Tiểu luận " mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh" - Pdf 16

Đề bài
Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa
vấn đề dân tộc và giai cấp trong tư tưởng
Hồ Chí Minh.
1
Bài làm
I. Hồ Chí Minh và tư tưởng cua Người
Hồ Chí Minh ( 1980-1969)
Lịch sử cách mạng của nước ta trong gần 80 năm qua gắn liền với tên
tuổi sự nghiệp,tư tưởng và đạo đức của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh,
người anh hùng dân tộc vĩ đại,nhà tư tưởng lỗi lạc của cách mạng Việt
Nam.Trong lịch sử dựng nước và giữ nước,dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao
tên tuổi vĩ đại nhưng không ai có sự nghiệp lấy lừng như Chủ tịch Hồ Chí
Minh, không ai có được tầm vóc thời đại,được thế giới ca ngợi và thừa nhận
như Hồ Chí Minh.
Địa vị có một không hai trong lịch sử dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã được xác lập và củng cố vững chắc nhờ công lao to lớn và sự nghiệp vĩ
đại mà Người đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam, cũng như cách mạng
thế giới.
Thắng lợi của cách mạng Việt Nam là thắng lợi của chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy: khi nào chúng ta xa rời hoặc
quán triệt không đầy đủ tư tưởng của Người thì sẽ không tránh khỏi vấp váp
và sai lầm.Có thể nói cùng với chủ nghĩa Mác-Lênin dẫn đường, tư tưởng
Hồ Chí Minh quyết định sự thành bại của cách mạng Việt Nam. Chính vì
vậy, tại Đại hội IX của Đảng đã khẳng định “ lấy chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng là
bước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta”.
2
Hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm những quan điểm về những vấn
đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác-

3
+ Tinh hoa văn hoá nhân loại
+Chủ nghĩa Mác – Lênin
+ Nhân tố chủ quan, bản thân con người Hồ Chí Minh
4 nguồn hình thành nên tư tưởng của Hồ Chín Minh cũng chính là những
nguồn gốc hình thành nên tư tưởng của Người về vấn đề dân tộc chỉ có
sự biểu hiện của nó về các vấn đề, trong các giai đoạn là khác nhau mà
thôi.
Trong quá trình hoạt động thực tiễn cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã
đấu tranh và chỉ đạo giải quyết mối quan hệ giữa giải phóng dân tộc và giải
phóng giai cấp, bền bỉ chống các quan điểm không đúng về vấn đề dân tộc
và thuộc địa, đã phát triển lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc. Ngay từ
khi hoạt động trong phong trào công nhân ở Pháp, Người đã nhận thấy một
hố sâu ngăn cách giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động ''chính quốc''
với giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc địa. Đó là chủ nghĩa sô-
vanh nước lớn của các dân tộc đi thống trị và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi đối
với các dân tộc bị thống trị.
Trong Đại hội Tua, thành lập Đảng Cộng sản Pháp (1920), Nguyễn Ái Quốc
đã kêu gọi những người xã hội ủng hộ phong trào giải phóng ở các thuộc địa
và lên án phái nghị viện đi theo đường lối cơ hội của Đệ nhị quốc tế, theo
đuổi bọn thực dân phản động, từ chối yêu cầu giải phóng của các dân tộc
thuộc địa. Trong nhiều tham luận tại các Đại hội quốc tế và các bài viết,
Nguyễn Ái Quốc đã bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, phê bình một cách kiên
quyết và chân thành những sai lầm, khuyết điểm của các Đảng Cộng sản
chính quốc. Các Đảng Cộng sản này, tuy thừa nhận 21 điều kiện của Quốc tế
cộng sản, trong đó Điều 8 quy định các Đảng Cộng sản ở chính quốc phải
ủng hộ và hoạt động một cách thiết thực giúp đỡ phong trào giải phóng dân
tộc; nhưng trên thực tế hoạt động rất ít, do không nhận thức đúng tầm quan
trọng của vấn đề thuộc địa.
III- Những quan điểm chính của Người về vấn đề dân tộc

no, tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Độc lập thật sự phải gắn với hoà bình thật sự. “Nhân dân chúng tôi
thành thật mong muốn hoà bình…kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ
những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập
cho đất nước”.
Khi đã giành được độc lập tự do thì phải bằng mọi giá để giành và bảo
vệ quyền ấy.
 Năm 1919, vận dụng nguyên tắc dân tộc tự quyết thiêng liêng đã dc
các nước Đồng minh thắng trận trong Chiến tranh thế giới thứ 1 thừa
nhận, thay mặt những người Việt Nam yêu nước, Người đã gửi tới
Hội nghi Vec- xay bản yêu sách gồm 8 điểm đòi quyền tự do, dân chủ
cho nhân dân Việt Nam. Trong đó nổi lên hai nội dung cơ bản:
+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng chế độ tự trị thuộc Pháp.
5
+ Cho nhân dân Việt Nam được hưởng các quyền tự do dân chủ, như
những người Pháp và người nước ngoài được hưởng trên lãnh thổ Việt
Nam.
 Khi trả lời câu hỏi của nữ đồng chí Rôdơ, thư ký Đại hội lần thứ 18
của Đảng Xã hội Pháp, họp ngày 29 tháng 12 năm 1920:Tại sao đồng
chí lại bỏ phiếu cho Quốc tế III? Hồ Chí Minh trả lời: “Rất giản đơn.
Tôi không hiểu chị nói thế nào là chiến lược, chiến thuật vô sản và
nhiều điểm khác. Nhưng tôi hiểu rõ một điều: Quốc tế III rất chú ý
đến vấn đề thuộc địa… Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc
tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi
hiểu.”
 Cũng ngay tại nước Pháp, giữa năm 1922, sau khi làm việc với Bộ
trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Anbe Xarô, Hồ Chí Minh đã nói thẳng với
ông ta mong muốn của mình và của nhân dân Việt Nam rằng: “Cái
mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được tự do, Tổ quốc tôi
được độc lập…”

dân mất nước, của một dân tộc mất độc lập, tự do.
Xuất phát từ phân tích quan hệ giai cấp trong xã hội thuộc địa, chứng
kiên tinh thần đấu tranh quyết liệt của nhân dân các nước thuộc địa, chống
lại tư bản thực dân phương Tây, nhận thức sâu sắc sức mạnh của chủ nghĩa
dân tộc chân chính trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc ta, Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận ở các nước đấu tranh giải phóng dân
tộc, chủ nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn.
Vi thế, “Người ta sẽ không làm gì được cho người An Nam nếu không dựa
trên các lực lượng vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của nhân dân An
Nam”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc chân chính “là một
bộ phận của tinh thần quốc tế”- là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc
chân chính . Nó khác hẳn bản chất với chủ nghĩa dân tộc so vanh, của giai
cấp tư sản, “khác hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động”
đã bị lịch sử lên án.
Khi đã xác định
chủ
nghĩa dân tộc chân chính là một động lực lớn,
từ sự phân tích quan hệ giai cấp trong xa hội thuộc địa, từ truyền thống dân
tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc với tư
cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc thuộc địa. Đó la sức
mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào mà người
cộng sản phải nắm lấy và phát huy, và Người cho đó là, “một chính sách
mang tính hiện thực tuyệt vời”.
H

Chí Minh yêu
cầu
Quốc t
ế

hợp nhu

n nhuy

n dân tộc với giai c

p.
Để
phát huy sức
m

nh
của chủ
nghĩa dân tộc,
giải quy
ế
t
vấn đề
dân tộc một cách tri

t
để, vi

c k
ế
t hợp nhu

n nhuy

n dân tộc với giai


u ki

n lịch sử
cụ thể của
các nước châu Âu, từ yêu
cầu

mục
tiêu
của
cách m

ng vô
sản
châu Âu, các ông đã nh

n m

nh
hơn
đến vấn đề
giai
cấp

đấu
tranh giai c

p, xem vi


nhà kinh đi

n Mác – Lênin
về
mối quan
hệ
giữa
vấn đề
dân tộc và
vấn đ

giai c

p. Người cũng cho r

ng giữa các
vấn đề
này có mối quan
hệ ch

t ch

với nhau. Tuy nhiên, xu

t phát từ đi

u ki

n lịch sử
cụ thể

dân
tộc mới có địa bàn
để tiến
lên làm cách m

ng xã hội
chủ
nghĩa.
8
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh thấy rõ mối
quan hệ giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc với sự nghiệp giải phóng giai
cấp của giai cấp vô sản.“Cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp
của chủ nghĩa cộng sản và của cách mạng thế giới”.
Tư tưởng
kết
hợp đ

c lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội có ý nghĩa to
lớn. Nó chính là ph
ư
ơ
ng
hướng
để giải quy
ế
t
vấn đề
dân tộc thuộc
địa một cách tri


thành lực lượng phản động quốc tế, các dân tộc thuộc địaphải đoàn kết với
nhau, đoàn kết với giai cấp vô sản ở chính quốc. Kết hợp chủ nghĩa yêu
nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản là cơ sở cho khối đoàn kết này.
Kế thừa tinh thần chủ nghĩa yêu nước dân tộc và nêu cao quan tinh
thần quốc tế vô sản của chủ nghĩa Mác- Lênin, đồng thời nhận rõ sức mạnh
của chủ nghĩa đế quốc và sự câu kết các nc đế quốc trong việc xâm chiếm và
thống trị thuộc địa, Hồ Chí Minh cho rằng muốn giải quyết thành công vấn
đề thuộc địa, các nc thuộc địa và giai cấp vô sản chính quốc phải đoàn kết
chặt chẽ với nhau, thực hành chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô
sản. Bản thân Người là 1 tấm gương trong việc này.
9
“Chúng ta phải tranh đấu cho tự do, độc lập của các dân tộc khác như là
đấu tranh cho dân tộc ta vậy”. Chủ nghĩa dân tộc thống nhất với chủ
nghĩa quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh nêu cao tinh thần tự quyết của
dân tộc, song không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình trong việc
giúp đỡ các đảng cộng sản trên thế giới.
III-Vấn đề giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Theo Mác và Lênin, giai cấp là những tập đoàn người to lớn, khác
nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch
sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thì những quan hệ này được pháp
luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất và phân công lao động,
về vai trò của họ trong những tổ chức lao động xã hội, và như vậy là khác
nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải ít hoặc nhiều mà họ được
hưởng.
Giai cấp là những tập đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao
động của tập đoàn khác, do các tập đoàn có địa vị khác nhau trong một chế
độ kinh tế - xã hội nhất định”
Theo Hồ Chí Minh,tất cả của cải vật chất, trong xã hội, đều do công nhân và
nông dân làm ra. Nhờ sức lao động của công nhân và nông dân, xã hội mới
sống còn và phát triển. Nhưng đa số người lao động thì suốt đời nghèo khó,

