luận án tiến sĩ nâng cao chất lượng chính trị của vận động viên ở các trung tâm thể dục thể thao trong quân đội giai đoạn hiện nay - Pdf 67

0

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình
nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận
án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng.
Tác giả luận án

Vũ Văn Nam


1

MỤC LỤC

Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỞ ĐẦU
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.
1.2.
1.3.

3
7
7

Thực trạng nâng cao chất lượng chính trị của vận động viên ở
các trung tâm thể dục thể thao trong quân đội
Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng chính
trị của vận động viên ở các trung tâm TDTT trong quân đội

24
48
67
67
87

Chương 4 YÊU CẦU VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CHÍNH TRỊ CỦA VẬN ĐỘNG VIÊN Ở CÁC TRUNG
TÂM THỂ DỤC THỂ THAO TRONG QUÂN ĐỘI GIAI
103
ĐOẠN HIỆN NAY
4.1.

Những yếu tố tác động và yêu cầu nâng cao chất lượng chính
trị của vận động viên ở các trung tâm thể dục thể thao trong
quân đội giai đoạn hiện nay
103
4.2.
Những giải pháp nâng cao chất lượng chính trị của vận động viên
ở các trung tâm thể dục thể thao trong quân đội giai đoạn hiện nay 113
KẾT LUẬN
155
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG
BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


Bản lĩnh chính trị
Bộ Quốc phòng
Bộ Tổng Tham mưu
Cán bộ chính trị
Công tác đảng, công tác chính trị
Cơ quan chính trị
Chất lượng chính trị
Chính trị viên
Đội ngũ cán bộ
Giáo dục chính trị
Phẩm chất chính trị
Quân đội nhân dân
Quân ủy Trung ương
Thể dục thể thao
Vận động viên

BLCT
BQP
BTTM
CBCT
CTĐ, CTCT
CQCT
CLCT
CTV
ĐNCB
GDCT
PCCT
QĐND
QUTW

ngừng tiến bộ, trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, hoạt động nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT quân
đội vẫn chưa được quan tâm đúng mức; CLCT của VĐV nhiều mặt chưa đáp
ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thể thao quân đội trong tình hình mới.


4

Hiện nay, trong điều kiện hội nhập với thể thao thế giới, Đảng ta chủ
trương coi trọng giáo dục đạo đức, ý chí, lòng tự hào dân tộc cho VĐV là
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
đào tạo tài năng thể thao. QUTW, BQP chủ trương giữ vững mục tiêu là một
trong những trung tâm hàng đầu của quốc gia đối với thể thao thành tích cao
quân đội. Trong khi đó, mặt trái của nền kinh tế thị trường, những tiêu cực
của xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch đã tác động sâu sắc đến
nhận thức, tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ, trong đó có VĐV ở các trung tâm
TDTT quân đội. Sự quan tâm và kỳ vọng của người hâm mộ thể thao vừa là
động lực, vừa tạo áp lực lớn về thành tích đối với mỗi VĐV. Điều đó, đòi hỏi
phải tăng cường giáo dục, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức
lối sống và nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT quân đội, bảo
đảm cho họ có quan điểm lập trường đúng đắn, BLCT vững vàng, ý chí quyết
tâm cao trong tập luyện, thi đấu, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Đây
vừa là yêu cầu cơ bản, thường xuyên, vừa là yêu cầu cấp thiết của công tác đào
tạo VĐV ở các trung tâm TDTT quân đội giai đoạn hiện nay.
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng
chính trị của vận động viên ở các trung tâm thể dục thể thao trong quân
đội giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, đây là vấn đề có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu

chính trị; đường lối, quan điểm của Đảng về TDTT và đào tạo VĐV thể
thao thành tích cao.
Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn hoạt động xây dựng, huấn luyện, tập huấn, thi đấu của các
trung tâm TDTT quân đội. Thực trạng CLCT và nâng cao CLCT của VĐV ở
các trung tâm TDTT quân đội. Các báo cáo sơ kết, tổng kết công tác xây dựng
Đảng, CTĐ, CTCT của các trung tâm TDTT quân đội. Kết quả điều tra, khảo
sát thực tế của tác giả về CLCT và nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm
TDTT quân đội giai đoạn hiện nay.


