị làm chủ trong quân đội. Quan hệ giữa cán bộ và chiến sĩ
là quan hệ giữa mệnh lệnh và phục tùng, mọi mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên, của
người chỉ huy, chiến sĩ phải chấp hành vô điều kiện. Nhưng sự phục tùng đó không
phải thụ động, mù quáng một chiều như quân đội của giai cấp thống trị, mà trên cơ
sở giác ngộ cách mạng, tự giác, ý thức được tính tất yếu và nghĩa vụ của mỗi quân
nhân đối với nhiệm vụ chung. Sự khác nhau về cấp bậc, chức vụ giữa cán bộ với
chiến sĩ không phải đại diện đặc quyền, đặc lợi, địa vị chính trị khác nhau, mà do
sự phân công, giao trách nhiệm của Đảng, của tổ chức vì lợi ích chung.
Trong quân đội ta, cán bộ và chiến sĩ có những nhiệm vụ và quyền hạn nhất định
do Đảng và Nhà nước trao cho, nhưng không phải như sĩ quan của một quân đội tư
sản đế quốc, giai cấp đặc quyền, vượt lên trên hết, chiến sĩ không phải là kẻ nô lệ, làm
thuê và đánh thuê, phục tùng mù quáng. Cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta là những
chiến sĩ tự giác của giai cấp, của dân tộc, đều bình đẳng về chính trị và nhân cách, đều
là chủ nhân của quân đội [81, tr. 15].
Quan hệ giữa quân đội và nhân dân là quan hệ máu thịt. Đây là thuộc tính bản
chất của quân đội ta. Bởi vì, cán bộ, chiến sĩ từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà
chiến đấu. Điều đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn nhấn mạnh, chú trọng
trong xây dựng quân đội ta. Lợi ích và địa vị giữa nhân dân và quân đội là thống
nhất, trên cơ sở lợi ích dân tộc, lợi ích giai cấp được tôn trọng.


Những quan hệ trên phản ánh nội dung, bản chất dân chủ XHCN . Ở đó không
có sự khác biệt, đối lập nhau về lợi ích, địa vị chính trị, đặc quyền, đặc lợi, tức là
giữa các thành viên trong xã hội, trong mỗi tổ chức xã hội đều bình đẳng. Điều đó
nói lên giá trị nhân đạo, nhân văn của các quan hệ này, đồng thời dân chủ đã bao
hàm kỷ luật tự giác, kỷ luật của GCCN. “Bản thân nguyên tắc bình đẳng trong nội

tính kỷ luật, vừa bảo đảm quyền làm chủ của cán bộ, chiến sĩ được thực thi trên
thực tế.
Hoạt động và quan hệ giữa tổ chức đảng, chỉ huy, tổ chức quần chúng trong
quân đội phù hợp với cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm
chủ. Mặc dù trong quân đội, cơ chế mệnh lệnh, phục tùng mang tính trội, nhưng
cơ chế đó không những không hạn chế dân chủ, mà còn tạo điều kiện, phát huy
quyền làm chủ của cán bộ, chiến sĩ. Bởi vì, kỷ luật quân đội ta là kỷ luật tự giác,
kỷ luật của tổ chức gồm những quân nhân cùng có quyền làm chủ. Việc thực thi
cơ chế này vừa bảo đảm cho kỷ luật được củng cố, tăng cường, vừa bảo đảm
quyền làm chủ của cán bộ, chiến sĩ được thực thi: “Dân chủ trong quân đội ta là
dân chủ có tổ chức. Cán bộ, chiến sĩ thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua
hoạt động của các tổ chức (lãnh đạo, chỉ huy, quần chúng). Vì vậy, để thực hiện
dân chủ trong đơn vị không thể không phát huy vai trò các tổ chức trong đơn vị
[35, tr. 56].
Dân chủ XHCN có vai trò to lớn đối với việc củng cố tổ chức, phát huy nhân tố
con người, tích cực hoá hoạt động của họ trong các phong trào cách mạng. Vì vậy,
phát huy dân chủ XHCN nói chung và trong quân đội nói riêng là vấn đề có tính
nguyên tắc trong xây dựng quân đội ta.
Theo Từ điển Tiếng Việt, phát huy có nghĩa là: “Làm cho cái hay, cái tốt toả tác
dụng và tiếp tục nẩy nở ngày càng nhiều” [106, tr. 768]. Như vậy, phát huy bao giờ
cũng trên cơ sở cái hay, cái tốt, cái giá trị đã được xác lập, đồng thời là quá trình sáng
tạo ra các giá trị mới. Đó là biện chứng của quá trình phát triển.
Nền dân chủ XHCN bao gồm hai yếu tố: Các giá trị dân chủ từ nền dân chủ tư
sản để lại, được sàng lọc, khôi phục, lưu giữ, nâng cao; các giá trị dân chủ được sáng
lập thêm, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội XHCN. Cả hai hoà nhập trong lý


