tìm hiểu mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và quá trình hoang mạc hóa ở khu vực duyên hải miền trung việt nam - Pdf 24

MỤC LỤC
Phần I: MỞ ĐẦU:……………………………………………………………….3
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:…………………………………………………… 3
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:…………………………………………… 3
III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:…………………………………………… 4
IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:……………………………… 4
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:……………………………………… 5
VI. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI:…………………………………… 5
Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:………………………….6
Chương I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:……………… 6
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:………………………………………………………… 6
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:…………………………………………………… 7
Chương II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:…………………… 8
I. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH HOANG MẠC HÓA Ở
DUYÊN HẢI MIỀN TRUNG:………………………………………………… 8
1. Điều kiện tự nhiên:………………………………………………………… 8
2. Các nhân tố kinh tế - xã hội:…………………………………………… 15
II. THỰC TRẠNG HOANG MẠC HÓA MỘT SỐ KHU VỰC Ở DUYÊN HẢI
MIỀN TRUNG:……………………………………………………………… 17
A. CHỈ TIÊU PHÂN LOẠI CÁC ĐỚI CẢNH QUAN TRÊN TRÁI ĐẤT:
1. Chỉ số khô hạn của A.A Grigoriev và M.I.Buđưco:………………… 17
2. Hệ số ẩm ướt của G.N.Vưxotxki và N.N.Ivannov:…………………… 18
B. HOANG MẠC HÓA Ở QUẢNG BÌNH- QUẢNG TRỊ VÀ HOANG MẠC
HÓA Ở NINH THUẬN- BÌNH THUẬN:…………………………………… 20
1
I. HOANG MẠC HÓA Ở QUẢNG BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ:……………….20
1. Khái quát chung:…………………………………………………… 20
2. Thực trạng hoang mạc hóa ở Quảng Bình, Quảng Trị:………… 21
II. HOANG MẠC HÓA Ở NINH THUẬN VÀ BÌNH THUẬN:…………….24
1. Khái quát chung:………………………………………………………… 24
2. Thực trạng hoang mạc hóa ở Ninh Thuận, Bình Thuận:………………… 25

Đề tài là sự tiếp tục của qúa trình nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế - xã hôi của loài người với quá trình hoang mạc hóa nhưng đi sâu
3
nghiên cứu cụ thể ở khu vực Duyên hải miền Trung Việt Nam nên các mục đích
cần đạt được là:
- Tìm hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa phát triển kinh tế - xã hội và quá
trình hoang mạc hóa.
- Phân tích nguyên nhân và hiện trạng hoang mạc hóa ở Duyên hải miền Trung
Việt Nam.
- Nêu các giải pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi nguy cơ hoang mạc hóa ở
Duyên hải miền Trung Việt Nam.

III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
- Là các mục tiêu cụ thể mà đề tài cần thực hiện bao gồm:
+ Tìm hiểu đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu
vực Duyên hải miền Trung ảnh hưởng đến qúa trình hoang mạc hóa.
+ Phân tích hiện trạng và hậu quả của quá trình hoang mạc hóa ở một số nơi
điển hình trong khu vực Duyên hải miền Trung Việt Nam.
+ Nêu một số giải pháp nhằm hạn chế sự phát triển và tác hại của quá trình
hoang mạc hóa.

IV. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
Trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 2014 tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế - xã hội và
quá trình hoang mạc hóa ở khu vực Duyên hải miền Trung Việt Nam”. Đối
tượng nghiên cứu của đề tài là một vấn đề rất cụ thể được thực hiện trên cơ sở
tiếp tục của quá trình nghiên cứu trên phạm vi toàn thế giới mà tôi đã thực hiện.
Tuy nhiên do thời gian và vốn tri thức còn hạn hẹp nên trong đề tài này tôi mới
4
chỉ dừng lại ở việc thu thập, xử lí các thông tin và rút ra các kết luận chứ chưa có