6

Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, luận án sử dụng
tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành và liên
ngành, trong đó chú trọng các phương pháp lôgíc, lịch sử, phân tích, tổng
hợp, so sánh, thống kê, hệ thống, cấu trúc, tổng kết thực tiễn, khảo sát thực tế,
điều tra xã hội học và phương pháp chuyên gia.
5. Những đóng góp mới của luận án
Xây dựng quan niệm CLCT và nâng cao CLCT của VĐV ở các trung
tâm TDTT trong quân đội; xác định những vấn đề có tính nguyên tắc và tiêu
chí đánh giá nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT trong quân đội.
Rút ra một số kinh nghiệm nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm
TDTT trong quân đội.
Đề xuất một số giải pháp mới về nâng cao CLCT của VĐV ở các
trung tâm TDTT trong quân đội giai đoạn hiện nay. Đó là các giải pháp:
“Xác định đúng nội dung, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp giáo
dục chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật của VĐV ở
các trung tâm TDTT quân đội” và giải pháp: “Phát huy tính tích cực, chủ

tư tưởng và bồi dưỡng lý luận cho các sĩ quan xô viết. Tác giả cho rằng:
“Vấn đề GDCT và rèn luyện tinh thần và tâm lý hiện nay đóng một vai
trò to lớn trong lý luận quân sự, trong công tác huấn luyện và giáo dục
quân sự” [63, tr.303].
A.I. Ki-Tốp, V.N. Cô-Va-Lép và V.K. Lu-Gie-Ren-cô (1976), “Quân
đội hiện đại và kỷ luật” [69]. Qua nghiên cứu thực tiễn phong phú của các
lực lượng vũ trang Liên Xô, các tác giả đã khái quát những kinh nghiệm
tiên tiến và đề ra phương hướng, biện pháp cơ bản của việc tăng cường hơn
nữa tính tổ chức và kỷ luật của quân đội trong điều kiện tác chiến hiện đại.
Các tác giả đã luận giải khá sâu sắc về mối quan hệ giữa ý thức kỷ luật với
tinh thần sẵn sàng lập công. Khẳng định rèn luyện tư tưởng là cơ sở của ý
thức kỷ luật của quân nhân Xô-viết, các tác giả cho rằng: “Hệ thống GDCT
tư tưởng và quân sự trong các lực lượng vũ trang chúng ta bao gồm những
hình thức tác động vào bộ đội về tinh thần và đạo đức.., tạo cho họ thói quen
thực tiễn là hành động có kỷ luật và phương pháp tổng hợp trong việc hình
thành nhân cách” [69, tr.105].


8

A.A. Ê-Pi-Sép (1980), “Công tác tư tưởng trong các lực lượng vũ
trang xô viết” [64]. Đây là công trình tổng kết về công tác tư tưởng trong các
lực lượng vũ trang Xô viết, rút ra những vấn đề có tính nguyên tắc, có giá trị
hướng dẫn hành động, gắn liền với việc xây dựng lực lượng vũ trang Xô viết.
Tác giả luận bàn sâu sắc quan điểm tổng hợp trong tiến hành công tác tư
tưởng, trong đó có những vấn đề liên quan đến các nội dung, hình thức, biện
pháp quản lý tư tưởng, theo tác giả truyền thống chiến đấu của lực lượng vũ
trang là một phương tiện giáo dục tư tưởng: “Việc kỷ niệm những ngày ấy có
tác dụng củng cố sự thống nhất, đoàn kết của người Xô-viết, tăng cường lòng trung
thành đối với Tổ quốc vĩ đại, tinh thần yêu nước của người Xô-viết” [64, tr.208].