luận và thực tiễn, từ đó xuất hiện một nền dân chủ ở trình độ cao hơn - dân chủ
XHCN [84, tr. 6].
Phát huy dân chủ XHCN cũng phải trên cơ sở những giá trị của nó đã được

đơn vị. Quá trình tham gia vào các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, cán
bộ, chiến sĩ có quyền đề đạt tâm tư nguyện vọng chính đáng của cá nhân; được tôn
trọng quyền công dân và nhân cách; được đóng góp ý kiến phê bình về sự lãnh đạo
của tổ chức đảng, công tác quản lý điều hành của chỉ huy và phẩm chất đạo đức của
cán bộ, đảng viên; được bình xét khen thưởng, kỷ luật, phát hiện, báo cáo những
hành vi vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội.
- Dân chủ về quân sự và chuyên môn, mọi quân nhân đều được thảo luận nắm
vững các nhiệm vụ, mệnh lệnh, ý định, quyết tâm và kế hoạch tổ chức thực hiện của
chỉ huy. Tham gia ý kiến và hiến kế vào các biện pháp thực hiện nhiệm vụ, chấp
hành kỷ luật và có trách nhiệm thực hiện chỉ thị mệnh lệnh của người chỉ huy theo
chức trách, nhiệm vụ của mình.
- Dân chủ về kinh tế, mọi quân nhân đều được biết về quyền lợi, tiêu chuẩn,
chế độ được hưởng về vật chất, văn hoá tinh thần, các khoản thu từ tăng gia sản
xuất, sử dụng quỹ vốn, chính sách khi ra quân, về hưu... có quyền kiểm tra, giám sát
việc bảo đảm tiêu chuẩn chế độ của mình. Các chế độ, tiêu chuẩn đều phải được
công khai theo quy định.
Như vậy, dân chủ XHCN trong quân đội cũng bảo đảm sự tham gia của các
quân nhân vào các lĩnh vực, hoạt động của quân đội với tư cách là người làm chủ
thật sự. Sự tham gia đó trên cơ sở sự bình đẳng về chính trị giữa cán bộ và chiến sĩ...
Đó cũng là những giá trị của dân chủ XHCN trong quân đội. Nó phản ánh tính ưu
việt, giá trị nhân đạo, nhân văn, tiến bộ của dân chủ trong quân đội ta. Tuy nhiên, tổ
chức và hoạt động của quân đội có tính đặc thù, những giá trị của dân chủ XHCN
trong quân đội được thể hiện với nét riêng của nó. Đó là việc vừa bảo đảm quyền
làm chủ của cán bộ, chiến sĩ, vừa phù hợp với yêu cầu bí mật quân sự.
Thực hiện chính trị, kinh tế, quân sự dân chủ là những nội dung sinh động
của đường lối quần chúng trong quân đội ta. Việc gì đáng giữ bí mật trong
phạm vi nào đó thì phải giữ; còn nói chung thì mọi việc đều cần đưa ra quần
chúng bàn bạn trên tinh thần: trước khi quyết định một vấn đề gì nên trưng
cầu ý kiến của quần chúng; sau khi quyết định rồi thì đưa ra quần chúng bàn
bạc, giải quyết thi hành [82].

Phát huy dân chủ XHCN trong quân đội là quá trình vừa tạo ra môi trường dân
chủ lành mạnh, vừa đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ phải phát huy quyền làm chủ của mình.


