luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay - Pdf 67

2

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu độc lập của riêng tôi. Các số liệu, tài liệu sử
dụng trong luận án là trung thực, có nguồn gốc,
xuất sứ rõ ràng
Hà nội, ngày

tháng

năm 2020

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Nguyễn Minh Đức


3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

1.

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa


KH&CN

7.

Khoa học xã hội nhân văn

KHXHNV

8.

Nghiên cứu khoa học

NCKH

9.

Quân ủy Trung ương

QUTW

10.

Trong sạch vững mạnh

TSVM

11.

Vững mạnh toàn diện


NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA CÁC ĐẢNG ỦY
HỌC VIỆN TRƯỜNG SĨ QUAN QUÂN ĐỘI
3.1. Thực trạng nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội
3.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng
lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các đảng ủy
học viện, trường sĩ quan quân đội
Chương 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
LÃNH ĐẠO NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA CÁC ĐẢNG ỦY HỌC VIỆN TRƯỜNG SĨ QUAN
QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
4.1. Tình hình nhiệm vụ và yêu cầu nâng cao chất lượng lãnh đạo
nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các đảng ủy học viện,
trường sĩ quan quân đội hiện nay
4.2. Giải pháp nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học của các đảng ủy học viện, trường sĩ quan quân đội hiện nay
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang

5
9
9
15
26


học, công nghệ…. Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, làm cho
khoa học, công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu [41, tr.26-27].
Các HV,TSQ quân đội là những cơ sở GDĐT, có nhiệm vụ đào tạo đội
ngũ cán bộ cho quân đội, đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, đào tạo kỹ sư, cử
nhân khoa học, kỹ thuật, đồng thời là những cơ sở NCKH, công nghệ nói
chung và khoa học, công nghệ quân sự nói riêng. Giáo dục đào tạo và NCKH
là hai mặt hoạt động có mối quan hệ hữu cơ, đồng thời là hai nhiệm vụ chính
trị trung tâm của các HV,TSQ góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn
mới. Trong đó NCKH cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn trực tiếp tác
động đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các HV,TSQ quân đội, đồng
thời cung cấp những luận cứ quan trọng cho việc hoạch định và góp phần
quán triệt, triển khai những chủ trương, đường lối, chính sách về quân sự
quốc phòng của Đảng, Nhà nước, quân đội; ứng dụng các kết quả NCKH vào
xây dựng quân đội, nền quốc phòng toàn dân; tham gia phát triển kinh tế xã
hội và đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận.
Các đảng ủy HV,TSQ quân đội là hạt nhân lãnh đạo, là nơi tập trung trí
tuệ, bản lĩnh và ý chí của mỗi đảng bộ, lãnh đạo toàn bộ mọi hoạt động của
các HV,TSQ, trong đó lãnh đạo nhiệm vụ NCKH là một nội dung trọng tâm,
rất quan trọng. Nhiệm vụ NCKH của các HV,TSQ quân đội có chất lượng cao
hay thấp, phụ thuộc trước hết vào sự lãnh đạo của các đảng ủy nhà trường.


6

Lãnh đạo nhiệm vụ NCKH là hoạt động thường xuyên, rất quan trọng
trong hoạt động lãnh đạo của các đảng ủy HV,TSQ quân đội nhằm giữ vững
và tăng cường sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của đảng ủy đối với nhiệm vụ
NCKH. Chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH là một trong những cơ sở để
đánh giá năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của đề tài
Làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, đề xuất giải pháp nâng cao chất
lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội hiện nay.
Nhiệm vụ của đề tài
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến nâng cao chất lượng lãnh
đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.
Luận giải làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản nâng cao chất lượng lãnh
đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.
Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm
nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.
Xác định yêu cầu và đề xuất những giải pháp cơ bản nâng cao chất
lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội hiện nay.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy
HV,TSQ quân đội.
Phạm vi nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu làm rõ về chất lượng và nâng cao chất lượng
lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.
Khảo sát thực tế tại các HV,TSQ quân đội; đối tượng khảo sát bằng
phiếu điều tra tập trung vào đội ngũ cán bộ cơ quan, cán bộ quản lý học viên
và đội ngũ giảng viên; các tư liệu, số liệu thực tế từ năm 2013 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Là hệ thống lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Đảng, xây dựng Đảng; các quan
điểm của Đảng, Nhà nước, Quân đội về NCKH và lãnh đạo nhiệm vụ NCKH
được thể hiện trong các văn bản luật, điều lệnh, điều lệ, chính sách...