1.1.2. Các công trình nghiên cứu về nhân tố chính
trị - tinh thần; giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản
lĩnh chính trị của cán bộ, chiến sĩ
Sỏn Xay Chăn Nha Lạt (2012), “Giáo dục chính trị - tư tưởng cho

hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội nhân dân Lào hiện nay” [18]. Luận án chỉ
ra những vấn đề lý luận về GDCT tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ. Theo
tác giả GDCT tư tưởng là quá trình tác động tự giác với mục tiêu, nội
dung, phương pháp phù hợp của chủ thể đối với hạ sĩ quan, binh sĩ; phát
triển PCCT, năng lực chính trị thực tiễn của họ để hoàn thành nhiệm vụ
của mình, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Do
vậy, GDCT tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ phải kiên định tính Đảng, tính
giai cấp; mang tính chiến đấu, tính phê phán cao; tổ chức và tiến hành
phải thực sự khoa học, chặt chẽ; phải gắn với thực tiễn hành động và cuộc
sống của đội ngũ này; phải quán triệt phương châm kết hợp chặt chẽ giữa
xây và chống, lấy xây là chính và kết hợp công tác GDCT tư tưởng với
công tác tổ chức trong mỗi đơn vị. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng,
chỉ rõ nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm, rút ra
một số bài học kinh nghiệm về công tác GDCT tư tưởng cho hạ sĩ quan,
binh sĩ. Luận án đề xuất 5 giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng GDCT
tư tưởng cho hạ sĩ quan, binh sĩ QĐND Lào hiện nay.
Thim Sảo Đuông Chăm Pa (2016), “Nâng cao chất lượng giáo dục
chính trị cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở các trung đoàn bộ binh Quân đội nhân dân


10

Lào hiện nay” [62]. Theo tác giả, GDCT cho hạ sĩ quan, binh sĩ ở các trung
đoàn bộ binh QĐND Lào là một hình thức hoạt động của công tác tư
tưởng - văn hoá của Đảng nhằm phổ biến những nguyên lý cơ bản của chủ

đạo đức Cay Xỏn Phôm Vi Hản; đường lối, quan điểm của Đảng Nhân dân
cách mạng Lào, nhiệm vụ của cách mạng Lào, QĐND Lào và đơn vị; bồi
dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và lối sống cao đẹp của người cán bộ
quân đội và kiên quyết đấu tranh với những quan điểm, tư tưởng phản
động, sai trái của các thế lực thù địch.
Neang Phat (2017), “Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia
Campuchia hiện nay” [89]. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của Quân đội
Hoàng gia Campuchia; tác giả đã khái quát nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ
Quân đội Hoàng gia Campuchia; xác định những yêu cầu cơ bản về số lượng,
cơ cấu, phẩm chất và năng lực, phương pháp, tác phong công tác của đội ngũ
cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia; trong đó tác giả nhấn mạnh đội ngũ
cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia phải có BLCT trung kiên, tuyệt đối
trung thành với nhà Vua, với đất nước và Quân đội Hoàng gia; có phẩm chất
đạo đức, lống sống phù hợp với truyền thống của dân tộc. Tác giả luận giải
làm rõ 04 vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội
Hoàng gia Campuchia và xác định 04 nhóm tiêu chí đánh giá xây dựng đội
ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia. Đánh giá thực trạng, chỉ rõ
nguyên nhân của những ưu điểm và hạn chế, khuyết điểm trong xây dựng đội
ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia. Tổng kết 04 kinh nghiệm có giá
trị vận dụng xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội Hoàng gia Campuchia. Xác
định 05 yêu cầu và đề xuất 06 giải pháp tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ
Quân đội Hoàng gia Campuchia hiện nay.
1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên
quan đến đề tài luận án
1.2.1. Các công trình nghiên cứu về công tác giáo
dục chính trị tư tưởng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo
đức của cán bộ, chiến sĩ, vận động viên
Dương Văn Lượng (1994), “Nâng cao phẩm chất chính trị quân nhân





