LUẬN án TIẾN SĨ - mối QUAN hệ GIỮA ĐẢNG cầm QUYỀN và Nhân dân TRONG tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH - Pdf 37

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đánh giá về vai trò của dân và giải quyết mối quan hệ giữa những người
cầm quyền với dân là một vấn đề luôn luôn được đặt ra và thể hiện những
quan điểm rất khác nhau ở các chế độ, các thời đại.
“Dân là gốc của nước” là một quan điểm tiến bộ đã có từ hơn 2000 năm
trước đây trong tư tưởng triết học phương Đông. “Lấy dân làm gốc” cũng là
một bài học và là lời dặn dò quí báu của ông cha ta thể hiện ở các triều đại
tiến bộ trong lịch sử dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc.
Đảng ta, tại Đại hội VI (tháng 12-1986) khi tổng kết quá trình lãnh đạo
cách mạng Việt Nam, đã nêu lên bốn bài học kinh nghiệm, trong đó có bài
học kinh nghiệm hàng đầu là “Lấy dân làm gốc”. Tiếp đó, Hội nghị Ban
chấp hành Trung ương Đảng lần thứ Tám (Khoá VI) năm 1990 đã ra một
Nghị quyết lớn là “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối
quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta được thông qua tại Đại hội VII
(tháng 6-1991) khẳng định: “Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ
lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự
gắn bó mật thiết với nhân dân” [15, 5]. Tăng cường mối quan hệ giữa Đảng


và dân cũng là một nội dung quan trọng được nhấn mạnh trong Nghị quyết
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ ba (khoá VII) và trong văn
kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (khoá VII, tháng 1-1994).
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, các đồng chí lãnh đạo cao nhất cả
Đảng và Nhà nước ta, như các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh,
Đỗ Mười, ở nhiều bài nói và viết cũng thường nhắc nhở và nhấn mạnh về
vai trò của dân và củng cố, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền
với dân.
Như vậy, tư tưởng “Dân là gốc của nước” và bài học kinh nghiệm “Lấy
dân làm gốc” cũng như mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân hiện nay

Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ
Chí Minh rất phong phú và sâu sắc, trong đó những quan niệm của Người về


dân, về việc giải quyết mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân có những
nội dung rất cụ thể và đặc sắc, vừa có giá trị về lý luận, vừa có ý nghĩa như
những bài học kinh nghiệm, những chỉ dẫn quí báu trong hoạt động thực
tiễn. Do đó, trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu để hiểu biết, nắm
vững và vận dụng đúng đắn những tư tưởng của Hồ Chí Minh về dân và về
mối quan hệ giữa Đảng cầm quyền với dân là một yêu cầu cấp bách và thiết
thực đối với các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp và đối với mỗi cán bộ
đảng viên trong công cuộc đổi mới hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay đã có nhiều văn kiện của Đảng ta – như Nghị quyết Đại
hội Đảng các khoá, Nghị quyết Trung ương 8 (khoá VI), Nghị quyết Trung
ương 3 (khoá VII), nhiều bài nói và viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng,
Nhà nước và các đoàn thể nhân dân (Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Vũ Oanh
v.v..) nói về vai trò của dân, về mối quan hệ giữa Đảng với dân trong sự
nghiệp cách mạng và trong công cuộc đổi mới hiện nay. Đặc biêt, phải kể
đến những tác phẩm có giá trị lớn của các đồng chí Trường Chinh, Phạm
Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp viết về con người, sự nghiệp, đạo đức, tư tưởng
Hồ Chí Minh, trong đó có nói nhiều đến tư tưởng vì dân, tác phong gắn bó
với dân và sự yêu quí, kính trọng, tin tưởng của các tầng lớp nhân dân đối
với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ví dụ như các tác phẩm: “Hồ Chủ tịch, lãnh tụ


kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam”, “Chủ tịch Hồ Chí
Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”… của đồng chí Trường
Chinh; “Hồ Chủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại”; “Hồ Chí
Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”… của

phân tích một cách cụ thể nội dung khái niệm Dân và trình bày hệ thống
những quan điểm, thái độ khác nhau về Dân trong lịch sử; phân tích về sự kế
thừa và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh trong những luận điểm của
Người về Dân và về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với Dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án nhằm khẳng định sự đúng đắn, sáng tạo, đầy tinh
thần nhân văn cao cả của tư tưởng Hồ Chí Minh về Dân – với tư cách là
người chủ xã hội, có đầy đủ quyền hành và lực lượng, quyền lợi và nghĩa vụ.


