LUẬN án TIẾN sĩ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NHÂN tố CON NGƯỜI TRONG sức MẠNH CHIẾN đấu của QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong sức mạnh chiến đấu của quân đội ta, con người ở vị trí trung tâm
và đóng vai trò chủ thể. Trong tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần tạo
thành sức mạnh chiến đấu thì chất lượng nhân tố con người có vai trò quyết
định.
Việc nâng cao chất lượng nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu
là vấn đề của mọi quân đội, dù với quan niệm khác nhau như thế nào về con
người. Đó cũng là vấn đề có tính cơ bản thường xuyên đối với quá trình
nâng cao chất lượng tổng hợp và xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội
ta.
Hiện nay, việc nâng cao chất lượng nhân tố con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội ta đang là vấn đề có tính cấp thiết. Bởi vì, sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặt ra cho quân đội nhiệm vụ chính trị - quân
sự mới. Quân đội phải thực sự là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ công cuộc xây dựng hoà bình của nhân dân,
bảo vệ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, trong bối cảnh cục diện chính trị
thế giới chuyển sang trạng thái vừa đấu tranh vừa hợp tác và kẻ thù chống
phá cách mạng nước ta bằng chiến lược mới: "diễn biến hoà bình kết hợp
với bạo loạn lật đổ, và răn đe bằng sức mạnh quân sự, với các loại hình
chiến tranh xâm lược quy mô khác nhau, thì nhân tố con người phải được
quan tâm đặc biệt trong xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Chất


lượng nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu lại chẳng những đứng
trước mặt trận chính trị nóng bỏng, mà còn đứng trước yêu cầu phát triển
của vũ khí, kỹ thuật hiện đại và trước sự phát triển tất yếu của bản thân con
người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong khi đó thực trạng
của chất lượng nhân tố con người trong quân đội chưa ngang tầm với nhiệm
vụ mới. Do đó, phải khẩn trương nâng cao chất lượng nhân tố con người, để
tạo lập cho quân đội ta một chất lượng tổng hợp, một sức mạnh chiến đấu

mạnh chiến đấu, nhằm làm rõ vai trò quyết định ngày càng tăng của
nhân tố con người; vạch ra những đòi hỏi cấp thiết nâng cao chất
lượng nhân tố con người trong sự phát triển sức mạnh chiến đấu mới
của quân đội ta, đề xuất một số phương hướng, biện pháp cơ bản có
tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến
đấu của quân đội ta hiện nay.
- Nhiệm vụ chính của luận án:
1. Luận giải về vai trò và chất lượng của nhân tố con người trong sức
mạnh chiến đấu của quân đội ta.
2. Luận giải tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng nhân tố con người
trong xây dựng sức mạnh chiến đấu mới của quân đội ta.
3. Đề xuất một số phương hướng, biện pháp cơ bản có tính khả thi,
nhằm góp phần nâng cao chất lượng nhân tố con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội ta hiện nay.


4- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học thuyết mác-xít về chiến tranh quân đội;
đường lối quân sự của Đảng ta, truyền thống quân sự của dân tộc; sự phát
triển mới của lý luận và thực tiễn quân sự Việt Nam. Luận án vận dụng các
công trình khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài. Luận án
còn dựa vào các báo cáo chuyên đề, báo cáo tổng kết công tác hàng năm của
một số cơ quan chức năng như Cục Cán bộ, Văn phòng Tổng cục Chính trị,
một số quân khu, quân đoàn, tài liệu tham khảo của một số đề tài cấp nhà
nước (KX); và số liệu điều tra khảo sát thực tế của người làm luận án về tình
hình đơn vị có liên quan đến nhân tố con người trong quân đội.
Luận án sử dụng các phương pháp biện chứng, khái quát hoá, trừu
tượng hoá, cấu trúc hệ thống, phân tích và tổng hợp, kết hợp lôgic và lịch
sử... và các phương pháp điều tra xã hội học khác để thực hiện mục đích,
nhiệm vụ của luận án.