I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Hoang mạc và quá trình hoang mạc hóa từ lâu đã trở thành đề tài nghiên cứu
của rất nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như: các nhà sinh thái
học, địa lí học, thổ nhưỡng học, kinh tế - xã hội học… Tuy nhiên mỗi tác giả
thuộc các lĩnh vực khác nhau lại nghiên cứu chúng ở những mức độ, khía cạnh
khác nhau và nhằm phục vụ những mục đích khác nhau. Chẳng hạn như với nhà
địa lí nổi tiếng Xô Viết L.P.Subaev trong cuốn “Địa lí tự nhiên đại cương” thì
nghiên cứu hoang mạc với các đặc điểm về khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, sinh
vật. Trong đó ông chỉ rõ các đặc điểm về thổ nhưỡng, các dạng địa hình cũng
như nguyên nhân hình thành các dạng địa hình ở vùng hoang mạc. Còn các nhà
kinh tế - xã hội và môi trường thì lại đi sâu nghiên cứu về ảnh hưởng của hoang
mạc, của quá trình hoang mạc hóa đến việc phát triển kinh tế - xã hội cũng như
đời sống của con người và các tác động của việc phát triển kinh tế - xã hội đến
quá trình hoang mạc hóa.
Ở Việt Nam vấn đề này cũng đang được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Đã
có nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu và nhiều cuộc hội thảo
bàn về vấn đề này. Tiêu biểu như các tác giả: Vũ Tự Lập, Lê Bá Thảo, Nguyễn
6
Hữu Danh, Đỗ Hưng Thành… Trong điều kiện hiện nay của nước ta việc nghiên
cứu, tìm hiểu quá trình hoang mạc hóa, việc đánh giá tác động và tìm giải pháp
ngăn chặn, đẩy lùi quá trình này là điều rất cần thiết.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Xuất phát từ thực tế điều kiện tự nhiên Việt Nam: một nước nằm hoàn toàn
trong vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu, với kiểu khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa-
nắng lắm, mưa nhiều. Điều kiện khí hậu như vậy đã tạo cho hệ thực vật nước ta
phát triển phong phú, đa dạng. Nhìn chung xét về mặt lí thuyết nước ta hoàn toàn
không phát triển cảnh quan hoang mạc như một số nước cùng vĩ độ khác. Song
trên thực tế nước ta lại đang phải đối mặt với quá trình hoang mạc hóa diễn ra ở

9
- Phía Nam giáp Đông Nam Bộ.
- Phía Tây là dãy Trường Sơn.
- Phía Đông giáp biển Đông.
Vị trí địa lí, hình dạng và kích thước lãnh thổ của vùng đã tạo nên sự khác biệt
cơ bản về mặt tự nhiên của vùng so với cả nước. Trên thực tế DHMT được coi
là vùng có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt: nghèo tài nguyên, lắm thiên tai.
b. Địa hình.
Địa hình được coi là một trong các nhân tố cơ bản dẫn đến quá trình hoang
mạc hóa ở vùng này. Duyên hải miền Trung có địa hình tương đối phức tạp, mức
độ chia cắt lớn và có sự phân hóa sâu sắc trong cấu trúc. Tuy là đồng bằng
nhưng dải đồng ven biển phía Đông này lại hết sức hẹp ngang, không liên tục mà
bị chia cắt thành một chuỗi các đồng bằng nhỏ do các dãy núi đâm ngang ra
biển. Các dãy núi đâm ngang ra biển này không chỉ tạo nên sự phân cách các
đồng bằng mà còn có vai trò như một bức chắn địa hình tạo nên sự khác biệt về
khí hậu. Nhiều nơi địa hình núi cao bao bọc đã khiến cho nền khí hậu nhiệt đới
gió mùa ẩm bị biến thành kiểu khí hậu nhiệt đới khô - đây là một trong các
nguyên nhân gây hiện tượng hoang mạc hóa. Mặt khác do dãy Trường Sơn chắn
sát biển, lại có cấu tạo bất đối xứng ở hai sườn: dốc đứng ở phía đông, mở rộng
về phía Tây, bởi vậy mà sông ngòi ở khu vực này cũng ngắn, dốc và ít có vai trò
trong việc thành tạo nên các đồng bằng. Mặt khác ngay bản thân trong các đồng
bằng cũng có cấu tạo không đồng nhất mà bị phân chia thành từng vệt, đi từ
Đông sang Tây ta sẽ lần lượt gặp các đơn vị địa hình:
+ Các dải cồn cát ven biển, các dải cồn cát này thường cao hơn hẳn vùng đồng
bằng phía trong.
+ Vùng trũng thấp ở giữa.
10
+ Trong cùng là dải đất hẹp được bồi tụ thành đồng bằng, chuyển tiếp sang
vùng đồi núi ở phía Tây.
Sự sắp xếp địa hình như vậy cũng tạo điều kiện cho quá trình xâm thực do gió