13

Lê Ngọc Trung (2012), “Nghiên cứu thực trạng và giải pháp giáo
dục đạo đức cho vận động viên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập ” [126].
Tác giả đã khái quát quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng, Nhà nước, ngành TDTT về giáo dục đạo đức cho VĐV TDTT. Tập
trung nghiên cứu khung lý luận về đạo đức và đạo đức thể thao; các yếu tố
tác động và quy định đạo đức thể thao VĐV. Đồng thời đánh giá thực
trạng công tác giáo dục đạo đức; xây dựng tiêu chí đánh giá và quy trình
thực hiện các tiêu chí giáo dục đạo đức thể thao cho VĐV; trên cơ sở đó
luận án đề xuất 04 nhóm giải pháp giáo dục đạo đức thể thao Việt Nam
trong thời kỳ hội nhập quốc tế.
Trương Thành Trung (2012), “Đổi mới nội dung, phương thức công tác
tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam thời kỳ mới” [127]. Đề tài đã đưa
ra quan niệm đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng trong QĐND
Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, rút ra 5
bài học kinh nghiệm đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng trong
quân đội; dự báo về các nhân tố tác động tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ, chiến
sĩ trong thời gian tới. Đề tài nhận định “Đối với chiến sĩ, khi không giác ngộ sâu
sắc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu thì dễ có tư tưởng ngại phục vụ quân đội, không
sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng” [127, tr.102]. Trên cơ sở
đó, đề xuất 07 nhóm giải pháp, đó là: Đổi mới tư duy của các chủ thể lãnh
đạo; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận đáp ứng những đòi hỏi
của công tác tư tưởng trong quân đội thời kỳ mới; hoàn thiện quy trình,
phương pháp quản lý và giải quyết tư tưởng của bộ đội ở đơn vị cơ sở; đẩy
mạnh xây dựng môi trường văn hóa và tổ chức tốt đời sống vật chất, tinh thần
của bộ đội; xây dựng và phát huy sức mạnh của ĐNCB chuyên trách; các tổ
chức quần chúng và gắn đổi mới nội dung, phương thức công tác tư tưởng với

trong đào tạo cán bộ chính trị cấp phân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giai
đoạn mới” [128]. Cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học đề cập khá sâu sắc, toàn
diện và khoa học về vị trí, vai trò, tính cấp thiết và những giải pháp đổi mới
chương trình, nội dung môn học GDCT trong đào tạo CBCT cấp phân đội


15

hiện nay. Có nhiều bài viết nghiên cứu, làm rõ thực trạng chất lượng công tác
GDCT tại đơn vị cơ sở và hạn chế trong bồi dưỡng kỹ năng thực hành GDCT
của người học, nhất là kiến thức thực hành GDCT gắn với những yêu cầu, nội
dung đổi mới GDCT trong Đề án của BQP. Ngoài ra, các bài viết còn tập
trung nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực, kỹ năng
chuẩn bị và thực hành giảng bài chính trị; kỹ năng sư phạm, kỹ năng quản lý
và tổ chức học tập chính trị, nhất là phải biết “dạy, kèm, lo, kết, mở”; kỹ năng
sử dụng phương tiện dạy học hiện đại trong GDCT hiện nay.
Nguyễn Đắc Vinh (2015), “Nâng cao nhận thức chính trị, lý tưởng
sống đúng đắn, ý thức trách nhiệm sống với cộng đồng trong thanh niên,
xứng đáng truyền thống tự hào của cha anh” [143]. Tác giả nhấn mạnh, với
vị trí, vai trò là chủ nhân tương lai của nước nhà, yêu cầu đặt ra với thanh niên
Việt Nam là “Nâng cao ý thức chính trị; quan tâm và có trách nhiệm hơn đối
với những vấn đề của quê hương, đất nước...; năng động, chủ động học hỏi
những cái mới, cái tiến bộ của nhân loại; chủ động và tự tin hơn trong quá
trình hội nhập quốc tế” [143, tr.37].
Đỗ Duy Môn (2015), “Nâng cao chất lượng giáo dục chính trị cho hạ
sĩ quan, chiến sĩ ở các đơn vị cơ sở theo phương pháp hỏi - đáp” [85]. Tác
giả đi sâu bàn về bài giảng chính trị theo phương pháp hỏi - đáp và khẳng
định đây là phương pháp GDCT giữ vị trí chủ đạo trong quá trình huấn luyện,
giáo dục ở đơn vị. Để nâng cao chất lượng giảng bài chính trị, theo tác giả cần
phải thiết kế bài giảng bảo đảm mang tính vừa sức, phù hợp đối tượng; phát