I.1 Nhân tố con người và vai trò của nó trong sức mạnh chiến đấu
của quân đội ta hiện nay
Nghiên cứu nhân tố con người và vai trò của nó trong sức mạnh chiến
đấu của quân đội phải tuân thủ phương pháp luận mác-xít về con người và
vai trò của nó trong xã hội nói chung.
Luận điểm xuất phát của C.Mác đã khẳng định: "Tiền đề đầu tiên của
toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con
người sống" (2). Những con người đó vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực
thể xã hội, họ vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo ra lịch sử
ấy. Họ là tác nhân của một hệ thóng năng động nhất của thế giới khách quan
- xã hội loài người, cho nên đương nhiên họ cũng là tác nhân của mỗi hệ
thống con, mỗi phân hệ, mỗi lĩnh vực đặc thù riêng biệt trong hệ thống ấy.
Khái niện nhân tố con người được nhiều nhà khoa học thống nhất quan niệm
là con người hoạt động, với tư cách là tác nhân của từng hệ thống xã hội .
Do đó, chất lượng nhân tố con người có tính lịch sử, là tổng hợp các phẩm
chất, năng lực của con người, trong hoạt động cải tạo thế giới (bao gồm cả
đấu tranh làm chủ tự nhiên và làm chủ xã hội) nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Như vậy, xem xét nhân tố con người, chất lượng nhân tố con người
phải đặt trong phạm vi hoạt động nhất định của con người, với tư cách là
một thành tố năng động nhất trong quan hệ với các thành tố khác trong mỗi
hệ thống hoạt động của con người với những mục đích xác định.
Đặt nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu, là xác định nhân tố
con người được nghiên cứu trong quan hệ với hệ thống các yếu tố tạo thành


sức mạnh chiến đấu, gắn với yêu cầu xây dựng sức mạnh chiến đấu của quân
đội ta. Nhân tố con người nói trong luận án này với tính cách là những cá
nhân con người liên kết lại tạo thành tổng thể con người trong tổ chức quân
đội cụ thể. Trước hết là tổng thể quân nhân và viên chức quốc phòng xết ở
các quy mô khác nhau của hệ thống tổ chức chiến đấu của quân đội: toàn

có thể độc lập điều khiển một hệ thống hoả lực, phương tiện kỹ thuật quan
trọng để tiến công đánh phá mục tiêu. Đặc biệt trong chống "diễn biến hoà
bình", có thể diễn ra ở mỗi con người là một trận địa. Nếu không đủ sức
chiến đấu về tinh thần thì người chiến binh có thể bị kẻ thù đánh bại ngay
trong chính bản thân mình. Đơn vị sẽ tan rã mất sức chiến đấu khi đại đa số
chiến binh đều "bại trận" như thế.
Quan niệm cổ truyền về sức mạnh chiến đấu của quân đội là "trình độ
sẵn sàng chiến đấu và khả năng của lực lượng vũ trang có thể tiến công địch
hoặc đẩy lùi cuộc tiến công của địch" (27). Quan niệm đó dựa trên đặc trưng
chủ yếu của hoạt động quân sự và chức năng cơ bản của quân đội là đấu
tranh vũ trang. Điều đó vẫn đúng về tình phổ quát của nó đối với mọi quân
đội trên thế giới, được sử dụng thống nhất trong khoa học và nghệ thuật
quân sự các nước. Trong cuốn sách "Chủ nghĩa Mác - Lênin bàn về chiến
tranh quân đội" của Bộ Quốc phòng Liên Xô cũng với tinh thần đó mà định
nghĩa thuật ngữ "Sức mạnh chiến đấu" của quân đội.
Ở nước ta trong quá trình kháng chiến chống ngoại xâm, đã tiến hành
cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện để chiến thắng quân thù xâm lược.
Chúng ta đã sử dụng sức mạnh chiến đấu của toàn dân, toàn quân ta, và đã
đánh địch trên tất cả các phương diện quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế,
văn hoáv.v., theo phương châm phát huy sức mạnh tổng hợp. Nhưng vì


chúng ta chống chiến tranh xâm lược, cho nên phương thức chủ yếu đánh
địch trong kháng chiến là quân sự và các lực lượng vũ trang là lực lượng
nòng cốt cho toàn dân kháng chiến.
Trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc trước đây cũng vậy, sức mạnh được
huy động là sức mạnh toàn quốc gia và đánh địch trên mọi mặt trận, nhưng
mặt trận quân sự là chủ yếu để chống lại các cuộc chiến tranh vũ trang xâm
lược của kẻ thù.
Do vậy sức mạnh chiến đấu thường được hiểu là sức mạnh quân sự để