nhau và đối lập với lợi ích dân tộc. Vì lợi ích giai cấp, trong nhiều trường
hợp giai cấp thống trị bán rẻ lợi ích dân tộc.
Cũng theo Mác –Ăngghen, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhất được lợi
ích dân tộc- lợi ích của mình với các lợi ích của nhân dân lao động và của cả
dân tộc. Chỉ có xoá bỏ áp bức, bóc lột giai cấp thì mới xoá bỏ áp bức dân
tộc, đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và cho dân tộc khác. Tuy
nhiên, Mác và Ăngghen không đi sâu nghiên cứu vấn đề dân tộc vì ở Tây Âu
vấn đề dân tộc đã được giải quyết trong cách mạng tư sản, đối với Mác, vấn
đề dân tộc chỉ là thứ yếu so với vấn đề giai cấp
Khi nhấn mạnh vài trò của nhân tố giai cấp, chủ nghĩa Mác - Lênin
không hạ thấp vai trò của nhân tố dân tộc trong quan hệ giai cấp - dân tộc.
Trong sự phát triển lịch sử, vấn đề dân tộc là một trong những vấn đề quan
trọng hàng đầu của cách mạng vô sản. Muốn nhận thức và giải quyết tốt
vấn đề dân tộc “phải có quan điểm của giai cấp công nhân”, đó là quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin.
2- Quan điểm của Hồ Chí Minh
Tư tưởng biện chứng của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc
với vấn đề giai cấp là một trong những nhân tố đảm bảo thành công của cách
mạng Việt Nam, một trong những đóng góp sáng tạo và xuất sắc của Người
vào kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
11
Vấn đề dân tộc luôn gắn với vấn đề giai cấp, phụ thuộc vào vấn đề giai cấp,
và dân tộc bao giờ cũng do một giai cấp đại diện, quan hệ này là quan hệ lợi
ích, giai cấp phong kiến và tư sản đã từng đại diện cho dân tộc và giải quyết
quan hệ lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc nhưng không triệt để, còn nhiều
mâu thuẫn ví dụ vua quan Nhà Nguyễn đầu hàng Pháp, bảo vệ lợi ích của
dòng tộc, Pháp đầu hàng Đức,…
Tiếp nhận những quan điểm đúng đắn của CNMLN về vấn đề giai cấp và
thuộc địa, Người cho rằng ph


nhất của Đảng Cộng Sản trong quá trinh cách mạng Việt Nam.
- Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công
nhân, nông dân và tầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để chống lại bạo lực phản cách
mạng của kẻ thù.
- Thiết lập chính quyền nhà nước của dân, do dân và vì dân.
- Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
 Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết
Đối với Vi

t Nam, Hồ Chí Minh cho r

ng Vi

t Nam là m

t nước thuộc
địa nửa phong ki
ế
n, mâu thu

n giữa dân tộc Vi

t Nam v

i
chủ
nghĩa
đế
quốc và tay sai nổi trội hơn mâu thu

thể giải quy
ế
t
vấn đề
dân tộc mới gi

i phóng được giai c

p.
Quy

n lợi dân tộc và giai
cấp
là thống nh

t, quy

n lợi dân tộc không
còn, thì quy

n lợi mỗi giai c

p, mỗi bộ ph

n cũng không thể tồn tại.
 Giải phóng dân tộc là tiền đề cho giải phóng giai cấp
12
Hồ Chí Minh giải quyết vấn để dân tộc theo quan điểm giai cấp,
nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc. Giải phóng dân
tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân la điều kiện để giải phóng

làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng
sản''. Như vậy là, lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, với Hồ Chí
13
Minh, sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với cách mạng
XHCN. Cuộc cách mạng này kết hợp trong bản thân nó tiến trình của hai sự
nghiệp giải phóng: giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ thực dân và giải phóng
giai cấp khỏi ách áp bức bóc lột. Vấn đề dân tộc được giải quyết trên lập
trường của giai cấp công nhân - điều đó phù hợp với xu thế thời đại và lợi
ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ trong dân tộc
 Giữ vững độc lập của dân tôc mình đồng thời tôn trọng độc lập của
các dân tộc khác
Là một chiến sĩ quốc tế chân chính, Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho
độc lập của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các
dân tộc bị áp bức.
Nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, thực hiện nguyên tắc quyền dân tộc tự
quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ
các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới, đề ra khẩu hiệu “giúp
bạn là tự giúp minh", và chủ trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi
nước mà đóng góp vào thắng lợi chung của cách mạng thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách
mạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc va giai cấp,
chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Đúng như
Ph. Ăngghen từng nói: những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trao
công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính”.
V-Vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh trong
công cuộc đổi mới hiện nay
Trong thực tiễn công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc
XHCN hiện nay, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hố Chí Minh
về mối quan hệ biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp càng có ý
nghĩa cực kỳ quan trọng hết sức cấp thiết. Bởi vì, thực tế cho ta bài học là,

