LI CAM OAN
công trình
Các số liệu,
Tôi xin cam đoan đây là
nghiên cứu của riêng tôi.
kết quả nêu trong luận
án là trung thực,
có nguồn gốc, xuất xứ rõ
ràng.
Tác giả luận
án
Đoàn
Khắc Mạnh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
Chữ viết đầy đủ
Công tác đảng, công tác chính trị
Chính trị quốc gia
Chính trị viên
3.2.
Chương 4
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố có liên
quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN
NÂNG CAO NĂNG LỰC GIẢNG DẠY CHÍNH TRỊ CỦA
ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN Ở CÁC TRUNG ĐOÀN BỘ
BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
Đội ngũ chính trị viên và năng lực giảng dạy chính trị
của đội ngũ chính trị viên ở các trung đoàn bộ binh trong
Quân đội nhân dân Việt Nam
Những vấn đề cơ bản về nâng cao năng lực giảng dạy
chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các trung đoàn bộ
binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ KINH
NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC GIẢNG DẠY
CHÍNH TRỊ CỦA ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN Ở CÁC
TRUNG ĐOÀN BỘ BINH TRONG QUÂN ĐỘI NHÂN
DÂN VIỆT NAM
5
10
10
14
4.1.
Sự tác động của tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao năng
lực giảng dạy chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các trung
đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
120
4.2.
Những giải pháp nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của
đội ngũ chính trị viên ở trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân
dân Việt Nam hiện nay
130
KẾT LUẬN
173
PHỤ LỤC
192
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Giảng dạy chính trị trong quân đội là một hình thức cơ bản của công
tác tư tưởng, là một nội dung, hình thức cơ bản của công tác giáo dục lý
luận chính trị trong quân đội, có vai trò quan trọng trong truyền bá lý luận
của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tình hình nhiệm vụ của
cách mạng, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội; đấu tranh vạch
trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá cách
càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ, chức trách được giao, góp phần nâng
cao chất lượng giảng dạy chính trị ở các trung đoàn bộ binh.
Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, năng lực
giảng dạy chính trị của đội ngũ CTV ở các trung đoàn bộ binh còn bộc lộ những
hạn chế, nhất là kiến thức, năng lực, kinh nghiệm sư phạm. Nội dung, hình thức,
phương pháp bài giảng chính trị của đội ngũ CTV còn có những hạn chế, bất
cập, chậm đổi mới, tính thuyết phục không cao. Phương pháp giảng dạy chính trị
của đội ngũ CTV chủ yếu vẫn là truyền thụ một chiều, ít có sự đối thoại giữa
người dạy với người học. Những hạn chế về năng lực giảng dạy chính trị của đội
ngũ CTV đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác giáo dục chính trị,
chất lượng CTĐ, CTCT ở các trung đoàn bộ binh trong quân đội.
Trong bối cảnh tình hình an ninh, chính trị thế giới diễn biến nhanh chóng,
phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, bất mãn đang
triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện đa
truyền thông để đẩy mạnh hoạt động truyền bá những quan điểm thù địch, sai
trái, phản động chống Đảng, Nhà nước ta, đưa những thông tin sai lệch, tiêu cực,
thậm chí xuyên tạc, bịa đặt, vu khống hết sức trắng trợn nhằm làm giảm sút lòng
tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, với chế độ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
7
chuyển hóa” nội bộ, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng gây mất ổn định an
ninh, chính trị. Yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của Quân đội; xây dựng các trung đoàn bộ binh
vững mạnh về chính trị đặt ra yêu cầu khách quan phải nâng cao năng lực giảng
dạy chính trị của đội ngũ CTV ở các trung đoàn bộ binh trong quân đội. Từ
những lý do trên, nghiên cứu sinh đã lựa chọn vấn đề “Nâng cao năng lực giảng
dạy chính trị của đội ngũ chính trị viên ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội
nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Là hệ thống các quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
công tác xây dựng Đảng; CTĐ, CTCT và công tác giáo dục chính trị trong
Quân đội nhân dân Việt Nam.