Đó là sự kế thừa những “hạt nhân hợp lý”, tiến bộ trong tư tưởng truyền
thống của dân tộc ta và của nhân loại, đặc biệt là quan điểm cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của nhân dân; đồng thời làm
rõ những đặc điểm về vai trò, trách nhiệm của Đảng cầm quyền (khác với
khi chưa giành được chính quyền) đối với dân, với nước – nhất là trong sự
nghiệp đổi mới hiện nay.
Nhiệm vụ của luận án là:
- Làm rõ nội dung, ý nghĩa khái niệm Dân và những thuật ngữ liên quan
đến khái niệm này.
- Phê phán những quan niệm sai lầm về Dân, đồng thời phân tích, khẳng
định những quan niệm tiến bộ về Dân trong lịch sử mà Hồ Chí Minh đã tiếp
thụ, kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển.
- Trình bày nội dung những luận điểm chủ yếu của Hồ Chí Minh về Dân
và về Đảng cầm quyền trong mối quan hệ với Dân.
- Trình bày và phân tích thực trạng mối quan hệ giữa Đảng và Dân hiện
nay; nêu ra những nguyên nhân yếu kém, những vấn đề phải giải quyết và
những giải pháp, kiến nghị nhằm củng cố tăng cường mối quan hệ giữa
Đảng và dân hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu


hệ giữa Đảng cầm quyền với Dân trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng
và trong sự nghiệp đổi mới hiện nay.
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và giảng
dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, giúp đỡ cho đội ngũ cán bộ
đảng viên, các cấp uỷ đảng và chính quyền thấm nhuần hơn nữa tư tưởng Hồ
Chí Minh về Dân trong hành động, nhằm thực hiện đúng đường lối quan
điểm của Đảng và giải quyết tốt trong thực tiễn “Mối quan hệ giữa Đảng
cầm quyền với Dân”.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận án gồm có 3 chương 6 tiết.


Chương 1
KHÁI NIỆM DÂN VÀ NHỮNG QUAN ĐIỂM THÁI ĐỘ KHÁC NHAU
VỀ DÂN TRONG LỊCH SỬ
Trong bức thư gửi Conrad Schmidt ngày 27-10-1890, Ăngghen đã nêu lên
một luận điểm rất sâu sắc: “Triết học của mỗi thời đại phải có một số vật tư
tưởng tư tưởng nào đó do các triết học trước đó truyền lại, làm điểm xuất
phát” [57: 754].
Tư tưởng về Dân của Hồ Chí Minh rất phong phú và độc đáo. Tuy nhiên,
đó không phải là tư tưởng bẩm sinh, vốn có ở Người. Đó chính là kết quả
của cả một quá trình lâu dài Hồ Chí Minh nghiên cứu, học tập, suy nghĩ
chọn lọc, kế thừa những tư tưởng về dân trong lịch sử được vận dụng phù
hợp với những yêu cầu mới của thời đại trên cơ sở lòng yêu nước thương
dân nồng nhiệt của Người. Vả lại, mỗi tư tưởng hoặc một trào lưu tư tưởng
nào đó trong quá khứ đều có những giá trị và ý nghĩa nhất định, đáp ứng
được phần nào yêu cầu của xã hội đương thời. Do đó khi nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về Dân, thì cũng cần phải “ôn cố tri tân”, nghĩa là trước
hết phải nghiên cứu chính khái niệm DÂN đồng thời với việc nghiên cứu

