Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp trong tư tưởng hồ chí minh về mục tiêu và nhiệm vụ của cách mạng - Pdf 34

Dàn ý:
A.

PHẦN MỞ ĐẦU: giới thiệu vấn đề.

B.

PHẦN NỘI DUNG:
I. Khái quát về dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hố Chí Minh.
II. Biện chứng giữa dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí
Minh.
III. Liên hệ thực tế.

C.

1

PHẦN KẾT LUẬN.

1


BÀI TẬP LỚN
Câu hỏi: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giai cấp trong
tư tưởng Hồ Chí Minh về mục tiêu và nhiệm vụ của Cách Mạng Việt Nam.
Đảng ta đã vận dụng quan điểm này trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện
nay như thế nào?

BÀI LÀM
A.


2


trong những sáng tạo đó. Dân tộc là cộng đồng người ổn định làm thành nhân
dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi
quyền chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh
chung.
Còn, giai cấp là tập đoàn người trong xã hội, có địa vị khác nhau, có
quan hệ sản xuất khác nhau, có quan hệ tư liệu sản xuất khác nhau, có
phương thức hưởng thụ khác nhau về tài sản xã hội.
Tóm lại, vấn đê dân tộc và vấn đề giai cấp có mối lien hệ mật thiết với
nhau. Hồ Chí Minh đã nhìn nhận được mối quan hệ đó một cách đúng đắn
dựa trên quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-lênin và đã tìm ra con đường
giải phóng cho dân tộc.
B. PHẦN

NỘI DUNG:
I. Khái quát về dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí
Minh.
1. Quan điểm của Mác-lênin về mối quan hệ giai cấp và dân tộc.

a, nội dung quan điểm:
Theo mác-Ăng ghen, cần phải triệt để xóa bó tình trạng áp bức, bóc lột
giai cấp thì mới có điều kiện xóa bỏ ách áp bức, bóc lột nhân dân, mới đem
lại độc lập thật sự cho dân tộc. Đồng thơi, chỉ có giai cấp vô sản mới thống
nhất được lợi ích của giai cấp mình với lợi ích của nhân dân lao động và dân
tộc, mới thực hiện được sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng nhân loại.
Trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc, Lênin đã chỉ rõ sự cần thiết phải
thực hiện liên minh giữa giai cấp vô sản ở chính quốc với các dân tộc bị áp

của Mác-Lêenin và mối quan hệ giữa dân tộc-giai cấp trong cách mạng giải
phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Trên cơ sở đó, Người đã
vừa phát triển nhận thức, vừa xử lý mối quan hệ đó theo quan điểm mới phù
hợp với những nhiệm vụ cụ thể của cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước
thuộc địa nói chung và Việt Nam nói riêng. Điều đó thể hiện ở những khía
cạnh sau:
a. Nội dung quan điểm:
ngược lại với Mác, ăngghen, Lênin trong mối quan hệ giữa dân tộc-giai cấp,
Hồ Chí Minh chú trọng về vấn đề dân tộc hơn. Với Người, chủ yếu là vấn đề
dân tộc thuộc địa, dân tộc bản xứ. Vần đề dân tộc thuộc địa thực chất là vấn
đề đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa nhằm thủ tiêu sự thống trị
của nước ngoài, giành độc lập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân,
thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập, vấn đề
đó được biểu hiện qua 4 nội dung chính:
Một là, các dân tộc thuộc địa trước hết phải đấu tranh giành độc lập cho
dân tộc mình, sau đó mới có địa bàn để tiến lên làm cách mạng xã hội chủ
nghĩa.
Hai là, không được ỷ lại, chờ thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính
quốc.
Ba là, phải dựa vào sức mình là chính, biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ
của giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn bộ thế giới.
Bốn là, có sự đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản thế
giới.
Những nội dung này đã được áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn
cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng xác định
4

4



khỏi ách áp bức bóc lột. Về vấn đề giải quyết dân tộc được giải quyết trên lập
trường của giai cấp công nhân. Điều đó phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp
với lợi ích của các giai cấp và lực lượng tiến bộ của các dân tộc. Sức mạnh đi
lên thắng lợi của cách mạng Việt Nam không phải là cái gì khác mà chính là
mục tiêu giai cấp trên cơ sở định hướng xã hội chủ nghĩa.
Như chũng ta đã biết, Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với
chủ nghĩa Mác-lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước
truyền thống Việt Nam trong sự thống nhất với chủ nghĩa Quốc tế vô sản.
5