C, từ 16
o
B trở vào đạt
trên 9000
o
C, khu vực này không còn mùa đông lạnh.
- Lượng bức xạ mặt trời nhận được trong năm rất lớn, trung bình đạt trên 100
kcal/cm
2
/năm, khu vực cực Nam Trung Bộ đạt 140-160 kcal/cm
2
/năm.
- Cân bằng bức xạ quanh năm cao đạt trung bình khoảng trên 90 kcal/cm
2
/năm,
riêng Phan Thiết đạt trên 100 kcal/cm
2
/năm.( Nguồn: Địa lí tự nhiên Việt Nam-
Vũ Tự Lập).
Nền nhiệt cao tạo điều kiện cho sự sinh trưởng, phát triển của các loài sinh vật
nhiệt đới, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình phong hóa đá mẹ hình thành thổ
11
nhưỡng diễn ra nhanh chóng và triệt để. Tuy nhiên nhiệt độ cao chỉ có thể thuận
lợi khi đi cùng với một chế độ ẩm lớn.
* Chế độ mưa- ẩm:
Khác với chế độ nhiệt, chế độ mưa- ẩm trong vùng lại có sự phân hóa sâu sắc
theo không gian và thời gian.
- Theo không gian: Có những khu vực mưa rất nhiều đạt trị số trung bình trên
2500mm/năm. Ví dụ: Hà Tĩnh 2642mm/năm; Huế 2868 mm/năm… song cũng
có khu vực lượng mưa rất thấp đạt trung bình dưới 1000mm/năm, điển hình như

những nơi mưa ít trong vùng thì lượng bốc hơi có thể cao hơn lượng mưa, xét trị
số khô hạn chỉ đạt trong khung của đới cảnh quan bán hoang mạc.
Một điểm đáng lưu ý trong chế độ mưa, nhiệt, bốc hơi của vùng đó là các
tháng có lượng mưa cao nhất lại không trùng với các tháng nóng nhất, do vậy
lượng bốc hơi lớn nhất không trùng với thời kì độ ẩm lớn nhất, điều này càng
làm sâu sắc hơn tính chất bất điều hòa trong chế độ mưa ẩm của vùng và làm
tăng thêm tính khô hạn trong mùa khô.
* Ngoài ra chế độ gió cũng có phần ảnh hưởng đến quá trình hoang mạc hóa
trong vùng bởi lẽ cường độ gió, hướng gió có ảnh hưởng đến lượng mưa, hướng
và tốc độ xâm thực. Trong vùng chịu tác động của một số loại gió chính:
+ Gió mùa Đông Bắc: hoạt động trong mùa đông chủ yếu tác động ở khu vực
Bắc Trung Bộ, gió này kết hợp với bức chắn địa hình thường mắc lại ở sườn
Đông Trường Sơn và gây mưa lớn vào thời kì thu đông cho khu vực này.
+ Gió mùa Tây Nam: đầu mùa hạ khi vượt dãy Trường Sơn vào bị biến tính trở
nên khô nóng còn gọi gió Lào hoạt động mạnh trong phạm vi từ Nghệ An đến
Quảng Trị làm biến đổi sâu sắc thời tiết. Cụ thể khi gió Lào hoạt động sẽ làm
cho nhiệt độ không khí tăng lên tới 37-39
o
C, độ ẩm giảm giảm xuống mức rất
thấp khoảng 35- 40% và độ bốc hơi tăng cao đột ngột. Gió này thường hoạt động
13
theo từng đợt kéo dài 5-7 ngày, có khi tới 15 ngày. Gió hoạt động vào mùa khô
càng làm tăng thêm tính chất khô hạn trong vùng và làm ảnh hưởng lớn đến sản
xuất cũng như đời sống của người dân.
Như vậy ta thấy khí hậu của vùng rất phức tạp với nhiều yếu tố dị thường,
nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, khắc nghiệt. Đây được coi là thành phần tự
nhiên có ảnh hưởng cơ bản đến quá trình hoang mạc hóa trong vùng.
d. Thổ nhưỡng và sinh vật.
* Thổ nhưỡng.
Phổ biến trong vùng là các loại đất: feralit đỏ vàng, phù sa, đất cát… nhưng