7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm: mở đầu, 4 chương (9 tiết), kết luận, danh mục các công
trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục.


9

Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài
luận án
1.1.1. Các công trình liên quan đến nhiệm vụ giáo dục đào tạo,
nghiên cứu khoa học
Soutchay Vonsavanh (2002), Nâng cao chất lượng đào tạo ở Học viện Quốc
phòng thời kỳ mới, đề tài khoa học cấp Bộ [83]. Tác giả đã luận giải những vấn đề lý
luận và thực tiễn chất lượng đào tạo ở Học viện Quốc phòng Cay - xỏn Phôm - vi hản; đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo ở Học viện Quốc phòng Cay xỏn Phôm - vi - hản. Trong đó đã đề cập đến việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa
nâng cao chất lượng đào tạo và nâng cao chất lượng NCKH, đưa yếu tố khoa học
thâm nhập sâu vào hoạt động giáo dục đào tạo. Nghiên cứu sinh có thể vận dụng khi
nghiên cứu vấn đề nâng cao chất lượng lãnh đạo NCKH gắn với nâng cao chất lượng
giáo dục đào tạo của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.
Sỏn Xay Mạ Ni Vông (2015), Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên
khoa học xã hội và nhân văn ở Học viện Quốc phòng Cay - xỏn Phôm - vi - hẳn [99],
Tạp chí Học viện Quốc phòng Cay - xỏn Phôm - vi - hẳn. Từ việc phân tích cấu trúc
năng lực NCKH của giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, tác giả đã đưa ra một
số giải pháp nhằm phát triển năng lực NCKH xã hội và nhân văn ở Học viện Quốc
phòng Cay - xỏn Phôm - vi - hẳn, trong đó xác định nâng cao nhận thức, trách nhiệm
của các cấp ủy đảng, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng các cấp trong việc phát
triển năng lực NCKH của đội ngũ giảng viên khoa học xã hội và nhân văn, khẳng

Nhân dân Cách mạng Lào đó là tăng cường sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối,
trực tiếp của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào. Như vậy, Luận án đã khẳng
định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
tư tưởng, lý luận, trong đó bao gồm công tác nghiên cứu lý luận.
E. XaKhaRốp (1967), Bàn về quan điểm khoa học đối với sự lãnh đạo
quân đội, Nxb quân sự/Bộ Quốc phòng Liên xô [149], tập sách đã nêu lên quan
điểm khoa học đối với việc lãnh đạo bộ đội, một vấn đề thiết yếu của quân đội
và hải quân, trình bày những nội dung chủ yếu của sự lãnh đạo khoa học và
phương hướng nâng cao trình độ lãnh đạo khoa học của cán bộ trong lực lượng
vũ trang và coi sự lãnh đạo quân sự một cách khéo léo là một trong những điều