cho toàn dân đánh giặc trong chiến tranh nhân dân mà cũng là lực lượng
nòng cốt trong chiến lược diễn biến hoà bình. Một mặt, quân đội ta vẫn phải
sẵn sàng chiến đấu đối phó với chiến tranh xâm lược ở các quy mô khác
nhau theo quan niệm cổ điểm với các quân đội của đối phương ngày nay
được trang bị các loại vũ khí công nghệ cao. Mặt khác, là đội quân chính trị
đặc biệt, ta phải chiến đấu chống chiến lược "diễn biến hoà bình" kết hợp
với bạo loạn lật đổ của kẻ địch. Trong chiến lược mới, các thế lực thù địch
dùng phương thức phi vũ trang là chính để thôn tính, xâm lược hòng giành
được những mục tiêu mà chúng không giành được trong chiến tranh xâm
lược trước đây. Chúng triển khai chiến lược chống phá nước ta trên tất cả
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hoá, tư tưởng"Trong chiến lược
đó, mũi nhọn chống phá của chúng là chính trị - tư tưởng và quân đội nhân
dân được coi là một trong những đối tượng chủ yếu. "Vì vậy, sự thách thức
đối với quân đội nhân dân trước hết là sự thách thức về chính trị" (75).Trong
cuộc chiến tranh này, nếu quân đội không chuẩn bị cho mình sức mạnh
chiến đấu mới thì có khi quân đông, vũ khí hiện đại, được xây dựng chính
quy vẫn không hoàn thành được nhiệm vụ chiến đấu của mình. Sự sụp đổ
của Liên Xô đã cho ta một bài học sâu sắc: một quân đội hùng mạnh vào bậc


nhất, nhì thế giới với quân số vài triệu người và số lượng, chất lượng vũ khí
đủ đọ sức với Mỹ mà bất lực trước chiến lược tấn công mới của kẻ thù; thậm
chí trước giờ phút quyết định sự sống còn của chế độ xã hội chủ nghĩa Xô
Viết, quân đội đó đã mất phương hướng chính trị, rã rời về tổ chức và mất
sức chiến đấu từ bên trong.
Sự phát triển mới về chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta đang đặt ra
yêu cầu phải có một quan niệm mới về sức mạnh chiến đấu đặc thù của quân
đội ta; sức mạnh chiến đấu đó phải bao hàm sức mạnh đấu tranh vũ trang và
sức mạnh đấu tranh chính trị- tư tưởng.
Do đó, khái niệm sức mạnh chiến đấu của quân đội là: "trình độ sẵn

tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp
đã nói: "Tuy khí giới ta còn kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên
quyết, chí hy sinh của tướng sỹ ta… đã lập nên những chiến công oanh liệt
vẻ vang, có thể nói là kinh trời động đất"(10).
Tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường là phản ánh
các quan hệ xã hội hiện thực của họ; lòng kiên quyết và chí hy sinh của họ là
kết quả của sự nhận thức của họ đối với mục đích chính trị, bản chất của
cuộc đấu tranh mà họ tham gia, về tính chất của cuộc chiến tranh đó mà rút


cục là thể hiện ở ý chí chiến đấu của họ. Chính ý chí chiến đấu của người
lính trên chiến trường đã điều khiển vũ khí trong tay họ.
Từ phương pháp luận đó có thể khẳng định, một đội quân xâm lược,
phản cách mạng, tiến hành cuộc chiến tranh phi nghĩa thì trên chiến trường,
xét riêng về yếu tố tinh thần không bao giờ nó có ưu thế, dù rằng các ông
chủ của quân đội đó thường xuyên dùng các thủ đoạn vật chất và tinh thần
tiêm cho binh sỹ lòng hận thù và niềm vinh quang giả tạo, thậm chí kích
thích dục vọng và thú tính của binh lính đánh thuê. Với tinh thần như thế,
quân đội đó gặp phải một đối phương có ưu thế chính nghĩa cùng những
điều kiện khác về vật chất - kỹ thuật đảm bảo phù hợp thì cuối cùng nhất
định nó sẽ bị đánh bại, dù họ có quân đông, có vũ khí trang bị hiện đại.
C.Mác viết: "Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử
dụng lực lượng thực tiễn"(1). Đây là quan điểm phương pháp luận để xem
xét về sự chuyển hoá từ "vũ khí tinh thần" thành "vũ khí vật chất", khẳng
định vai trò quyết định của nhân tố tinh thần trong chiến tranh như lý giải
trên đây, thực ra cũng là để nói về vai trò của nhân tố con người trong sức
mạnh chiến đấu. Sức mạnh tinh thần là thuộc tính bản chất riêng của con
người, vũ khí là phương tiện vật chất để con người chiến đấu. Đối với một
quân đội cách mạng, sự giác ngộ lý tưởng cách mạng được chuyển hoá
thành lực lượng vật chất bằng hành động vật chất, bằng hành động chiến