. (SGK Địa lí lớp 12- Nhà
xuất bản giáo duc) Tuy nhiên tỉ lệ gia tăng dân số ở đây vẫn còn cao, đồng thời
xét trong tương quan với điều kiện tự nhiên của vùng thì việc chinh phục tự
nhiên để phục vụ cho đời sống của số dân trong vùng cũng chẳng mấy dễ dàng.
Để nuôi sống số dân này người dân ở đây đã phải không ngừng khai thác các
nguồn tài nguyên nhiên nhiên trên mặt đất, trong lòng đất, dưới biển… Kết quả
làm cho các nguồn tài nguyên trong vùng ngày càng suy giảm mà đời sống của
người dân vẫn còn nghèo. Trong những năm qua rất nhiều diện tích rừng tự
nhiên của vùng đã bị khai phá để lấy gỗ, củi, đất canh tác… và thay vào diện tích
rộng lớn mà lẽ ra là rừng tự nhiên bao phủ ấy thì nay lại là diện tích đất hoang
hóa, nếu gặp các điều kiện tự nhiên bất lợi sẽ xảy ra quá trình hoang mạc hóa.
b. Các hoạt động kinh tế.
Các hoạt động kinh tế cũng có tác động vô cùng mạnh mẽ đến môi trường tự
nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nó là một trong các nguyên nhân góp
phần trực tiếp hoặc gian tiếp dẫn đến sự phát triển hoang mạc hóa. Các hoạt
động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp …làm thu hẹp diện tích và chất lượng
rừng rất nhanh.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì trong thời kì tiền sử, trên toàn lãnh
thổ nước ta đều được bao phủ bởi rừng nhiệt đới. Con người sau đó mới “ra sức”
chặt cây cối, cắt cỏ rậm để mở mang đất đai thành các vùng đất bằng phẳng, thổ
15
địa phì nhiêu như ngày nay. Quá trình khai khẩn đất hoang để phát triển kinh tế
của con người đã làm cho các đồng bằng thì rừng bị khai phá để trở thành đồng
ruộng, vùng trung du thì biến thành nương chè, đồn điền cây công nghiệp,… ở
miền núi thì diện tích rừng cũng ngày càng thu hẹp do hoạt động “nương rẫy” và
khai thác gỗ củi…
Tất nhiên không thể nói rằng tất cả các hoạt động đó đều là xấu, trái lại chúng
là cần thiết cho sự phát triển của con người. Chúng chỉ xấu khi vượt quá ngưỡng
nhất định. Rất tiếc là trong tình hình hiện nay tất cả các hoạt động này đều bị
khai thác ở mức quá ngưỡng khiến cho diện tích, chất lượng rừng giảm nhanh.

xảy ra ở khu vực Duyên hải miền Trung nước ta.
II. THỰC TRẠNG HOANG MẠC HÓA MỘT SỐ KHU VỰC Ở DUYÊN
HẢI MIỀN TRUNG VIỆT NAM.
A. CHỈ TIÊU PHÂN LOẠI CÁC ĐỚI CẢNH QUAN TRÊN TRÁI ĐẤT.
(Cơ sở phân loại các đới cảnh quan trên Trái Đất)
1. Chỉ số khô hạn của A.A Grigoriev và M.I.Buđưco.
* Khái niệm: Chỉ số khô hạn là tỉ số giữa cán cân bức xạ hàng năm với lượng
nhiệt cần thiết để bốc hới hết tổng lượng mưa hàng năm.
* Công thức: K=
Lr
R
Trong đó: K: là chỉ số khô hạn
L: Là tiềm nhiệt bốc hơi có giá trị gần bằng 0,6 kcal/cm
2
/năm.
r: là tổng lượng mưa hàng năm
R: là cán cân bức xạ (kcal/cm
2
/năm)
Từ công thức trên suy ra: hệ số K càng lớn thì tính chất khô hạn càng cao và
ngược lại. Nói cách khác độ lớn của K quy định ranh giới các đới cảnh quan. Cụ
thể:
+ K > 3