11

kiện quyết định để giành thắng lợi. Tác giả đã chỉ ra nội dung của việc lãnh đạo
khoa học gồm rất nhiều vấn đề, nhưng chủ yếu là nắm vững một cách sâu sắc
và nghiêm túc chú ý đến các quy luật khách quan và khéo léo áp dụng trong
thực tế những nguyên tắc xây dựng quân đội cũng như các nguyên tắc trong
lãnh đạo, chỉ huy. Đồng thời, tác giả cũng khẳng định phát huy sự lãnh đạo của
đảng là bảo đảm tăng cường hơn nữa sự hùng hậu về quân sự.
I.S.Mét- nhi-cốp (1974), Đảng cộng sản người lãnh đạo và giáo dục
lực lượng vũ trang Xô Viết, Nxb Bộ Quốc phòng Liên Xô, Mát-xcơ-va [103].
Tác giả chỉ ta quy luật khách quan của sự lãnh đạo của Đảng đối với sự
nghiệp xây dựng và củng cố quân đội. Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội đòi hỏi phải nâng cao vai trò tiền phong gương mẫu của cán
bộ đảng viên trong thực hiện chức trách người chiến sĩ. Các đảng ủy, chi ủy
phải thường xuyên lãnh đạo các tổ chức đảng ở đại đội và các tổ đảng.
Tác giả chỉ rõ: Những tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang Liên Xô
là một bộ phận trong toàn bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô. Trong hoạt động
của mình, những tổ chức đảng trong lực lượng vũ trang Liên Xô đều phải lấy

A.I Xê Rê Kin (1983),“Sự phát triển ngày càng lớn, vai trò lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Liên Xô trong củng cố lực lượng vũ trang và một số
vấn đề xây dựng Đảng trong Quân đội và Hải quân Liên Xô”, Tạp chí Tư
tưởng quân sự Liên Xô số tháng 10/1983 [150] . Bài viết khẳng định vai trò
to lớn của Đảng Cộng sản trong lãnh đạo quân sự, xây dựng quân đội cách
mạng, theo tác giả: Sự lãnh đạo của Đảng đối với các lực lượng vũ trang là
nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, nhằm bảo đảm xây dựng
niềm tin, sự giác ngộ chính trị, hướng dẫn hành động cho bộ đội. Khi Đảng
Cộng sản đã xác định được đường lối đúng đắn, chính sách phù hợp, thì kết
quả công việc phụ thuộc trước hết vào khâu tổ chức thực hiện đường lối,
Đối tượng quan tâm đặc biệt của tổ chức đảng trong tổ chức thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là lãnh đạo, xây dựng đơn vị,
xây dựng tổ chức chỉ huy, xây dựng đời sống mọi mặt đơn vị và duy trì sẵn
sàng chiến đấu, nâng cao chất lượng huấn luyện bộ đội.
Các tác giả đã khẳng định vai trò lãnh đạo quan trọng của Đảng Cộng
sản Liên Xô, đặc biệt đối với việc xây dựng quân đội, khẳng định đó là
nguyên tắc trong xây dựng quân đội cách mạng, phát huy vai trò của các tổ
chức đảng, đảng viên trong hoạt động lãnh đạo của đảng.


13

Ngô Tu Tuệ - Lý Luyện Trung (1997), Kiên trì và hoàn thiện sự lãnh
đạo của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia [139]. Nội dung cuốn sách gồm 6
chương đề cập những vấn đề quan trọng như: Tăng cường xây dựng nền tảng
tư tưởng; xây dựng nền chính trị; kiện toàn chế độ tập trung dân chủ; kiện
toàn tổ chức cơ sở đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và vấn đề quản lý
chỉnh đốn tác phong đảng. Cuốn sách đã đề cập đến vai trò lãnh đạo của tổ chức
cơ sở đảng ở trường học, nhất là các trường đại học và cao đẳng và khẳng định,
xây dựng đảng ở các trường đại học và cao đẳng là vấn đề lớn, liên quan đến đào