đều không có khái niệm DÂN mà chỉ nêu khái niệm NHÂN DÂN. Riêng
những cuốn Từ điển tiếng Việt (do Văn Tâm chủ biên in năm 1967 và do
Hoàng Phê chủ biên in và tái bản mấy năm gần đây) đều trình bày cả hai
khái niệm DÂN và NHÂN DÂN. Hai khái niệm này về cơ bản là giống
nhau, có thể thay thế được cho nhau. Ví dụ: Nhà nước của dân, do dân, vì
dân = Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tuy nhiên, hai khái
niệm đó cũng không phải là tuyệt đối đồng nhất, có thể thay thế được cho
nhau trong mọi trường hợp. Ví dụ: không thể thay “Vấn đề dân cày” bằng
“Vấn đề nhân dân cày”. Vì thế, cần phân tích cả hai khái niệm đó.
Ở đây chúng tôi xin làm một sự so sánh để rút ra những nhận thức cần
thiết. Tài liệu dùng làm cơ sở so sánh là những cuốn sách mà chúng tôi vừa
nói ở trên.
Trước hết xin so sánh về khái niệm NHÂN DÂN là khái niệm mà các cuốn
sách đó đều nói đến.
Từ điển tiếng Việt 1967 (Văn Tân chủ biên) ghi: Nhân dân là “Khối người
đông đảo làm nền tảng cho một nước, gồm công nhân, nông dân lao động trí
óc” [88:755].


Từ điển tiếng Việt 1994 (Hoàng Phê chủ biên) ghi: Nhân dân là “Đông đảo
những người dân thuộc mọi tầng lớp, đang sống trong một khu vực địa lý
nào đó” [87: 847].
Từ điển triết học Liên Xô (Rôdentan chủ biên) ghi: “Nhân dân – với nghĩa
thông thường: dân cư của một quốc gia, một nước; với nghĩa khoa học chặt
chẽ: cộng đồng người thay đổi trong lịch sử, bao gồm một bộ phận, những
tầng lớp, những giai cấp của dân cư mà theo địa vị khách quan của mình có
khả năng cùng nhau tham gia giải quyết những nhiệm vụ phát triển tiến bộ
của một nước nhất định trong một thời kỳ nhất định… Nhân dân bao gồm
những người sản xuất trực tiếp – những người lao động, các nhóm dân cư
không bóc lột…” [89: 401].


Quan niệm về nhân dân như trên là phù hợp với một quan niệm của Hồ
Chí Minh khi Người khẳng định: “Nhân dân và quốc dân khác nhau. Nhân
dân là bốn giai cấp công, nông, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử
yêu nước. Đó là nền tảng của quốc dân” [67: 219]. Quan niệm đó cũng phù
hợp với tư tưởng của chủ nghĩa Mác, như Lênin đã nói: “Khi dùng danh từ
“Nhân dân”, Mác không thông qua danh từ ấy xoá mờ mất sự khác biệt về
giai cấp; Mác đã gộp vào danh từ ấy những thành phần nhất định, có khả
năng làm cách mạng đến cùng” [41: 159].
Có một điều chúng tôi nhận thấy là cả hai cuốn Từ điển triết học Liên Xô
và Từ điển triết học giản yếu của ta (tham khảo nhiều của Liên Xô và về cơ
bản cũng giống Liên Xô trước đây) chỉ nêu khái niệm Nhân dân mà không
nêu khái niệm Dân. Có tình trạng đó, theo chúng tôi có lẽ vì hai lý do sau
đây:
Thứ nhất, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: “Thời kỳ trước đây ở
Liên Xô nếu nói đến chữ “Dân” sẽ bị qui kết là phái “Dân tuý” [19: 16].
Thứ hai, có thể là các tác giả quan niệm: Dân có nghĩa là Nhân dân, nên
chỉ cần nêu khái niệm Nhân dân là đủ.
Những cuốn Từ điển tiếng Việt của ta thì nêu đủ cả khái niệm Nhân dân và
khái niệm Dân. Khái niệm Nhân dân đã phân tích ở trên. Còn khái niệm Dân
thì cách nêu của mỗi cuốn từ điển ấy cũng có khác nhau.