Quá trình này gắn liền với việc không ngừng củng cố các mối quan hệ cơ bản của
quân đội và tuân thủ, vận dụng sáng tạo những nguyên tắc, cơ chế dân chủ XHCN
phù hợp với tổ chức, hoạt động của quân đội. Việc củng cố các quan hệ giữa Đảng
và quân đội, giữa quân đội và nhân dân, giữa cán bộ và chiến sĩ trên tình hữu ái giai
cấp sẽ bảo đảm cho các quan hệ bình đẳng về chính trị giữa các quân nhân được
thực hiện. Cùng với nó là việc tuân thủ, vận dụng sáng tạo các nguyên tắc, cơ chế
làm chủ XHCN sẽ bảo đảm cho dân chủ XHCN trong quân đội giữ vững bản chất
GCCN, thiết chế dân chủ XHCN được vững chắc, tổ chức quân đội mang đặc trưng,
nội dung dân chủ XHCN sâu sắc. Đó là quá trình tạo ra môi trường dân chủ lành
mạnh, những giá trị dân chủ XHCN được khẳng định, nẩy nở trên thực tế.
Phát huy dân chủ XHCN trong quân đội là quá trình không ngừng đáp ứng
những nhu cầu về dân chủ của cán bộ, chiến sĩ. Con người dù được sống và hoạt
động ở lĩnh vực nào đều có nhu cầu về dân chủ. Mặc dù hoạt động trong lĩnh vực
quân sự, những nhu cầu về dân chủ của cán bộ, chiến sĩ vẫn không ngừng nâng cao
cùng với sự phát triển của xã hội. Quân đội ta là quân đội dân chủ, cán bộ, chiến sĩ
không phải là người đánh thuê, họ là chủ nhân của quân đội, có nhu cầu chính đáng
về dân chủ. Sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ trong chế độ ta và quân đội ta quy
định nhu cầu về dân chủ, về quyền lợi, quyền làm chủ cũng như nhu cầu thực hiện
nghĩa vụ của mỗi quân nhân đều chính đáng như nhau. Quá trình đáp ứng nhu cầu
về dân chủ cho cán bộ, chiến sĩ là động lực chính trị to lớn đối với tính tích cực tự
giác của họ. Khi cán bộ, chiến sĩ được hưởng ngày càng nhiều thành quả của dân
chủ XHCN đem lại thì sức mạnh từ nhân tố con người được nhân lên gấp bội.
Phát huy dân chủ XHCN trong quân đội còn là quá trình làm cho những giá trị
dân chủ XHCN lớn mạnh, trở thành bao trùm, phổ biến trong các quan hệ, hoạt động
của quân đội. Những giá trị dân chủ XHCN trong quân đội không thể nẩy nở, phát
huy nếu không đẩy lùi, chiến thắng những hiện tượng tiêu cực, tàn dư lạc hậu của xã

hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong mọi hoàn cảnh, tình huống. Nội dung của
kỷ luật được ghi rõ trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ,
chế độ qui tắc, mệnh lệnh, chỉ thị của quân đội. Kỷ luật quân đội ta là kỷ luật tự
giác nghiêm minh, được xây dựng, duy trì trên cơ sở giác ngộ cách mạng, bản lĩnh
và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của mỗi quân nhân, cùng với việc giáo dục, tổ
chức chặt chẽ và thưởng phạt nghiêm minh” [105, tr. 448].