thuật lãnh đạo.
Quân ủy Trung ương Trung Quốc (2004), Điều lệ công tác đảng ủy
quân đội của Đảng Cộng sản Trung quốc [109]. Điều lệ xác định bảo đảm sự
lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội là mục đích căn bản, thể hiện cụ
thể tư tưởng, nguyên tắc, chức trách, trình tự và chế độ công tác của đảng ủy,
lấy quán triệt chế độ tập trung dân chủ và “nguyên tắc 16 chữ” làm trọng
điểm kiên trì, kế thừa, sáng tạo trên cơ sở kế thừa truyền thống tốt đẹp và kinh
nghiệm lịch sử về công tác đảng ủy trong quân đội. Điều lệ phân định rõ chức
trách của đảng ủy, bí thư và các đảng ủy viên, nhấn mạnh phát huy vai trò của
toàn đảng ủy theo tinh thần Đại hội 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc; Điều
lệ hoàn thiện trình tự nguyên tắc nghị sự, quyết sách của đảng ủy, làm rõ
phương thức biểu quyết quyết định các vấn đề quan trọng; chi tiết hóa trình tự
nghị sự và quyết sách. Đảng Cộng sản Trung Quốc xác định xây dựng quân
đội tích cực đẩy mạnh cuộc cách mạng quân sự mang nét đặc sắc Trung Quốc,
lĩnh vực quyết sách của các cấp ủy ngày càng rộng lớn, yêu cầu tính khoa học
ngày càng cao hơn, đòi hỏi cần thiết phải nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo
của đảng ủy trong bàn bạc và quyết sách vấn đề lãnh đạo.
Như vậy, các tác giả đã chỉ rõ vai trò lãnh đạo quan trọng của đảng trên từng
mặt công tác cũng như đặt ra yêu cầu cần phải đi sâu nghiên cứu lý luận, thực tiễn
của từng vấn đề, tuy nhiên việc nghiên cứu cụ thể các hoạt động lãnh đạo của đảng
đối với nhiệm vụ NCKH nhất là nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ nghiên cứu
khoa học ở các nhà trường quân đội chưa được nghiên cứu một cách hệ thống,
chuyên sâu. Những nội dung đó giúp cho nghiên cứu sinh có thể khẳng định vai trò
quan trọng của sự lãnh đạo của Đảng nói chung, đối với nhiệm vụ nghiên cứu khoa
học nói riêng và là nguồn tài liệu tin cậy để tham khảo nghiên cứu về vai trò lãnh
đạo nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ
NCKH của các đảng ủy HV,TSQ quân đội.


15

chứng cấu thành nên chất lượng đào tạo phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn


16

nhân lực cho sự pháp triển kinh tế - xã hội của địa phương và đất nước ở
mỗi thời kỳ. Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, thực tiễn, tác giả đề
xuất những giải pháp tăng cường vai trò lãnh đạo của các đảng bộ trường đại
học công lập ở Hà nội đối với nâng cao chất lượng công tác đào tạo: nâng
cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, trước hết là
ban thường vụ, thường trực đảng ủy, cán bộ chủ chốt; lãnh đạo tăng cường
công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho
đội ngũ cán bộ, giảng viên; đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức bộ máy và
mối quan hệ công tác trong các trường đại học công lập; nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác hợp tác và chuyển giao công nghệ đào tạo trình độ
đại học; coi trọng công tác phát triển đảng viên, phát huy vai trò của các tổ
chức quần chúng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng bộ,
đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác đào tạo
trình độ đại học. Tuy nhiên, Luận án chưa đề cập đến việc lãnh đạo nâng cao
chất lượng NCKH là yếu tố quan trọng đề lãnh đạo nâng cao chất lượng đào
tạo đại học ở các trường công lập ở Hà Nội.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2017), Tập tài liệu cao cấp lý luận
chính trị môn Khoa học Lãnh đạo do phó giáo sư, tiến sĩ Trần Thị Thanh Thủy chủ
biên [77]. Tập tài liệu trình bày nhiều nội dung về những vấn đề cơ bản về lãnh đạo
công; tư duy hệ thống trong lãnh đạo; ra quyết định lãnh đạo; một số kỹ năng và công
cụ lãnh đạo; nghệ thuật lãnh đạo; hoạch định và thực thi chính sách công. Trong phần
Những vấn đề cơ bản về lãnh đạo công, với cách tiếp cận lãnh đạo là một chức năng
xã hội bắt nguồn từ tính chất của quá trình lao động trong bối cảnh tổ chức, các tác
giả đã so sánh giữa quản lý và lãnh đạo trong tổ chức, đưa ra những sự tương đồng và
và sự khác biệt giữa hai quan niệm này. Xét về bản chất lãnh đạo và quản lý đồng