* Cơ sở thực tiễn
Là hiện thực hoạt động giáo dục chính trị ở các trung đoàn bộ binh; năng
lực giảng dạy chính trị và hoạt động nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của
đội ngũ CTV ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin,
luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học
chuyên ngành và liên ngành; chú trọng phương pháp lôgic - lịch sử và
phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý
luận, điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng và luận giải làm rõ nội hàm quan niệm giảng dạy chính trị,
năng lực giảng dạy chính trị và nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của đội
ngũ CTV ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
9
Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của
đội ngũ CTV ở các trung đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đề xuất một số nội dung, biện pháp cụ thể, có tính khả thi trong các
giải pháp nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của đội ngũ CTV ở các trung
đoàn bộ binh trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu góp phần làm sâu sắc thêm những vấn đề lý
luận, thực tiễn về giảng dạy chính trị, năng lực giảng dạy chính trị và
nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của đội ngũ CTV; cung cấp thêm
quả công việc đạt được cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào người đó có năng lực
cao hay thấp và được thể hiện trên thực tế, để biết được năng lực đó cần phải
thông qua việc đánh giá (assessment) và muốn đánh giá được cần phải xây dựng
những tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp với đối tượng và điều kiện thực tiễn. Đây là
cuốn sách có giá trị khoa học, chỉ ra con đường hình thành năng lực phải trên cơ
sở giáo dục, đào tạo và xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đánh giá năng lực người dạy
một cách khách quan, chính xác, làm cơ sở cho hoạt động bồi dưỡng, nâng cao
chất lượng giảng dạy.
Chris Kyriacou (Editor - biên tập) (2007), Essential teaching skills
(Những kỹ năng giảng dạy thiết yếu), third Edition published, Nelson Thornes
Ltd [164]. Cuốn sách được xuất bản tại nước Anh (First published 1991), tái bản
năm 1998 và 2007, dung lượng 162 trang. Ở Chương 1 (Developing your
11
teaching of skills - phát triển những kỹ năng giảng dạy của bạn), cuốn sách chỉ ra
bản chất công việc giảng dạy có hiệu quả là phải thúc đẩy người học. Để phát
triển kỹ năng giảng dạy, cần có những biện pháp rèn luyện cần thiết. Trước hết,
phải có yếu tố kiến thức nền tảng và kỹ năng tốt. Phát triển kỹ năng giảng dạy
phải thông qua việc quan sát các hoạt động và tham gia vào hoạt động đó để có
kỹ năng và mở rộng kiến thức của bản thân mỗi giáo viên.
James M. Cooper (Editor - biên tập) (2011), Classroom teaching skills
(Những kỹ năng giảng dạy lớp học), James M. Cooper, General Editor professor
Emeritus, University of Virginia [165]. Cuốn sách tái bản lần thứ 9 (ninth
edition) tại nước Mỹ, dung lượng 390 trang, là công trình nghiên cứu của tập thể
tác giả các trường đại học ở Mỹ. Cuốn sách chỉ ra những kỹ năng giảng dạy cần
thiết của người giảng dạy, miêu tả những tính cách của người dạy, sự phản xạ
(reflection) đi đến quyết định và chứng minh những nhân tố tác động đến quyết
định truyền thụ kiến thức hoặc giải thích (explain) là rất quan trọng cho người
dạy phát triển. Đồng thời chỉ ra kỹ năng hợp tác, ứng xử, trách nhiệm quản lý
hình thức, phương pháp, đối tượng học tập chính trị trong lực lượng vũ trang và
xác định phải huấn luyện lý luận Mác - Lênin cho sĩ quan, học tập chính trị cho
cán bộ chuyên nghiệp; một phương pháp quan trọng của chế độ huấn luyện lý
luận Mác - Lênin cho sĩ quan là “Giảng bài theo đề mục trong kế hoạch học tập
mà người giảng là các sĩ quan” [15, tr.133] và “Phương pháp cơ bản của việc học
tập lý luận Mác - Lênin cho sĩ quan là việc tự học, tự nghiên cứu tác phẩm của
các nhà kinh điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, những nghị quyết của các đại hội,
các hội nghị Trung ương Đảng” [15, tr.143].