Kỷ luật quân đội ta là một hình thức của pháp luật XHCN mang bản chất của
pháp luật đó. Việc chấp hành kỷ luật quân đội của cán bộ, chiến sĩ về thực chất là
chấp hành pháp luật nhà nước XHCN. “ Kỷ luật quân sự là sự tuân thủ nghiêm
chỉnh những yêu cầu của pháp luật nhà nước, điều lệnh quân đội, chỉ thị, mệnh lệnh
của cấp trên, nhằm tạo nên sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất cao bảo đảm cho quân
đội hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ được giao trong mọi điều kiện tình huống”
[79, tr. 56].
Mặc dù cũng là sự thể chế hoá pháp luật XHCN, nhưng khác với kỷ luật của các
tổ chức xã hội khác, kỷ luật quân đội ta với hệ thống quy định, điều lệnh, điều lệ... khá
chặt chẽ và toàn diện, đồng thời tính nghiêm minh cũng thể hiện ở trình độ cao nhất.
Cán bộ, chiến sĩ chấp hành kỷ luật một cách vô điều kiện, nhanh chóng, chính xác,
mau lẹ, kịp thời trong mọi điều kiện tình huống, kể cả lúc gay go quyết liệt nhất của
chiến tranh theo yêu cầu của hoạt động quân sự.
Kỷ luật quân đội ta là kỷ luật tự giác. Tính tự giác và tính nghiêm minh trong
kỷ luật của quân đội ta không làm hạn chế nhau, mà thống nhất và bảo đảm cho
nhau phát triển. Tính nghiêm minh của kỷ luật quân đội ta thể hiện ở việc xử phạt
nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm kỷ luật, cưỡng bức đối với các quân nhân
không tự giác chấp hành. Sự cưỡng bức và tính tự giác trong kỷ luật quân đội ta
luôn thống nhất với nhau, bổ trợ cho nhau.
Ai cũng biết kỷ luật cách mạng là sự thống nhất hữu cơ giữa tự nguyện và
cưỡng bức. Không có tự nguyện thì không có kỷ luật cách mạng. Nhưng không
có cưỡng bức thì cũng không thành kỷ luật. Cưỡng bức là cần thiết vì trình độ

vì yêu mà thưởng, ghét mà phạt. Ai hẩu với mình thì dùng, ai trực tính nói ngay thì
bỏ” [51, tr. 480]. Hơn nữa, khi xét kỷ luật không phải là sự trừng phạt đơn thuần, mà
còn phải làm cho quân nhân nhận thức rõ khuyết điểm và định hướng để họ tiến bộ.
Tính tự giác, sự công bằng, bình đẳng trước kỷ luật giữa các quân nhân phản ánh tính
ưu việt của kỷ luật quân đội ta - kỷ luật mới trong lịch sử quân đội.
Tăng cường có nghĩa là làm cho mạnh thêm, nhiều thêm. Cho nên, tăng cường
kỷ luật là vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng quân đội ta. Tăng cường kỷ luật
trong quân đội ta phải bắt đầu và chủ yếu từ nội dung bản chất và giá trị ưu việt của
kỷ luật.


Tăng cường kỷ luật trong quân đội ta là quá trình không ngừng nâng cao
trình độ và tính hiệu lực của kỷ luật, làm cho nó có sức mạnh trong chi phối,
kiểm soát và điều chỉnh mọi hoạt động của các tổ chức, đơn vị và mỗi quân
nhân.
Nâng cao trình độ tự giác, tính nghiêm minh, sức mạnh của kỷ luật luôn là
mục tiêu trực tiếp trong xây dựng quân đội ta. Kỷ luật càng nghiêm minh thì
sức mạnh của kỷ luật càng lớn và ngược lại. Sức mạnh của kỷ luật quân đội ta
là ở tính nghiêm minh luôn giữ vững trong mọi điều kiện, tình huống, trên cơ
sở sự tự giác chấp hành, tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, triệu
người như một. Tăng cường kỷ luật quân đội ta phản ánh quan hệ giữa yêu cầu
khách quan của chính quy hoá, hiện đại hoá quân đội với chủ thể thực hiện,
chấp hành là các tổ chức và các quân nhân. Vì vậy, tăng cường kỷ luật là quá
trình nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc chuyển hoá những nội dung, yêu
cầu khách quan của chính quy hoá, hiện đại hoá quân đội vào mỗi quân nhân,
với tư cách vừa là đối tượng, vừa là chủ thể của tăng cường kỷ luật. Đó là quá
trình làm cho vai trò điều chỉnh của kỷ luật đối với hoạt động các tổ chức, suy
nghĩ và hành vi các quân nhân ngày càng cao.
Cùng với sự phát triển của quân đội, những quy định trong hệ thống điều lệnh,
điều lệ, kỷ luật không ngừng được bổ sung, hoàn thiện. Quá trình áp dụng những