Phạm Huy Tập (2016), Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của
tổ chức đảng ở Bộ đội Biên phòng, Tạp chí Quốc phòng toàn dân số 3/2016
[123]. Trên cơ sở nghiên cứu nghị quyết của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở
Bộ Tư lệnh Biên phòng và thực trạng công tác xây dựng Đảng trong thời gian
qua; tác giả nhận định: nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, xây dựng
các tổ chức đảng trong Bộ đội biên phòng TSVM là khâu then chốt, nhằm xây
dựng Bộ đội Biên phòng VMTD, lãnh đạo thực hiện tốt công tác biên phòng,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên
giới quốc gia. Theo tác giả, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của


18

các tổ chức đảng trong Bộ đội Biên phòng cần tập trung thực hiện tốt một
số nội dung, giải pháp chủ yếu như: tăng cường xây dựng Đảng bộ về
chính trị, tư tưởng, kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng,
chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong
nội bộ; chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức xây dựng Đảng, nhất là
nguyên tắc tập trung dân chủ, coi trọng tự phê bình và phê bình, xây dựng
nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo các mặt công tác chính của cấp
ủy các cấp; xây dựng và thực hiện có hiệu quả chương trình hành động
thực hiện nghị quyết Đại hội X của Đảng bộ Quân đội, Nghị quyết của
Đảng bộ Bộ đội Biên phòng; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội
ngũ cán bộ chủ trì các cấp có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ững yêu
cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra,
giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đối với tổ chức đảng, đảng
viên; tập trung xây dựng tổ chức cơ sở đảng TSVM, nâng cao chất lượng
xây dựng và thực hiện nghị quyết, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Nguyễn Văn Chung (2019), Nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện
nhiệm vụ giáo dục và đào tạo của các đảng ủy HV,TSQ quân đội hiện nay

NCKH quân sự ở Học viện Chính trị hiện nay [80] đã làm rõ một số vấn đề lý
luận, thực tiễn của hoạt động NCKH quân sự, đề xuất một số giải pháp nâng
cao chất lượng NCKH quân sự ở các khoa quân sự tại Học viện Chính trị.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động NCKH quân sự ở Học
viện Chính trị, Đề tài đã rút ra một số kinh nghiệm, trong đó khẳng định phải
thường xuyên coi trọng việc giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của
cấp ủy đảng, chỉ huy các cấp. Tuy nhiên, Đề tài chưa đề cập đến vai trò lãnh
đạo xuyên suốt, có tính chất quyết định của Đảng ủy Học viện.
Hoàng Thị Nhị Hà (2009), Quản lý NCKH ở các trường đại học sư
phạm [71]. Tác giả khẳng định, NCKH trong các trường đại học vó vai trò
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển khoa học và
nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội; từ lý
luận và thực tiễn Luận án đề xuất năm giải pháp quản lý nhằm nâng cao
chất lượng NCKH ở các trường đại học sư phạm: hoàn thiện cơ chế, chính
sách quản lý NCKH; hoàn thiện tổ chức, bộ máy quản lý hoạt động NCKH;
cải tiến quy trình xây dựng kế hoạch, tiêu chí đánh giá và quản lý đề tài
NCKH; bảo đảm các điều kiện cho hoạt động NCKH; nâng cao năng lực