tiện vật chất để con người tiến hành chiến tranh. Song, những gì con người
đã có không bao giờ thoả mãn con người; yêu cầu ngày càng cao hơn đối với
vũ khí luôn được con người đặt ra. Yêu cầu đó xuất hiện như là kết quả
mong muốn, thôi thúc con người năng động hơn, trí tuệ hơn trong nghiên
cứu, cải tiến, chế tạo, sử dụng các thế hệ vũ khí hiện đại hơn các loại đã có.
Mối quan hệ giữa con người và vũ khí luôn vận động, biến đổi, sự biến đổi


về chất của nhân tố này tác động đến nhân tố kia tạo nên sự biến đổi về chất
tương ứng của nhân tố ấy; cứ như vậy những trình độ chất mới của vũ khíkỹ thuật không ngừng được nâng lên thì trình độ chất mới của nhân tố con
người cũng không ngừng phát triển.
Khẳng định vai trò quyết định của nhân tố con người trong sức mạnh
chiến đấu không phải là xem nhẹ yếu tố vũ khí - kỹ thuật. Vấn đề là,dù trong
hoàn cảnhnào thìcon người vẫn là yếu tố động nhất. Nếu trước đây việc
chuyển đổi một thế hệ vũ khí này sang thế hệ vũ khí khác phải mất khoảng
20 năm, thì ngày nay điều đó diễn ra chỉ trong vòng từ 3 đến 5 năm. Trong
khi đó, khối lượng tri thức mà con người lựa chọn, xử lý chỉ tính bằng
khoảng thời gian rất ngắn. Sự vươn lên để hoàn thiện mình về tri thức, kỹ
năng, kỹ xảo, phương pháp v.v... luôn thôi thúc con người tìm tòi sáng tạo.
Càng dùng kỹ thuật để thay thế sức người thì con người càng giữ vai trò to
lớn, con người luôn giữ vai trò là chủ thể sáng tạo và sử dụng kỹ thuật.
Nhân tố con người là chủ thể, là nhân tố quyết định trong sức mạnh
chiến đấu; điều đó đã được chứng minh trong lịch sử và sẽ hoàn toàn đúng
cả trong hiện tại và tương lai.
Dân tộc Việt Nam ta có truyền thống chống giặc ngoại xâm với tinh
thần quyết chiến quyết thắng, kiên cường, bất khuất vì độc lập, tự do của Tổ
quốc. Vào thế kỷ XII với sức mạnh quân sự khổng lồ, quân Nguyên Mông
đã từng chinh phục khắp thế giới, nhưng ba lần chúng xuất quân xâm lược
nước ta đều chuốc lấy thất bại cay đắng. Điều quyết định tạo nên sức mạnh
chiến đấu của dân tộc ta không phải là trang bị, vũ khí, mà là ý chí quật

Sau khi Mỹ thất bại ở Việt Nam, nhiều nhà lý luận quân sự tư sản đều
có những câu hỏi giống nhau: Tại sao dân tộc Việt Nam đất không rộng,
người không đông, nghèo nàn lạc hậu, với quân đội mà lúc đầu kẻ thù coi là