Chương Tử Nghị (1996), Công tác chính trị trong học viện, nhà trường
Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc trong thời kỳ đổi mới, Nxb Đại học
Quốc phòng Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, người dịch Dương Minh
Hào và Dương Thùy Trang, năm 1998 [91]. Cuốn giáo trình đề cập về phương
pháp tiến hành các hoạt động CTCT trong các nhiệm vụ, trong đó, có bàn đến
phương pháp lên lớp chính trị là phương pháp chủ yếu của giáo dục tư tưởng và
năng lực sư phạm của cán bộ chính trị trong Quân giải phóng nhân dân Trung
13
Quốc, trong đó chỉ ra “lên lớp học chính trị là phương pháp và hình thức cơ
bản của giáo dục tư tưởng, bài giảng tốt, có thể đưa con người đến chiến
thắng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, giác ngộ tư tưởng cán bộ, chiến sĩ.
Nếu bài giảng không tốt, thu hoạch của người nghe không hiệu quả. Vì vậy, là
một cán bộ chính trị, nên nỗ lực rèn luyện kỹ năng giảng dạy cơ bản, nắm
vững bản lĩnh giảng dạy học bộ môn chính trị, nâng cao chất lượng và nghệ
thuật giảng dạy” [91, tr.12]. Đồng thời, nêu ra mười điều về phương pháp
truyền thụ giảng dạy truyền thống đó là: dạy bằng phương pháp gợi ý, từ xa
đến gần, từ nông đến sâu, dạy bằng cách nói chuyện thông tục hóa; lời nói
phải rõ ràng; lời nói phải gây hứng thú; dùng động tác và tư thế để phụ họa
cho lời nói; tiết sau ôn tập nội dung và khái niệm của tiết trước; phải có đề
cương; với cán bộ phải có hình thức thảo luận và vận dụng tốt những phương
phương pháp thảo luận ở tổ học tập và phương pháp thi, kiểm tra chính trị của hạ sĩ
quan, binh sĩ ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào hiện nay.
1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề tài
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất,
năng lực công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ chính trị viên
Tô Xuân Sinh (2006), Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác chính
trị của đội ngũ chính trị viên ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu trong quân đội
hiện nay, Nxb Quân đội nhân dân [115]. Tác giả đã luận giải làm rõ những vấn
đề cơ bản về năng lực CTĐ, CTCT của đội ngũ CTV ở các đơn vị huấn luyện
chiến đấu; phân tích những yếu tố tác động đến năng lực CTĐ, CTCT của đội
ngũ này, trên cơ ở đó đề xuất những yêu cầu, giải pháp để bồi dưỡng năng lực
CTĐ, CTCT của đội ngũ CTV ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu. Nội dung
cuốn sách đề cập đến năng lực giáo dục chính trị, trong đó, chỉ rõ “Năng lực
CTĐ, CTCT của CTV ở các đơn vị huấn luyện chiến đấu là trình độ thực tế và
khả năng tổ chức tiến hành các hoạt động CTĐ, CTCT theo chức trách, nhiệm
vụ của người chủ trì về chính trị, người đảm nhiệm CTĐ, CTCT ở phân đội”
[115, tr.35]. Đó là năng lực quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của trên;
khả năng xem xét, đánh giá tình hình thực tế của đơn vị; năng lực quy tụ, phát
huy trí tuệ và sức mạnh đoàn kết của tập thể cấp uỷ và chi bộ để xây dựng các tổ
chức đảng trong sạch vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; năng lực tuyên
15
truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền; năng lực
tiến hành CTĐ, CTCT trong từng nhiệm vụ cụ thể ở phân đội.