20

NCKH cho giảng viên ở các trường đại học sư phạm. Những giải pháp
được tác giả đề xuất chủ yếu là những tác động trên phương diện công tác
quản lý NCKH, song cần đặt công tác này dưới sự lãnh đạo của các đảng ủy
trường đại học sư phạm để có những định hướng, chủ trương, biện pháp tổ
chức thực hiện thống nhất, xuyên suốt, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng
trong nâng cao chất lượng quản lý NCKH.
Nguyễn Sĩ Lộc, (1997), Quản lý KH&CN [96]. Trong cuốn sách này, tác
giả đã trình bày khái quát về khoa học quản lý, nội dung và đặc điểm quản lý
KHCN, chiến lược phát triển và chính sách KHCN; các nội dung về quản lý hoạt

về NCKH, phát triển nghệ thuật quân sự.
Cao Tiến Hinh (2011), Đẩy mạnh hoạt động khoa học, công nghệ và
môi trường trong quân đội dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XI của Đảng
[74]. Trong bài viết, tác giả khẳng định Khoa học, công nghệ và môi trường là
những vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước. Cùng với giáo dục và đào tạo, KH&CN còn
được Đảng ta xác định là quyết sách hàng đầu để phát triển, đồng thời khái quát
một số kết quả đạt được trong thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và môi
trường trong quân đội từ đó đề xuất một số giải pháp như: Quán triệt sâu sắc và cụ
thể hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển khoa học, công nghệ và bảo
vệ môi trường vào hoạt động thực tiễn trong quân đội; tiếp tục đổi mới công tác
quản lý và nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách về phát triển, ứng dụng
KHCN&MT quân sự; chú trọng phát triển nguồn lực khoa học, công nghệ quân
sự; tăng cường hợp tác trong hoạt động KHCN&MT quân sự.
Trường Sĩ quan Chính trị (2016), Đào tạo cán bộ chính trị cấp phân
đội dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XII của Đảng [137] có một số bài viết
bàn về nhiệm vụ NCKH ở Trường Sĩ quan Chính trị. Tiêu biểu như:
Vũ Văn Thường, Gắn kết NCKH với đổi mới giáo dục, đào tạo ở
Trường Sĩ quan Chính trị dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội XII của Đảng
[137, tr.173-181]. Tác giả đã khái quát những kết quả NCKH của Nhà
trường đã đạt được và khẳng định những kết quả của hoạt động NCKH đã
trực tiếp góp phần phát triển những vấn đề mới đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
giáo dục đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội và giáo viên KHXHNV quân
sự, đồng thời đề xuất một số giải pháp gắn kết hoạt động NCKH với đổi
mới giáo dục đào tạo.


22

Phạm Hồng Quân, Nâng cao chất lượng ứng dụng kết quả nghiên cứu


23

Với những cách tiếp cận khác nhau, song các bài viết đều khẳng định
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với từng nhiệm vụ, từng mặt công tác trong
hoạt động đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội. Tuy nhiên các tác giả chưa
khai thác trên phương diện lãnh đạo nhiệm vụ NCKH, đây là cơ sở để nghiên
cứu sinh khẳng định vấn đề nghiên cứu đã chọn là mới và vận dụng vào trong
quá trình nghiên cứu.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2014), Kỷ yếu Hội thảo
Khoa học “Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý khoa học đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh trong
giai đoạn mới” [76]. Cuốn sách đã đề cập tới nhiều nội dung liên quan đến lý
luận và thực tiễn hoạt động quản lý khoa học, trong đó có bàn về vai trò của
hoạt động quản lý khoa học, những đặc điểm chi phối của quản lý khoa học
đến công tác giáo dục đào tạo, trình bày những giải pháp đổi mới, nâng cao
chất lượng quản lý khoa học ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,
trong đó khẳng định bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý khoa học là một trong
những giải pháp quan trọng, cấp thiết.
Các tác giả đã luận giải một cách khá toàn diện về tính cấp thiết, làm
rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn quản lý hoạt động khoa học,
trong đó có bàn đến xây dựng và hoạt động của cơ quan quản lý khoa học ở
các học viện, nhà trường. Các công trình đều cho rằng, để nâng cao chất
lượng hoạt động của cơ quan quản lý khoa học phải thường xuyên giáo dục
nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, các lực lư ợng, trước hết
là cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, mọi cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò, chức
năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý khoa học; thường xuyên bám sát thực
tiễn, kịp thời bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý khoa học và hệ thống các
văn bản hướng dẫn, mẫu biểu đi kèm để khai thác và sử dụng có hiệu quả
các nguồn lực khoa học phục vụ mục tiêu công tác giáo dục đào tạo, đáp ứng

các nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách nhà nước, nhất là từ doanh nghiệp cho
hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực KH&CN.
Nguyễn Phương Đông (2009), “Gắn kết NCKH với đào tạo tiến sĩ ở
Học viện Chính trị” [69, tr.44-47] Tác giả đã tiếp cận và lý giải khá sâu sắc
về mối quan hệ biện chứng giữa NCKH với đào tạo tiến sĩ ở Học viện
Chính trị và khẳng định: “Chất lượng của hai hoạt động này có quan hệ
gắn bó mật thiết với nhau, trong đó chất lượng NCKH có vai trò trực tiếp
nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo”.


25

Để gắn kết NCKH với đào tạo tiến sĩ ở Học viện trong giai đoạn tới, theo
tác giả cần: nâng cao trình độ, khả năng và phương pháp NCKH của đội ngũ
giảng viên, cán bộ khoa học và nghiên cứu sinh ở Học viện; tăng hàm lượng khoa
học vào hoạt động giảng dạy, tổ chức tốt NCKH của nghiên cứu sinh; tăng cường
liên kết trong đào tạo tiến sĩ và NCKH giữa Học viện với các cơ sở đào tạo,
NCKH trong và ngoài quân đội... Những nội dung trong bài báo của tác giả
Nguyễn Phương Đông là cơ sở có giá trị để nghiên cứu sinh nghiên cứu luận giải
mối quan hệ giữa NCKH với giáo dục - đào tạo ở các HV,TQS quân đội.
Tô Lâm (2017), Nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo chiến
lược nhằm chủ động bảo vệ vững chắc an ninh, trật tự trong tình hình mới [92].
Tác giả khẳng định: dự báo chiến lược là một nhiệm vụ rất quan trọng, thường
xuyên của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành. Nhiệm vụ này thường
được giao cho các viện nghiên cứu chiến lược, các cơ quan tham mưu tổ chức
nghiên cứu, phân tích, dự báo tình hình, làm cơ sở để tham mưu, đề xuất việc
hoạch định đường lối, chính sách, biện pháp ứng phó kịp thời với các tình huống
xảy ra. Bên cạnh việc khẳng định những kết quả đã đạt được, tác giả đã chỉ ra
những hạn chế trong công tác nghiên cứu dự báo chiến lược của lực lượng công
an nhân dân, từ đó, đề xuất một số nội dung cần tập trung thực hiện tốt là: tiếp tục

đáp ứng yêu cầu của thực tiễn; đẩy mạnh đầu tư xây dựng, phát triển nguồn lực
khoa học, công nghệ và môi trường quân sự. Tuy nhiên, tác giả chưa đặt các nội
dung, biện pháp đó là những nội dung cụ thể cần được thực hiện thống nhất về
mặt đường lối, phương hướng, chủ trương dưới sự lãnh đạo của Đảng
Tóm lại, các công trình khoa học trên đã đề cập đến những vấn đề liên
quan đến hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động lãnh đạo của đảng trên
nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, về nâng cao chất lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH
của các đảng ủy HV,TQS quân đội, nhất là các quan niệm, các yếu tố quy
định và tiêu chí đánh giá cũng như hệ thống các giải pháp nâng cao chất
lượng lãnh đạo nhiệm vụ NCKH của các đảng ủy HV,TQS quân đội vẫn chưa
được các tác giả nghiên cứu một cách đầy đủ, chặt chẽ, logic.
1.3. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công
bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.3.1. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình khoa học đã công bố
Một là, các công trình tiếp cận nhiệm vụ NCKH là đối tượng của hoạt
động tổ chức, quản lý khoa học nói chung gắn với công tác giáo dục đào tạo;



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status