Từ điển Văn Tân nêu khái niệm DÂN với 5 nghĩa: “1. Từ dùng để gọi
chung người trong một nước: Dân Việt Nam. 2. Quần chúng đông đảo gồm
có công nhân, nông dân, nhân dân lao động trong một nước có chế độ bóc
lột. 3. Quân chúng đông đảo nói chung. 4. Công dân trong một địa phương:
Dân Hà Nội. 5. Những người thuộc một tầng lớp xã hội: Dân cày” [88: 301].
Từ điển Hoàng Phê nêu khái niệm DÂN với ba nghĩa: “1. Người sống
trong một khu vực địa lý hoặc hành chính, trong quan hệ với khu vực ấy (nói

gọi những người cùng một giống nòi, một dân tộc, một Tổ quốc với mình
nói chung, với hàm ý có quan hệ thân thiết như ruột thịt: Đồng bào cả nước.
Đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng bào Việt kiều; 2. Từ dùng để gọi nhân dân


nói chung không phải là quân đội hoặc không phải là cán bộ: Không đụng
đến tài sản của đồng bào” [87:330].
Có nhà nghiên cứu còn nêu lên và phân biệt khái niệm Nhân dân với khái
niệm dân tộc và khái niệm Tổ quốc. Sự phân biệt này là cần thiết vì đó là
những khái niệm rất liên quan với nhau và hay được nhắc tới. Trong cuốn
“Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh”, GS. Lê Sĩ Thắng khẳng định:
“Tổ quốc và dân tộc là khái niệm hầu như ngang nhau, nhưng không hoàn
toàn đồng nhất với nhau. Khái niệm thứ nhất có bao hàm những yếu tố
không nằm trong khái niệm thứ hai; ví dụ: các yếu tố thuộc về thiên nhiên…
Khái niệm nhân dân không đồng nhất với khái niệm dân tộc, tuy rằng mỗi
thành viên trong nhân dân đều là thành viên của một dân tộc… Không đồng
nhất với dân tộc, tất nhiên nhân dân cũng không đồng nhất với Tổ quốc. Do
đó, lòng yêu Tổ quốc có thể gắn bó, cũng có thể không gắn bó với lòng yêu
nhân dân. Gắn bó hay không gắn bó, điều này tuỳ thuộc ở từng người, từng
chính đảng, từng Nhà nước vào những thời điểm cụ thể trong quá trình lịch
sử của họ” [80:58,59].
Tác giả cuốn sách nói trên còn nêu lên khái niệm Nhân dân (với ý nghĩa
đồng nhất với khái niệm Dân) và đặt trong những mối quan hệ khác nhau để
xác định khái niệm đó một cách cụ thể. Tác giả viết:


“Khái niệm nhân dân thường được dùng trong những mối quan hệ dưới
đây:
Thứ nhất: Giữa Nhà nước với bộ phận còn lại của dân tộc. Trong trường
hợp này, nhân dân bao gồm những người không nằm trong bộ máy Nhà

vị trí đặc biệt trong chế độ phong kiến nên vợ con họ hàng nhà vua dù không
làm gì hết cũng được hưởng đặc quyền, đặc lợi, bổng lộc rất hậu, có khi hơn
cả những quan đại thần. Ví dụ như dưới triều Nguyễn, Hoàng thái hậu (mẹ
vua): 10.000 quan tiền, 360 phương gạo, 60 tấm lụa; thái tử: 1.000 quan tiền,
360 phương gạo; hoàng tử: 500 quan tiền, 360 phương gạo; công chúa: 360
quan tiền, 360 phương gạo. Người trong tôn thất cũng được cấp lương.
Trong khi đó thì quan chánh nhất phẩm (bậc cao nhất) được 400 quan tiền,


