1
MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu khái quát về luận án
Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 51/NQ - TƯ ngày
20 tháng 7 năm 2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về việc tiếp tục hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn
với chế độ chính ủy, chính trị viên (CTV) trong Quân đội nhân dân Việt
Nam”, Đội ngũ chính trị viên (ĐNCTV) đã có sự trưởng thành tương đối
toàn diện, bước đầu khẳng định được vị thế và uy tín trên thực tế, có
những đóng góp tích cực nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng,
công tác chính trị (CTĐ,CTCT) ở các phân đội, góp phần xây dựng quân
đội vững mạnh về chính trị. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả khách
quan và chủ quan, chất lượng ĐNCTV còn có những hạn chế, bất cập
nhất định về năng lực tổ chức thực tiễn, năng lực quản lý, chỉ huy bộ
đội, kiến thức quân sự, kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức pháp
luật,...Những hạn chế đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả hoàn thành
nhiệm vụ của các phân đội.
Là cán bộ chính trị, giảng viên khoa CTĐ,CTCT, Học viện Chính trị
nghiên cứu sinh đã nhiều năm với trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để có
những giải pháp thiết thực nâng cao chất lượng ĐNCTV đáp ứng yêu
cầu nhiệm vụ xây dựng, chiến đấu của quân đội trong thời kỳ mới. Vì
vậy, nghiên cứu sinh đã tham gia thực hiện đề tài khoa học cấp học
viện (năm 2012), các đề tài thi tuổi trẻ sáng tạo cấp toàn quân (năm
2012, 2013, 2014), công bố các bài báo khoa học về vấn đề nâng cao
chất lượng ĐNCTV trong quân đội góp phần cung cấp thêm luận cứ
khoa học cho các cấp có thẩm quyền vận dụng trong xây dựng, đào tạo,
bồi dưỡng nâng cao chất lượng ĐNCTV hiện nay. Kế thừa kết quả đã
được công bố, nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng
đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt
Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ với mong muốn có những đề
xuất hế thống và toàn diện hơn.
được giao, khẳng định được vị thế và uy tín trên thực tế. Tuy nhiên, vẫn
còn một bộ phận CTV chưa khẳng định rõ vị trí, vai trò người chủ trì về
chính trị, lúng túng trong tổ chức chỉ đạo tiến hành CTĐ,CTCT, kiết
thức quân sự, trình độ, năng lực trong quản lý, chỉ huy đơn vị, kiến thức
quản lý nhà nước, pháp luật còn hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu
nhiệm vụ của các SĐBB.
Bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, trước những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình thế
giới và khu vực; trước những nguy cơ, thách thức của đất nước và yêu cầu,
nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã và đang đặt ra yêu cầu xây dựng
quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao
chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu đảm bảo cho quân đội thực sự là
lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN), với Nhân dân, hoàn thành xuất
sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao cho. Để đáp ứng được yêu cầu,
nhiệm vụ của quân đội và các SĐBB trong tình hình mới, vấn đề quan trọng
hàng đầu là phải nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý chỉ huy, tiến hành
CTĐ,CTCT, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cán bộ chính trị và
ĐNCTV ở các SĐBB, đảm bảo cho ĐNCTV luôn có số lượng đủ, cơ cấu
hợp lý, phẩm chất, năng lực, phương pháp, tác phong công tác (PPTPCT)
3
tốt đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của các SĐBB. Với
những lý do đó, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị
viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” làm đề
tài luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, thực tiễn và
kết của các quân khu, quân đoàn và các SĐBB về những vấn đề có liên
quan và kết quả điều tra, khảo sát thực tế của nghiên cứu sinh.
4
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử
dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học liên ngành và
chuyên ngành; trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp lôgic - lịch
sử; phân tích, tổng hợp, tổng kết thực tiễn, thống kê, so sánh, điều tra,
khảo sát và phương pháp chuyên gia.