Nguyễn Phương Đông (2009), Xây dựng kỹ năng công tác đảng, công tác
chính trị của đội ngũ chính trị viên trong quân đội hiện nay, Nxb Quân đội nhân
dân [49]. Tác giả đã luận giải khá sâu sắc về kỹ năng, nhất là cấu trúc kỹ năng
CTĐ, CTCT, theo tác giả “Xét theo phương diện hệ thống cấu trúc, kết cấu của
các yếu tố bên trong kỹ năng CTĐ, CTCT thì kỹ năng CTĐ, CTCT của đội ngũ
Nguyễn Chính Lý (2012), Bồi dưỡng năng lực thực hành công tác đảng,
công tác chính trị của học viên đào tạo chính trị viên hiện nay, Nxb Quân đội
nhân dân [78]. Nội dung cuốn sách bàn nhiều về năng lực, nhất là chỉ ra con
đường hình thành năng lực của con người không phải tự nhiên mà có, mà phải
“Thông qua đào tạo, học tập, rèn luyện, hoạt động thực tiễn, phải được bồi đắp
thường xuyên, phấn đấu không mỏi mệt của mỗi người” [78, tr.23]. Chỉ ra yếu
tố cấu thành năng lực thực hành CTĐ, CTCT, bao gồm: tri thức lý luận; kinh
nghiệm CTĐ, CTCT; trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn CTĐ, CTCT; kỹ năng
tiến hành công tác tư tưởng, tổ chức; kỹ xảo tổ chức các hoạt động CTĐ, CTCT
và đưa ra nội dung giải pháp để bồi dưỡng năng lực thực hành về công tác giáo
dục chính trị, trong đó có đề cập, cần phải tăng cường thực hành giảng bài chính
trị cho học viên đào tạo CTV hiện nay.
Phạm Đình Bộ (2007), Bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ
chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành trong Quân đội nhân dân Việt Nam
hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị [14]. Tác giả đã đề cập đến một số
vấn đề cơ bản về bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp
phân đội binh chủng hợp thành; thực trạng bồi dưỡng năng lực công tác của đội
ngũ này; chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và một số kinh nghiệm,
đề xuất một số giải pháp cơ bản bồi dưỡng năng lực công tác của đội ngũ cán bộ
chính trị cấp phân đội binh chủng hợp thành hiện nay, bao gồm: Xây dựng và thực
hiện tốt các khâu, các bước trong quy trình bồi dưỡng năng lực công tác của đội
ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội; coi trọng các khâu, các bước như: nghiên cứu
đánh giá tình hình và xác định nội dung, hình thức, biện pháp bồi dưỡng; xây dựng
và thông qua kế hoạch bồi dưỡng; về triển khai và tổ chức thực hiện nghiêm túc kế
17
hoạch bồi dưỡng; tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm hoạt động bồi dưỡng
năng lực công tác của đội ngũ cán bộ chính trị cấp phân đội.
Đỗ Hoàng Ngân (2011), Bồi dưỡng năng lực công tác thanh niên của đội
Quân đội nhân dân Việt Nam. Đề tài đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao kiến
thức toàn diện của đội ngũ chính uỷ, CTV. Trong đó, khẳng định: “Phẩm chất,
năng lực của chính ủy, CTV trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng xây dựng và
phát huy sức mạnh của tổ chức và con người trong đơn vị, đến kết quả thực hiện
nhiệm vụ được giao” [109, tr.5].