“nhóm nổi dậy có vũ trang”, lại chiến thắng Mỹ – một nước giàu mạnh vào
bậc nhất thế giới tư bản, có một quân đội hiện đại, hùng mạnh vào hàng đầu
thế giới? Trả lời câu hỏi đó, một tác giả người Mỹ trong cuốn sách: “Đã một
thời chúng tôi là những người lính... và trẻ trung” (102), đó là trung tướng
Mỹ Ha-Rôn-G.Mo-rơ, nguyên là trung tá tiểu đoàn trưởng, đã từng tham gia
ở trận đụng đầu lịch sử giữa quân đội Mỹ và quân đội nhân dân Việt Nam ở
Ia-đrăng đã phải viết rằng: “Bộ đội của các ông thật tuyệt vời; một đối
phương có sự chỉ huy tuyệt vời ở mọi cấp và những người lính thiện chiến,
hết lòng vì sự nghiệp”. Ở đây, tác giả của cuốn sách – nhân chứng sống của
lịch sử trong chiến tranh Việt Nam của người Mỹ cũng phải thừa nhận rằng:
yếu tố quyết định trong sức mạnh chiến đấu của quân đội Việt Nam là nhân
tố con người chứ không phải là vũ khí - kỹ thuật hiện đại.
Tóm lại, nhân tố con người luôn giữ vai trò chủ đạo, quyết định trong
sức mạnh chiến đấu của quân đội ta. Trong tình hình hiện nay, vai trò đó
ngày càng tăng lên, điều đó đặt ra vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách phải
nâng cao chất lượng nhân tố con người để đáp ứng yêu cầu xây dựng sức
mạnh chiến đấu mới của quân đội ta hiện nay.
I.2. Tính cấp thiết nâng cao chất lượng nhân tố con người trước
yêu cầu phát triển sức mạnh chiến đấu mới của quân đội ta.
Việc nâng cao chất lượng nhân tố con người trong xây dựng sức mạnh
chiến đấu là vấn đề cơ bản thường xuyên của mọi quân đội; bởi vai trò ngày
càng tăng của nhân tố con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội –
một vấn đề có tính quy luật. Bản thân sức mạnh chiến đấu của quân đội vốn
là một đại lượng biến động, trong tương quan so sánh lực lượng với quân đội
đối phương - đối tượng đang tác chiến hoặc đối tượng tác chiến dự kiến.

hình hiện nay thì yêu cầu khách quan là phải thường xuyên đặt ra vấn đề


nâng cao vai trò nhân tố con người cùng với việc cải tiến vũ khí – kỹ thuật,
trong đó việc nâng cao chất lượng nhân tố con người ở vị trí hàng đầu.
Việc đòi hỏi cấp bách nâng cao chất lượng nhân tố con người trong sức
mạnh chiến đấu của quân đội ngày nay là do yêu cầu của thực tiễn phát triển
sức mạnh chiến đấu của quân đội lên một trình độ mới, theo hướng xây dựng
quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu
cầu bảo vệ Tổ quốc trong chống “diễn biến hoà bình”, chống bạo loạn, lật đổ
của kẻ thù và trong các tình huống khác nhau của xung đột vũ trang, chiến
tranh xâm lược.
Dưới đây là những vấn đề cụ thể quy định tính cấp bách của việc nâng
cao chất lượng nhân tố con người của quân đội ta ngày nay.
- Nâng cao chất lượng nhân tố con người trước yêu cầu phát triển mới
của vũ khí - kỹ thuật.
Quân đội ta dựa vào sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc, đã
đánh bại quân đội của các đế quốc lớn với trang bị vũ khí kém hơn quân đội
địch. Nhưng nếu chúng ta thoả mãn, dừng lại ở những gì ta có trong sức
mạnh chiến đấu ở hai chục năm về trước thì không hẳn chúng ta có thể giữ
được niềm vinh quang của người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh
tương lai, nếu kẻ địch liều lĩnh hoặc có thời cơ tấn công ta bằng quân sự.
Nguy hiểm hơn là bị chúng tấn công làm tha hoá, mất sức chiến đấu, bị vô
hiệu hoá trong “diễn biến hoà bình”.
Trong các cuộc kháng chiến trước đây, chúng ta đã đối phó với các loại
vũ khí hiện đại nhất của đối phương, trừ vũ khí nguyên tử. Nhưng đến nay
đã trải qua hai thập kỷ, công nghệ, vũ khí, kỹ thuật quân sự đã có những phát
triển mới do thành quả của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ mang lại.
Sau cuộc chiến tranh vùng Vịnh (1991)- cuộc chiến tranh đầu tiên sau
chiến tranh lạnh, giới quân sự Mỹ đã đánh giá: “các lực lượng và học thuyết



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status