chính quyền phải sử dụng bạo lực CM của quần chúng chống lại bạo lực
phản CM.
Kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH: Đây là nguyên tắc bất
biến cần vận dụng mọi hoàn cảnh.
Phong trào CM thế giới có lúc tả, có lúc hữu, lúc nhấn mạnh lợi ích
giai cấp coi nhẹ lợi ích dân tộc, gần đây lại gạt bỏ lợi ích giai cấp, tuyệt đối
hơn lợi ích dân tộc, từ bỏ CM, từ bỏ CN quốc tế vô sản. Đảng ta vẫn khẳng
định: Dù Liên Xô, Đông Âu tan rã, thế giới biến động, đấu tranh giai cấp
dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức khác, nhưng không được buông lơi
quyền lợi giai cấp, nhấn mạnh lợi ích dân tộc làm suy yếu phong trào CM
15
thế giới, tan rã CNXH, bùng phát xung đột dân tộc, tôn giáo, lãnh thổ là làm
giàu cho bọn lái súng,…
Cần chống lại quan điểm cho rằng đất nước đi theo con đường nào
cũng được, không nhất thiết độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, CNXH là
lý tưởng nhưng là không tưởng, ép ta từ bỏ CNXH, đa nguyên chính trị, từ
bỏ sự lãnh đạo của Đảng để có tự do tư sản.
Đảng ta khẳng định xây dựng CNXH vì mục tiêu "dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" không chỉ là vấn đề giai cấp mà
còn là vấn đề dân tộc, ở Việt Nam chỉ có Đảng CS Việt Nam mới là đại biểu
cho lợi ích giai cấp CN,nhân dân lao động và dân tộc, mới xây dựng được
khối đại đoàn kết thực hiện mục tiêu nêu trên những lệch lạc tư tưởng tả
hoặc hữu đều trái với tư tưởng Hồ Chí Minh.

3. Chăm lo xây dựng khối đại đòan kết dân tộc, giải quyết tốt mối quan
hệ giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam:
Trong đổi mới, Đảng ta lấy mục tiêu dân giàu nước mạnh… làm điểm
tương đồng, đồng thời cũng chấp nhận những điểm khác nhưng không trái
với lợi ích dân tộc (5 ngón tay có ngón dài ngón vắn, nhưng dù dài vắn đều
hợp lại nơi lòng bàn tay), giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí

kết hợp nhuần nhuyễn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc; trong chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam luôn luốn gắn bó hữu cơ với lý tưởng của giai cấp công
nhân Việt Nam. Nền độc lập thật sự của dân tộc; tự do, sự giàu mạnh, văn
minh và hạnh phúc của nhân dân chỉ có thể đạt được một cách bền vững
trong sự nghiệp cách mạng theo mục tiêu, lý tưởng của giai cấp công nhân.
Bởi vậy, ngay từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta đã
xác định rõ: đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là quan
niệm đúng đắn hơn về CNXH và thực hiện mục tiêu ấy bằng những hình
thức; bước đi và biện pháp phù hợp. Nói cách khác, giữ vững định hướng
XHCN là nguyên tắc cơ bản của quá trình đổi mới.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến
nay, Đảng ta đã ngày càng cụ thể hoá và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn
diện, mà thực chất là nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác -
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp đúng đắn vấn đề dân tộc với vấn đề
giai cấp trong công cuộc xây đựng CNXH ở nước ta.
Văn kiện của Đảng ta tại Đại hội lần thứ IX đã xác định rõ: “mối quan hệ
giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong
nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây đựng và
bảo vệ Tổ quốc được sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân
thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc
gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.
Nhìn lại lịch sử dân tộc ta trong thế kỷ XX, một thế kỷ vận động và phát
triển mau lẹ và phức tạp của tình hình quốc tế, chúng ta càng thấy sự đúng
đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và giai cấp.
17
Vấn đề đó đã được kiểm nghiệm bằng thực tế, cả trong chiến tranh ác liệt lẫn
trong những khó khăn của hoà bình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày nay,
tư tưởng Hồ Chí Minh đang thể hiện giá trị trường tồn nhất là trong bối cảnh
các dân tộc đang đứng trước những thách thức cực kì nguy hiểm khi các thế
lực hiếu chiến dựa vào tiềm lực quân sự hiện đại tiến hành chiến tranh xâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status