Đỗ Duy Ánh (2014), Bồi dưỡng năng lực công tác đảng, công tác
chính trị cho đội ngũ chính trị viên ban chỉ huy quân sự cấp xã miền Đông
Nam Bộ giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Khoa học Chính trị [1]. Tác giả
đã xây dựng quan niệm năng lực, năng lực CTĐ, CTCT và làm rõ nội dung,
hình thức, phương pháp bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT cho cho đội ngũ
CTV ban chỉ huy quân sự cấp xã miền Đông Nam Bộ; xác định tiêu chí đánh
giá và những vấn đề có tính nguyên tắc trong bồi dưỡng năng lực CTĐ,
CTCT cho đội ngũ CTV ban chỉ huy quân sự cấp xã miền Đông Nam Bộ; rút
ra những kinh nghiệm bước đầu bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT cho đội
ngũ CTV ban chỉ huy quân sự cấp xã miền Đông Nam Bộ; đề xuất những
giải pháp tiếp tục bồi dưỡng năng lực. Kết quả nghiên cứu của luận án góp
phần làm sâu sắc thêm lý luận về năng lực và bồi dưỡng năng lực CTĐ,
CTCT, cung cấp thêm cơ sở khoa học xác định chủ trương, biện pháp lãnh
đạo, chỉ đạo bồi dưỡng năng lực CTĐ, CTCT cho đội ngũ CTV ban chỉ huy
quân sự cấp xã miền Đông Nam Bộ.
Phạm Văn Huynh (2012), Bồi dưỡng phương pháp công tác tư tưởng của
đội ngũ chính trị viên ở đơn vị cơ sở Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận
án tiến sĩ Khoa học Chính trị [64]. Tác giả đã luận giải về phương pháp công tác tư
tưởng của đội ngũ CTV ở đơn vị cơ sở và đưa ra một hệ thống các nhóm phương
pháp công tác tư tưởng của đội ngũ này, như: nhóm phương pháp về lãnh đạo, quản
lý tư tưởng; nhóm phương pháp về tiến hành nội dung, hình thức công tác tư tưởng;
nhóm phương pháp giải quyết tình huống công tác tư tưởng. Đặc biệt, tác giả đã đề
cập đến phương pháp giảng dạy chính trị của CTV. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ mới
đề cập một cách khái quát nhất về phương pháp giảng dạy chính trị, chưa đi sâu bàn
trị viên ở Sư đoàn 312, Quân đoàn 1 hiện nay”, Tạp chí Khoa học Chính trị
20
quân sự, số 4 (17) [54]. Bài báo chỉ ra số liệu đội ngũ CTV của Sư đoàn 312
hiện tại chiếm 33,2% trong cơ cấu cán bộ chính trị của Sư đoàn. Có 43,7% được
đào tạo cơ bản ở Trường Sĩ quan Chính trị, số còn lại đào tạo chuyển loại ở các
nguồn khác. Phân loại cán bộ có 10,7% CTV hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
76,5% hoàn thành tốt nhiệm vụ và có 12,8% hoàn thành nhiệm vụ. Bài báo đã
đưa ra một số biện pháp nâng cao năng lực toàn diện cho đội ngũ CTV ở Sư
đoàn 312, Quân đoàn 1 hiện nay, đó là phải coi trọng xây dựng động cơ, thái độ,
đề cao trách nhiệm của đội ngũ CTV trong tích lũy, tự học tập, tự rèn luyện nâng
cao trình độ mọi mặt; duy trì thường xuyên các hoạt động huấn luyện, bồi dưỡng
với nội dung thiết thực, toàn diện, nhất là những nội dung mới, nội dung còn
thiếu ở từng nhóm đối tượng CTV cụ thể.
Hoàng Mạnh Hưng (2016),“Bồi dưỡng năng lực, phương pháp, tác phong
công tác của chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh”, Tạp chí Giáo dục Lý luận
Chính trị, số 3 (157) [67]. Bài báo, chỉ rõ đội ngũ CTV có vai trò đặc biệt quan
trọng, nhân tố chủ yếu tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần trong trong sư đoàn;
năng lực, phương pháp, tác phong của CTV có ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng xây dựng chính trị, tư tưởng và tổ chức, phát huy nhân tố con người trong
đơn vị và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của CTV. Trước yêu cầu xây dựng, bảo
vệ Tổ quốc hiện nay, đòi hỏi phải nâng cao năng lực, phương pháp, tác phong
của CTV, trong đó, tập trung vào việc thực hiện tốt phân công, phân cấp bồi
dưỡng CTV; xây dựng kế hoạch bồi dưỡng CTV thực sự khoa học, sát với từng
đối tượng, phù hợp với tình hình thực tế từng đơn vị; xây dựng, biên soạn
chương trình, nội dung bồi dưỡng CTV; tiến hành có hiệu quả các hình thức,
phương pháp bồi dưỡng CTV tại đơn vị.