kỷ luật không ngừng được nhân lên.
Mục tiêu cơ bản của tăng cường kỷ luật trong quân đội ta là đảm bảo tính
nghiêm minh của kỷ luật trong mọi điều kiện, tình huống, đặc biệt trong chiến tranh.
Sự ác liệt của chiến tranh vẫn có thể làm cho thói quen hành vi kỷ luật vốn ổn định
trong thời bình mà không được giữ vững trong chiến tranh, nếu sự giác ngộ cách
mạng, tính tự giác chưa cao. Vì vậy, tăng cường kỷ luật trong quân đội phải là quá
trình nâng cao giác ngộ cách mạng, tính tự giác cho cán bộ, chiến sĩ để họ chấp hành
nghiêm kỷ luật từ sự thôi thúc nội tâm.
Chiến tranh là một thử thách gay go nhất đối với tinh thần kỷ luật của mỗi
cán bộ, chiến sĩ. Nếu họ không có trình độ giác ngộ giai cấp cao, sẵn sàng hy
sinh cả tính mệnh để phục vụ lợi ích giai cấp và dân tộc, làm sao mà có thể chấp
hành được kỷ luật chiến đấu một cách nghiêm túc, có sáng kiến được[14, tr. 40].


Tăng cường kỷ luật trong quân đội ta là quá trình thường xuyên liên tục,
mọi lúc, mọi nơi. Thói quen hành vi kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ không thể có
ngay một sớm, một chiều, mà là quá trình rèn luyện thường xuyên, liên tục,
bền bỉ, dẻo dai. Đó là quá trình bảo đảm tính thường trực, sẵn sàng chiến đấu
không một phút lơi lỏng, để không bị bất ngờ trước âm mưu, thủ đoạn xâm
lược của kẻ địch; khả năng thích ứng kịp thời với điều kiện chiến tranh có thể
xẩy ra bất cứ lúc nào và đủ điều kiện duy trì tính nghiêm minh của kỷ luật
trong chiến tranh ác liệt. Như vậy, tăng cường kỷ luật là quá trình duy trì kỷ
luật nghiêm minh sát thực tế chiến đấu ngay cả trong thời bình một cách
thường xuyên, liên tục. “Quân đội nhân dân chúng ta phải giữ kỷ luật cho
nghiêm, đừng vì thời bình mà coi nhẹ kỷ luật” [56, tr. 245].
Tăng cường kỷ luật trong quân đội ta là quá trình tích cực, tự giác, mang tính
tổng hợp. Chất lượng, hiệu quả của tăng cường kỷ luật phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
mà những yếu tố đó tác động đồng thuận theo một xu hướng thống nhất. Nó có vai
trò to lớn đối với chính quy hoá, hiện đại hoá và nâng cao sức mạnh chiến đấu của
quân đội. Để tăng cường kỷ luật trong quân đội có chất lượng, hiệu quả phải giải

luật, đứng về mặt này mà xét, vi phạm dân chủ hoặc dân chủ “quá trớn” cũng là làm
suy yếu kỷ luật, vi phạm kỷ luật [14, tr. 38]. Vì vậy mối quan hệ giữa dân chủ
XHCN và kỷ luật tự giác không có gì khác hơn là sự tương tác của hai mặt, mà sự
tác động của mặt này phải đáp ứng yêu cầu của mặt kia. Sự tác động của dân chủ
XHCN đến kỷ luật tự giác phải theo yêu cầu của kỷ luật, phải bảo đảm cho kỷ luật
được tăng cường. Đồng thời, sự tác động của kỷ luật đến dân chủ cũng phải đáp ứng
đòi hỏi của dân chủ, phải bảo đảm cho dân chủ XHCN được phát huy. Điều đó, tự
đặt ra một yêu cầu phải bảo đảm sự thống nhất hài hoà giữa hai mặt này với nhau.
Sự thống nhất đó đối lập với quan hệ mà sự tương tác tạo ra sự thiên lệch, tuyệt đối
hoá một mặt thống nhất hài hoà là một trạng thái lý tưởng của sự thống nhất biện
chứng giữa hai mặt dân chủ XHCN và kỷ luật tự giác trong quân đội ta. Vì vậy, quy
mô, trình độ phát triển của một mặt, sự tác động của mặt này đến mặt kia không phải
tuỳ tiện, mà chịu chi phối của yêu cầu về sự thống nhất hài hoà với nhau.
Kỷ luật và dân chủ quan hệ chặt chẽ với nhau... kỷ luật phải dựa trên cơ sở dân
chủ... Dân chủ phải dưới sự chỉ đạo của tập trung... kỷ luật và dân chủ đều nhằm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status