quá thiếu ẩm (ở đới hoang mạc)
17
+ 2< K <3

thiếu ẩm (ở đới bán hoang mạc)
+ 1 < K <2

Nửa hoang mạc
cận nhiệt đới.
Hoang mạc cận
nhiệt đới.
Từ >75
kcal/cm/năm
(các vĩ độ
nhiệt đới)
Xavan khô hạn Bán hoang nhiệt
đới
Hoang mạc
nhiệt đới
(Nguồn: những quy luật địa lí chung của trái đất)
2. Hệ số ẩm ướt của G.N.Vưxotxki và N.N.Ivannov
* Khái niệm: Hệ số ẩm ướt là đại lượng thể hiện mối tương quan giữa tổng
lượng mưa hàng năm với trị số bốc hơi hàng năm.
* Công thức tính: K=
E
r
với: K: là hệ số ẩm ướt
r: Tổng lượng mưa trong năm (mm)
E: Khả năng bốc hơi (mm)
18
Căn cứ vào đây ta thấy hệ số ẩm ướt càng lớn thì tính ẩm ướt càng cao và
ngược lại. Cụ thể:
+ K > 1: Đới rừng và đới đài nguyên
+ K = 1- 0,6: Đới rừng thảo nguyên
+ K = 0,6- 0,3: Đới thảo nguyên
+ K = 0,3- 0,12: Đới bán hoang mạc.
+ K = 0,12- 0: Đới hoang mạc.

0,74)
G: Kiểu khí hậu chí tuyến gió mùa hơi khô.
H: Khí hậu chí tuyến gió mùa hơi ẩm. ( Quảng Trị: 8000
o
c; K= 1,5-1,8)
19
I: Kiểu khí hậu chí tuyến gió mùa ẩm.
B. HOANG MẠC HÓA Ở QUẢNG BÌNH- QUẢNG TRỊ VÀ HOANG
MẠC HÓA Ở NINH THUẬN- BÌNH THUẬN.

I. HOANG MẠC HÓA Ở QUẢNG BÌNH VÀ QUẢNG TRỊ:
1. Khái quát chung
Quảng Bình, Quảng Trị là hai đồng bằng được xếp vào loại nhỏ nhất cả nước.
Tổng diện tích là 640 km
2
và 610km
2
bề ngang chỉ đạt 10- 20 km, thực tế nhiều
nơi còn hẹp hơn do sự xâm lấn của các cồn cát.
- Cấu tạo bề mặt của đồng bằng: đồi núi và cồn cát ở hai bên, khu vực đồng
ruộng nhỏ hẹp ở giữa.
20
- Khí hậu mang đặc điểm nhiệt đới ẩm gió mùa chịu ảnh hưởng yếu của gió
mùa Đông Bắc:
+ Nhiệt độ trung bình năm đạt từ 24- 25
o
c.
+ Lượng mưa trung bình năm lớn đạt trên 2000mm, có nơi trên 3000mm.
+ Khả năng bốc hơi khoảng 1300mm/năm.
+ Chỉ số khô hạn thấp đạt từ 0,6- 0,7.