Nguyễn Quốc Trị (2016), “Nâng cao năng lực giáo dục, thuyết phục của
chính trị viên ở các đơn vị cơ sở trong quân đội hiện nay”, Tạp chí Giáo dục Lý
động xây dựng nhà trường, thông qua thực tiễn thực tập của học viên ở đơn vị cơ
sở; thông qua sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp, kết hợp các hoạt
động phong trào của mỗi đơn vị để phát triển năng lực toàn diện cho người học
viên đào tạo CTV.
22
Có thể khái quát, các công trình, các bài báo khoa học trên, tiếp cận theo
nhiều chiều cạnh khác nhau, nhưng chủ yếu đề cập đến nội dung, biện pháp,
phương pháp bồi dưỡng, rèn luyện, truyền thụ kinh nghiệm để nâng cao phẩm
chất, năng lực CTĐ, CTCT của CTV, bí thư cấp ủy, bí thư chi bộ trong quân đội
hiện nay. Chưa luận giải rõ năng lực giảng dạy chính trị của CTV. Do đó, luận án
tiếp thu có chọn lọc và tiếp tục nghiên cứu đi sâu có hệ thống về năng lực giảng
dạy chính trị và nâng cao năng lực giảng dạy chính trị của đội ngũ CTV trong
quân đội hiện nay.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến công tác giáo dục
chính trị, năng lực giảng dạy chính trị, năng lực sư phạm, đánh giá năng lực
sư phạm của đội ngũ chính trị viên
Lê Duy Chương (2008), Một số vấn đề về nâng cao chất lượng công tác
giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở, Nxb Quân đội nhân dân
[19]. Tác giả đã luận giải sâu sắc quan niệm về giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan,
binh sĩ; nội dung chất lượng giáo dục chính trị và đưa ra hệ thống tiêu chí đánh giá
chất lượng giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ gồm: hệ thống tiêu chí đánh giá
chất lượng các yếu tố của giáo dục chính trị và hệ thống tiêu chí đánh giá chất
lượng chính trị, tư tưởng của hạ sĩ quan, binh sĩ với tư cách là kết quả giáo dục
chính trị; thực trạng chất lượng của chủ thể và chất lượng của hạ sĩ quan, binh sĩ; rút
ra những nguyên nhân và tổng kết những kinh nghiệm. Đặc biệt, cuốn sách đã đề
xuất những giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị cho hạ sĩ
quan, binh sĩ ở đơn vị cơ sở hiện nay. Cuốn sách nghiên cứu những vấn đề lý luận,
thực tiễn chung nhất về giáo dục chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ.
chính trị cho CTV ở đơn vị cơ sở, chỉ ra nội dung bồi dưỡng. Luận giải 4 đặc
điểm chi phối trực tiếp đến hoạt động bồi dưỡng phương pháp giáo dục chính trị
của CTV. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, xác định những yêu cầu và đề xuất
những giải pháp cơ bản về bồi dưỡng phương pháp giáo dục chính trị cho CTV,
trong đó, chú trọng đi sâu vào đổi mới nội dung, vận dụng linh hoạt các hình
thức, biện pháp bồi dưỡng phương pháp giáo dục chính trị cho CTV.
Nguyễn Văn Quyền (2015), Phát triển năng lực giáo dục chính trị của
chính trị viên đại đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ
Triết học [112]. Tác giả luận giải, năng lực quyết định trực tiếp chất lượng, hiệu
quả hoạt động của chủ thể. Ngược lại, chất lượng, hiệu quả hoạt động của chủ thể