bộ, chiến sĩ và bản thân về năng lực GDCT của CTV.
Nguyễn Văn Minh (2017), “Thực hiện nhiều biện pháp nâng cao chất
lượng giáo dục, quản lý tư tưởng chiến sĩ mới” [84]. Tác giả cho rằng chiến sĩ
mới ở độ tuổi thanh niên, tâm sinh lý đang trong giai đoạn phát triển mạnh, dễ
thay đổi và dễ bị tổn thương; phần lớn lần đầu xa gia đình và tham gia các
hoạt động đặc thù của môi trường quân sự; kiến thức xã hội, kinh nghiệm


17

sống và kỹ năng mềm còn hạn chế; trình độ văn hóa không đồng đều, hội tụ
từ nhiều vùng miền với nhiều phong tục tập quán khác nhau, vì vậy cần phải
thực hiện nhiều biện pháp giáo dục, quản lý tư tưởng đối với họ. Tác giả cho
rằng, đối với ĐNCB, nhất là cán bộ tiểu đội, trung đội là những người cùng
ăn, ngủ, sinh hoạt, học tập; thường xuyên và trực tiếp giáo dục, quản lý tư
tưởng chiến sĩ mới, cần nắm chắc hoàn cảnh từng người, nhất là chiến sĩ là
người dân tộc thiểu số, những trường hợp cá biệt.
1.2.2. Các công trình nghiên cứu về xây dựng, nâng cao bản lĩnh
chính trị, chất lượng chính trị của quân nhân Quân đội nhân dân Việt nam
Nguyễn Đình Tu (1996), “Nâng cao bản lĩnh chính trị của sỹ quan trẻ
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” [129]. Tác giả quan niệm BLCT của
sỹ quan trẻ là một phẩm chất xã hội cơ bản, chủ đạo trong nhân cách, là
PCCT tinh thần phản ánh mặt giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc, là PCCT đã
phát triển đến một trình độ nhất định làm cho sỹ quan trẻ tự quyết định một
cách độc lập, sáng tạo ý nghĩ và hành vi chính trị của mình. Tác giả luận án đã
phân tích thấu đáo, cụ thể thực trạng BLCT của sỹ quan trẻ và đề xuất các giải
pháp vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài là: gia
tăng hàm lượng trí tuệ trong BLCT của sỹ quan trẻ quân đội ta hiện nay; tăng
cường rèn luyện năng lực, kinh nghiệm hoạt động chính trị thực tiễn cho đội
ngũ sỹ quan trẻ; dân chủ hóa xã hội chủ nghĩa đời sống chính trị - tinh thần của

Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn quân sự (2006), “Nâng cao chất
lượng chính trị của đội ngũ cán bộ, nhân viên, công nhân kỹ thuật ở các
doanh nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc phòng” [139]. Đề tài chỉ rõ,
CLCT của ĐNCB, nhân viên, công nhân kỹ thuật ở các doanh nghiệp thuộc
Tổng cục Công nghiệp quốc phòng là nhân tố cơ bản trong chất lượng tổng
hợp, xây dựng ĐNCB, nhân viên, công nhân kỹ thuật vững mạnh. Trên cơ sở
khảo sát thực trạng ở các doanh nghiệp thuộc Tổng cục Công nghiệp quốc
phòng, chỉ rõ những yếu tố tác động trực tiếp đến CLCT và yêu cầu về CLCT
của ĐNCB, nhân viên, công nhân kỹ thuật; đề tài đề xuất 04 nhóm giải pháp
cơ bản, gồm: phát huy vai trò của các cấp ủy đảng, người chỉ huy, đội ngũ


19

CBCT và CQCT; phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng ở các doanh
nghiệp; nâng cao chất lượng tuyển chọn, quản lý, GDCT tư tưởng, kết hợp
với rèn luyện nâng cao tay nghề của ĐNCB, nhân viên, công nhân kỹ thuật và
hoàn thiện cơ chế chính sách, chăm lo đời sống, cải thiện môi trường học tập,
rèn luyện của ĐNCB, nhân viên, công nhân kỹ thuật.
Đỗ Mạnh Hòa (2011), “Nâng cao chất lượng chính trị của lực lượng
dân quân tự vệ hiện nay” [66]. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ rõ nâng
cao CLCT của lực lượng dân quân tự vệ là làm tăng thêm giá trị của các yếu
tố cấu thành CLCT của lực lượng dân quân tự vệ. Để nâng cao CLCT của lực
lượng dân quân tự vệ hiện nay, cần thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải
pháp cơ bản, đó là: Nâng cao nhận thức trách nhiệm; phát huy vai trò của các
chủ thể trong nâng cao CLCT của lực lượng dân quân tự vệ. Tăng cường sự
lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền và sự chỉ
huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương và tham mưu của các ban
ngành, đoàn thể trong xây dựng lực lượng dân quân tự vệ về chính trị.
Thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng dân

1.3. Khái quát kết quả chủ yếu của các công trình đã công bố liên
quan đến đề tài và những vấn đề luận án tập trung giải quyết
1.3.1. Khái quát kết quả chủ yếu những công trình khoa học đã công
bố liên quan đến đề tài luận án
Nhìn một cách tổng quát, từ nhiều góc độ khác nhau, các công trình
nghiên cứu ở ngoài nước, trong nước có liên quan đến đề tài luận án, đã phân
tích làm rõ một số vấn đề trên những nội dung chủ yếu sau:
Một là, các công trình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước đã phân
tích khá sâu sắc, toàn diện quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của các
Đảng Cộng sản, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam về CTĐ, CTCT trong lực lượng vũ trang; về xây dựng, phát huy nhân tố
chính trị tinh thần, nâng cao ý chí chiến đấu, BLCT của quân nhân; khẳng định
tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc nâng cao CLCT của cán bộ, chiến sĩ.


21

Hai là, một số công trình khoa học đã tập trung khái quát, luận giải làm
rõ những vấn đề cơ bản về CLCT, đưa ra quan niệm, luận giải vai trò, xác
định những yếu tố cấu thành và biểu hiện của CLCT của con người, tổ chức
trong lực lượng vũ trang; đề xuất, luận giải các giải pháp nâng cao CLCT của
cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.
Ba là, một số công trình khoa học đã khái quát, luận giải làm rõ đặc
điểm của hoạt động thể thao thành tích cao, tâm lý VĐV và khẳng định tính
tất yếu phải tăng cường GDCT tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức
kỷ luật và tinh thần cống hiến vì màu cờ sắc áo của Tổ quốc đối với VĐV.
Bốn là, một số công trình đã điều tra, khảo sát thực tế, đánh giá đúng
thực trạng CLCT và nâng cao CLCT cho cán bộ, chiến sĩ, lực lượng dân quân
tự vệ; chỉ rõ nguyên nhân và rút ra một số kinh nghiệm giáo dục, rèn luyện nâng
cao CLCT của cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và giáo dục đạo đức cho VĐV