quả hết sức nghiêm trọng, bởi lẽ diện tích hai đồng bằng này đều nhỏ lại rất hẹp
ngang (10- 20km), trong khi đó các cồn cát lại chiếm tới 2- 3km, tối đa 5- 6km
bề rộng. Giả sử nếu các cồn cát này mở rộng với vận tốc đáng sợ là 100m/năm
thì chỉ cần 10 năm nó đã lấn thêm vào đồng ruộng tới 1km, đồng nghĩa với việc
thu hẹp bề ngang của đồng bằng này là 1km/10 năm. Nếu cứ vậy thì chẳng bao
lâu nữa toàn bộ khu vực này sẽ biến thành một sa mạc thực sự. Chúng ta cũng
không giám khẳng định rằng trong tương lai tốc độ sa mạc hóa ở đây sẽ không
diễn ra nhanh hơn. Điều này còn phụ thuộc vào việc phát triển kinh tế ở đây giai
đoạn tới có hợp lí hay không, chỉ biết rằng thực tại sa mạc hóa đang biến dần
diện tích đồng ruộng, làng mạc, nhà cửa của người dân nới đây thành những bãi
cát trắng đục, khô khan trên mọc lơ thơ những cây bụi, cỏ dại vàng úa khiến cho
cảnh quan thực sự trở thành một hoang mạc.
Như vậy hoang mạc hóa ở đây một phần chính là do tác động của con người
trong quá trình phát triển kinh tế gây lên và nó cũng đang tác động bất lợi ngược
trở lại chính cuộc sống của con người. Nếu không được ngăn chặn kịp thời bằng
các biện pháp tích cực thì sẽ gây ra những hậu quả không thể lường trước.
22
Một ví dụ điển hình về quá trình sa mạc hóa ở DHMT là tại xóm Đuồi- thôn
Tuần Lễ. “Xóm Đuồi thôn Tuần Lễ nằm cách thành phố Nha Trang khoảng
60km về phía Bắc. Thôn nằm sát ngay dưới chân đồi cát, phía trước mặt là biển.
Những ngôi nhà ở đây nằm chen trong cát, những người dân ở đây sống chung
với cát. Cát khắp mọi nơi, cát phủ trên bàn, cát dải trong giường ngủ, cát dính
vào thức ăn đang chuẩn bị nấu, cát lạo xao trong miếng cơm đang nhai… Và gió
nữa, gió ào ào gầm rít hung giữ, cuốn phăng đi những gì chúng gặp trên đường.
Những cơn gió từ bên kia đồi, thổi từ biển vào tha hồ tung hoành đùa giỡn khi
băng qua những đồi cát trơ trụi mênh mông. Chúng cuốn tung cát lên thành từng
cơn bão cát mịt mù, rồi phủ lên những ngôi nhà, vườn cây. Theo người dân cho
biết chỉ cách đây khoảng hơn 10 năm xóm Đuồi còn nằm ở khu vực đồi cát cách
xóm hiện nay hàng trăm mét. Thế rồi cát cứ lấp dần, lấp dần nên phải dỡ nhà đi
nơi khác, đó là cách người dân xóm Đuồi chạy trốn cát. Có gia đình đã phải

cho khu vực đồng bằng ở đây đã nhỏ lại nằm lọt xung quanh giữa bốn bề là núi,
do vậy tạo nên kiểu khí hậu hết sức đặc biệt mà chỉ duy nhất vùng này mới có,.
đó là kiểu khí hậu nhiệt đới khô. Trong khu vực đồng bằng tất cả các chỉ số đều
nói lên tính chất khô nóng. Cụ thể:
+ Tổng bức xạ nhiệtcủa vùng rất cao đạt từ 140- 160 kcal/cm
2
/năm.
+ Cân bức xạ dương đạt 98- 100 kcal/cm
2
/năm
+ Số giờ nắng trung bình năm đạt 2800h, cao nhất cả nước.
+ Lượng mưa trung bình rất thấp chỉ đạt 695mm/ năm, có năm chỉ đạt 413mm
thấp nhất cả nước.
+ Khả năng bốc hơi cao nhất cả nước, trung bình từ 1600- 1700mm/năm.
+ Hệ số ẩm ướt rất thấp trung bình từ 0,43- 0,4, có năm chỉ đạt 0,25- 0,24.
Với hệ số này theo phân loại của Ivanov thì Ninh Thuận, Bình Thuận thuộc đới
bán hoang mạc.
24
+ Chỉ số khô hạn K cao đạt từ 2,3- 4, chỉ số này theo phân loại của Buđưco,
thuộc kiểu cảnh quan bán hoang mạc và hoang mạc nhiệt đới.
Như vậy xét về tương quan nhiệt ẩm thì khu vực này có khả năng phát triển
cảnh quan hoang mạc, bán hoang mạc. Trên thực tế điều kiện tự nhiên của vùng
còn khô nóng hơn bởi sự phân bố nhiệt - ẩm và khả năng bốc hơi không đều
trong năm. Mưa nhiều tập trung các tháng 9,10,11 trong khi số giờ nắng cực đại
lại rơi vào tháng 3, còn lượng bốc hơi đạt giá trị lớn nhất vào các tháng mùa khô
(5, 6,7,8), điều này làm tăng tính chất bất điều hòa trong chế độ nhiệt ẩm. Thêm
vào đó trong vùng còn có các bãi và cồn cát với diện tích lớn (500km), sự phát
triển vào mùa gió Tây Nam của hiện tượng “nước trồi” và các hoạt động đốt rẫy
càng làm tăng thêm tình trạng khô hạn trong vùng.
Sự khắc nghiệt của điều kiện khí hậu khiến cho sinh vật và đất trong vùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status