5


Bởi vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh “những tư tưởng dân tộc chân chính
đồng thời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính”. Sự phát triển trong tư
tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt
Nam, trong sự thúc đẩy lẫn nhau giữa dân tộc và giai cấp. Ý thức giác ngộ về
cuộc đấu tranh để giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất, cũng là động
lực chủ yếu để Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp quản
quan điểm Macxit về giai cấp. Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo
quan điểm giai cấp, nhưng đồng thời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân
tộc. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề cho giải phóng giai cấp. Giải phóng dân
tộc khỏi ách thống trị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để gải phóng giai
cấp bị trị khỏi sự áp bức, bóc lột của giai cấp thống trị. Thế nên lợi ích của
giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc. điều này hoàn toàn phù hợp với
lập luận của chủ nghĩa Mác- Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc
và giai cấp đã nói ở trên. Trong tiến trình cách mạng, nhất là ở những thời
điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị tổng khởi nghĩa trong cách
mạng Tháng 8-1945 hay những năm tháng cam go của cuộc kháng chiến
chống Mỹ sau này, Hồ Chí Minh nhấn mạnh quyền lợi của dân tọc là trên hết

là hoàn toàn không đủ. Chỉ khi nào toàn dân cùng tham gia đấu tranh thì sức
mạnh dân tộc mới trở thành sức mạnh vô song.
b. Các nhân tố cơ bản để có thể làm thắng lợi cách mạng giải phóng dân
tộc:
Với những quan điểm mới đó, Hồ Chí Minh đã chỉ ra những nhân tố cơ
bản để có thể giành thắng lợi như sau:
Thứ nhất, động lực lớn của đất nước là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần
dân tộc. Theo đó, dân tộc và giai cấp, quyền lợi dân tộc và quyền lợi giai cấp
luôn thống nhất và phù hợp với lịch sử của xã hội Việt Nam. Bởi vì, Trong
lịch sử “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Còn ở thời đại Hồ
Chí Minh, chủ nghĩa dân tộc đã chuyển thành “chủ nghĩa dân tộc bản xứ”
hay chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại. Ở Việt Nam, “cuộc đấu tranh
giai cấp không diễn ra giống như oqr phương Tây”. Vì thế, chủ nghĩa yêu
nước Việt Nam hiện đại vừa kế thừa tinh thần dân tộc được hun đúc qua
hàng nghìn năm lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, vừa khác về bản chất so
với chủ nghĩa dân tộc Sô-vanh và chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi. Nod có nhiệm
vụ giải quyết đồng thời hai mâu thuẫn cơ bản của cách mạng Việt Nam là
mâu thuấn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và mâu thuẫn giữa
nông, công và tư sản, phong kiến trong nội bộ dân tộc. Từ đó, Người đề nghị:
“phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế cộng sản… Khi chủ
nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, nhất định sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế”.
Thứ hai, đường lối cứu nước là đặt cách mạng giải phóng dân tộc trong
quỹ đạo của cách mạng vô sản, nghĩa là độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Trên cơ sở ấy, Hồ Chí Minh chỉ rõ: Hai giai đoạn của cách
mạng Việt Nam là làm tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã
hội cộng sản và mục tiêu giải phóng dân tộc, giai cấp, con người của cuộc
cách mạng ấy. Khi cách mạng thành công, phải thiết lập chế độ sở hữu công
cộng về tư liệu sản xuất và xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, đảm
bảo hài hòa giữa độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc con người. Do vậy,
giành được độc lập dân tộc rồi, phải đi lên chủ nghĩa xã hội. Người viết: “nếu

quan hệ dân tộc-giai cấp.

II. Biện chứng giữa dân tộc và giai cấp trong tư tưởng Hồ Chí
Minh:
“Tư tưởng Hồ Chí Minh” về sự gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu
tranh cách mạng: Giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản, không phải chỉ là
sự chứng minh cho tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác-Lênin , mà còn là sự
phát triển sáng tạo của Hố Chí Minh mang giá trị định hướng sâu sắc. Qua
thực tiễn đấu tranh và lãnh đạo cách mạng Việt Nam và tham khảo cách
mạng các nước khác, Hồ Chí Minh đã có những giải pháp đúng đắn, sáng
tạo, đáp ứng được yêu cầu của lịch sử, góp phần làm phong phú thêm kho
tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phân tích sự kết hợp hữu cơ giữa giái
phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, ta có thể thấy Hồ Chí Minh đã vạch ra
hướng đi vô cùng đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, đó là chìa khóa đi đến
thành công của cách mạng Việt Nam, vì những lí do sau:
8

8


Trước hết, muốn giành được thắng lợi triệt để thì cách mạng giải phóng
dân tộc thời đại mới phải đi vào quỹ đạo và phải là một bộ phận khăng khít
của cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng ấy phải được lãnh đạo bởi chính
Đảng của giai cấp công nhân, nhưng phải có toàn dân tham gia, trong đó lực
lượng nòng cốt là liên minh công-nông.
Từ quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Người đã
khẳng định: Cách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới phải do đảng
lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai
cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam”. Phát
triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin về Đảng cộng sản, Người cho rằng:



Lênin và trong tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ có thể áp dụng phù hợp với một số
nước khác, không phù hợp với Việt Nam. Việt Nam vốn là một nước thuộc
địa nửa phong kiến, vấn đề dân tộc bao giờ cũng chi phối. Thực tiễn đó chỉ ra
rằng, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, sự nghiệp cách mạng Việt Nam đều
phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc. Trên thực
tế,từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay, Đảng ta đã ngày càng cụ
thể hóa và hoàn thiện đường lối đổi mới toàn diện, thực chất là nhận thức
đúng đắn và sâu sắc hơn lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh, kết hợp đúng đắn và linh hoạt giữa vấn đề dân tộc và giai cấp
trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Giờ đứng trong thời bình nhìn lại quá khứ gian nan đấy oanh liệt của đất
nước, ta nhận thấy nhân tố quan trọng đưa Việt Nam đi lên thắng lợi vẻ vang
chính là nhờ sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn nữa là
nhờ sự mở đường sáng suốt của Hồ Chí Minh trong việc giải quyết mối quan
hệ đúng đắn giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong điều kiện lịch sử cụ
thể của đất nước.
Bởi thế nên, dù đang trong thời bình hay, mỗi công dân Việt Nam cần có
ý thức trau dồi và rèn luyện để thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, hiểu rõ và
sâu sắc mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp. Điều này đặc biệt quan trọng
đối với những cán bộ, Đảng viên và những nhà lãnh đạo đất nước trong việc
dùng đó để làm cơ sở để hoạch định chiến lược, chính sách và phát triển đất
nước. Xuất phát từ vị trí của người dân thuộc địa mất nước, từ truyền thồng
dân tộc Việt Nam và thực tế cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ, dưới ánh sáng
của chủ nghĩa Mác-Lênin trên lập tường của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh đã
xử lí đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, đặt vấn đề dân tộc lên
hàng đầu, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa. Đúng như Ăngghen
đã nhận định: Những tư tưởng dân tộc chân chính trong phong trào công
nhân bao giờ cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính.

nước: “dân giàu-nước mạnh-xã hội công bằng-dân chủ-văn minh”.
Đặc biệt, ở thế kỷ XXI này, mở đầu thiên niên kỷ thử ba của một thế giới
đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh gay gắt
của cộng đồng quốc tế. Nhưng dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải
đối mặt với xu thế toàn cầu hóa, thì giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh trong đó
có quan hệ dân tôc-giai cấp vẫn luôn là quốc bảo của đất nước, luôn phù hợp
với xu thế thời đại. Từ đó chứng tỏ cho cả dân tộc Việt Nam và bạn bè thế giới
rằng: Tư tưởng cao đẹp Hồ Chí Minh đã, đang và sẽ là mãi mãi là chân lý sáng
ngời, góp phần vào sự kiến tạo và phát trển của dân tộc và cả nhân loại.
2. Các hạn chế còn gặp phải trong vấn đề dân tộc-giai cấp của Đảng ta ngày
nay:

11

11


- Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị còn
chậm đổi mới, có mặt lúng túng.
-Việc đổi mới hệ thống chính trị chưa được quan tâm đúng mức, còn chậm trễ so
với đổi mới kinh tế.
- Lý luận về hệ thống chính trị và về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta còn
nhiều điểm chưa sáng suốt.
- xã hội vẫn chưa thoát khỏi tình trạng hành chính, xơ cứng; một số cán bộ bị
“viên chức hoá”, chưa thật gắn bó với quần chúng. Nạn tham nhũng trong hệ
thống chính trị còn trầm trọng, bệnh cục bộ, bản vị, địa phương còn khá phổ
biến. Quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm.
- Việc cải cách nền hành chính quốc gia còn rất hạn chế. Bộ máy hành chính
còn nhiều tầng nấc làm cho việc quản lý các quá trình kinh tế - xã hội chưa thật
nhanh, nhạy và có hiệu quả cao.Tình trạng quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu

có gì quý hơn độc lập tự do”. Riêng với dân tộc Việt Nam, thì sự phát triển đó
theo phương hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện điều mong muốn cuối cùng của
Hồ Chí Minh là: “Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập
dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế
giới”. Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới theo
đường lối chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam
ngày càng thu được những thắng lợi to lớn có ý nghĩa lịch sử. Đó là thắng lợi
của đường lối nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
*Tài liệu tham khảo*
- Giáo trình tư tư tưởng Hồ Chí Minh.
-Tạp chí Đảng Cộng sản.
-cách mạng và Đảng trong thời kỳ đổi mới.
-Tinh thần dân tộc ở chủ tịch Hồ Chí Minh.
-Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh.

13

13




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status