Ba là, nghiên cứu, điều tra, khảo sát thực tiễn, thu thập tư liệu, số liệu;
đánh giá đúng thực trạng nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT
quân đội; chỉ rõ những nguyên nhân ưu điểm, hạn chế khuyết điểm; tổng kết một
số kinh nghiệm nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT quân đội.
Bốn là, phân tích sự tác động của tình hình thế giới, khu vực và trong
nước; nhiệm vụ của Quân đội; định hướng phát triển của ngành TDTT và
nhiệm vụ của các trung tâm TDTT quân đội đến nâng cao CLCT của VĐV;
xác định yêu cầu nâng cao CLCT của VĐV ở các trung tâm TDTT quân đội
giai đoạn hiện nay.
Năm là, nghiên cứu đề xuất những giải pháp nâng cao CLCT của
VĐV ở các trung tâm TDTT trong quân đội giai đoạn hiện nay. Trong từng
giải pháp sẽ làm rõ vị trí, ý nghĩa, cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung, hình
thức, biện pháp cụ thể thực hiện.


23

Kết luận chương 1
Xuất phát từ vai trò quan trọng của CLCT đối với sức mạnh chiến đấu
của quân đội và sức mạnh bảo vệ đất nước của các quốc gia, dân tộc, nên vấn
đề chính trị, CLCT và nâng cao CLCT đối với cán bộ, chiến sĩ trong lực
lượng vũ trang luôn được các nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan
tâm, nghiên cứu. Từ nhiều góc độ khác nhau, các đề tài khoa học, luận án và
các bài báo khoa học ở cả trong nước và ngoài nước đã đề cập đến một số vấn
đề về CLCT, nâng cao CLCT của một số đối tượng cán bộ, chiến sĩ ở một số
loại hình tổ chức thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội nhân dân. Đây
là nguồn tài liệu quý, gợi mở cho nghiên cứu sinh ở các cấp độ khác nhau về
định hướng nghiên cứu đề tài luận án, những vấn đề có thể kế thừa phù hợp
với đối tượng, phạm vi nghiên cứu, những vấn đề cần tiếp tục bổ sung, phát
triển nhằm thực hiện nội dung nghiên cứu được xác định.

quốc phòng 3 (TT3) trực thuộc Quân khu 5, Trung tâm TDTT quốc phòng 4
(TT4) trực thuộc Quân khu 9, Trung tâm TDTT quốc phòng 5 (TT5) trực
thuộc Quân chủng Hải quân.
Hiện nay, các trung tâm TDTT trong quân đội trực tiếp quản lý 27 đội
thể thao thành tích cao, thuộc 22 bộ môn gồm: bắn súng, bi sắt, bóng bàn,
bóng chuyền nam trong nhà, bơi, cờ vua, cầu lông, điền kinh, karatedo, kich
Boxing, lặn, pencaksilat, judo, quần vợt, quyền anh, taekwondo, thể dục dụng
cụ, vật, vovinam, võ cổ truyền, wushu (tán thủ), xe đạp, với tổng số 937 VĐV,
trong đó có 274 VĐV là quân nhân, công nhân viên quốc phòng, 663 VĐV
chưa được tuyển dụng vào biên chế quân đội.
Các trung tâm TDTT trong quân đội được biên chế, gồm: ban giám
đốc, cơ quan chuyên môn, cơ quan chính trị, cơ quan hành chính - hậu cần dịch vụ, tài chính và các đội thể thao. Ban Giám đốc có giám đốc, CTV và
phó giám đốc chuyên môn. Có 02 trung tâm được biên chế ban chính trị, gồm
trưởng ban và trợ lý chính trị, 03 trung tâm còn lại được biên chế trợ lý chính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status