300 phương gạo, còn tòng cửu phẩm (bậc cuối cùng) chỉ được 18 quan tiền,
4 phương gạo…[9:49].
Quan là những người có quyền hành trong bộ máy Nhà nước phong kiến
được vua lựa chọn để làm việc cho vua, thực hiện quyền vua và ý vua.
Trong một nước chỉ có một vua, còn quan thì có nhiều người, nhiều tầng nấc
tạo nên một hệ thống quan liêu. Có quan ở triều đình và quan ở địa phương
được sắp xếp thành thứ bậc trên dưới và tuỳ theo thứ bậc mà được hưởng
bổng lộc với số lính hầu và mũ áo, cờ lọng khác nhau. Quan còn được phân
thành hai loại: quan văn và quan võ với những khả năng, sở trường, công
việc, sự hưởng thụ và tính cách khác nhau, thường hay đố kỵ với nhau, thậm
chí thù ghét nhau: “Quan văn mất một đồng tiền, xem bằng quan võ mất
quyền quận công”; “Trâu buộc thì ghét trâu ăn, quan võ thì ghét quan văn
dài quần”. Quan được vua giao cho quyền hành “làm cha mẹ dân”, có nhiệm
vụ “cầm cân nảy mực” giúp vua, an dân. Quan gắn với vua thành một từ
ghép: “vua quan” để chỉ những người nắm quyền thống trị trong chế độ
phong kiến.
Quan còn gắn với “lại” (sai nha). “Lại” là những người không đỗ đạt,
không bao giờ được cất nhắc lên làm quan, nhưng sống lâu ở địa phương,
am hiểu tình hình và công việc, lại thạo làm các thủ tục luật lệ giấy tờ, nên là
chỗ dựa không thể thiếu được của quan. “Lại” thường dựa vào uy thế của


mày?”; quan là những kẻ gian giảo, quay quắt, hay vua oan giáo hoạ cho
người: “muốn nói gian làm quan mà nói”; quan là tai hoạ giáng xuống đầu
dân liên tiếp: “Quan phủ chưa đi, quan tri đã nhậm”. Vì vậy, dân luôn luôn
có tư tưởng và hành động phản kháng lại đối với quan: “quan cần nhưng dân
trễ”, “quan có cần nhưng dân không vội, quan có vội quan lội quan sang”.
Như vậy, nhìn nhận từ nhiều góc độ, đánh giá qua nhiều hiện tượng trong
cả một quá trình lâu dài, dân đã thấy được bản chất của quan là bóc lột,
thống trị, giả dối, tham lam, vụ lợi, luôn luôn đối lập về mọi mặt với dân.
Đương nhiên, không thể “vơ đũa cả nắm” coi quan là hư hỏng tất, ai cũng
như ai. Thực tế lịch sử đã có nhiều ông quan ở các triều đại rất trung thực,
thanh liêm, dám treo từ quan, có lòng yêu nước thương dân, được dân kính
trọng và biết ơn, lập đền thờ, trở thành những phúc thần. Học giả Phan Kế
Bính có viết: “Quan nào có lòng thương dân, nhiều điều nhân đức dân được


nhờ, thì khi phải đổi hoặc khi phải thăng chức khác, dân tại địa phương ấy
thường có đơn ái mộ kêu với quan trên để xin lưu lại cai trị hạt mình. Quan
nào có công đức to với dân thì sau khi mất, dân có khi lập bia kỷ niệm nữa”
[5:201-202]. Tuy vậy, nhìn tổng quát vẫn cần thấy rằng “quan niệm chính
quyền và công việc chính quyền, quan hệ vua tôi điều kiện hoá ông quan, tạo
ra những tính cách mà ít hay nhiều đã là quan thì đều mắc phải. Những cái
đó cũng là điều kiện để ông quan phát triển theo hướng xấu nhất: hống hách,
nịnh hót, tham nhũng, dùng quyền hành mưu lợi riêng, kéo bè kéo cánh…”
[33:225]. Đặc biệt là dưới chế độ thực dân, bọn quan lại người ngoại quốc
thống trị bóc lột dân bản xứ cực kỳ dã man, tàn bạo. Nguyễn Ái Quốc – Hồ
Chí Minh đã vạch mặt chỉ tên, tố cáo tội ác tày trời của bọn chúng trong tác
phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” nổi tiếng và trong hàng trăm bài báo
khác viết vào những năm 20 của thế kỷ này. Trong bài “Các quan cai trị”,
Người khẳng định: “Để bảo vệ cho một chế độ cướp bóc, phải có quân ăn
cướp. Họa hoằn có viên quan cai trị nào lại thật thà và hiểu biết hơn, lập tức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status