6. Những đóng góp mới của luận án.
Làm rõ năng lực chủ trì về chính trị của CTV ở các SĐBB Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Góp phần luận giải sâu sắc hơn quan niệm chất lượng, nâng cao
chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Tổng kết những kinh nghiệm nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các
SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đề xuất một số nội dung, biện pháp có tính khả thi trong các giải
pháp góp phần tiếp tục nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB Quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu cung cấp thêm cơ sở khoa học giúp các cấp
ủy, tổ chức đảng ở các SĐBB lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động nâng cao
chất lượng ĐNCTV, góp phần nâng cao hiệu lực, chất lượng hoạt động
CTĐ, CTCT ở cấp phân đội các SĐBB, xây dựng cấp ủy, chi bộ trong
sạch vững mạnh (TSVM), đại đội, tiểu đoàn vững mạnh toàn diện
(VMTD), hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên
cứu, giảng dạy môn CTĐ, CTCT ở các học viện, nhà trường quân đội.
cán bộ nói chung và cán bộ chính trị nói riêng trong quân đội của từng nước.
Tuy cách thức tổ chức và tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong quân
đội ở các nước này khác nhau, nhưng đều có điểm chung là nhằm tăng
cường CTĐ, CTCT trong quân đội và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ trong quân đội. Đây là những vấn đề giữ vai trò quan trọng,
bảo đảm cho đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, CTV các cấp trong quân đội
trưởng thành hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.
2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước có liên quan đến đề
tài luận án
Tiêu biểu là: “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” của Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sâm (chủ biên);“Đức và tài cán
bộ trong giai đoạn mới” của Trần Xuân Trường; “Nâng cao bản lĩnh chính
trị, năng lực hoạt động thực tiễn của cán bộ chủ trì CTĐ, CTCT ở đơn vị cơ
sở ”của Trần Danh Bích; “Vai trò đội ngũ chính ủy, CTV trong xây dựng
bản chất cách mạng của quân đội hiện nay” của Lê Văn Dũng; “Phát huy
vai trò chỉ đạo, quản lý của chính ủy, phó chính ủy và người chỉ huy đối với
cơ quan chính trị cấp trung, SĐBB trong điều kiện mới” của Nguyễn Tiến
Quốc; “Xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ huấn luyện,
sẵn sàng chiến đấu ở Sư đoàn 968, Quân khu 4 ” của Lê Trọng Tuyến; “Về
vị trí, vai trò của chính ủy, CTV trong các đơn vị quân đội theo tinh thần
Nghị quyết 51 của Bộ Chính trị ” của Tô Xuân Sinh; “Đổi mới nội dung
đào tạo, bồi dưỡng chính uỷ, CTV trong quân đội hiện nay” của Phạm Đình
Nhịn; “Nâng cao trách nhiệm của chính ủy, CTV trong thực hiện chế độ một
người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, CTV trong Quân đội nhân
dân Việt nam” của Lương Cường; “Nâng cao chất lượng cán bộ chính trị
6
cấp phân đội trong Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn hiện nay theo tư
những vấn đề đặt ra luận án tập trung nghiên cứu, giải quyết
* Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình có liên quan đến
nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh
Các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn của ngũ
cán bộ, cán bộ chính trị, chính ủy, CTV trong quân đội và vai trò của
đội ngũ cán bộ, cán bộ chính trị, chính ủy, CTV đối với công tác xây dựng
Đảng, xây dựng đơn vị VMTD. Có công trình đã chỉ rõ vị trí, vai trò, chức
trách, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, CTV;
7
biện pháp nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ chính trị; yêu cầu về đức, tài
của người cán bộ, cán bộ chính trị, chính ủy, CTV.
Một số công trình đã đi sâu phân tích làm rõ yêu cầu phẩm chất, năng
lực, PPTPCT, năng lực tiến hành CTĐ,CTCT của đội ngũ cán bộ, cán bộ
chính trị, chính ủy, CTV. Trong đó tập trung làm rõ yêu cầu về phẩm chất
chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, kiến thức, năng lực toàn diện, nhất là
năng lực tiến hành CTĐ,CTCT và PPTPCT của đội ngũ cán bộ, cán bộ
chính trị, chính ủy, CTV.
Có công trình đã đi sâu phân tích làm rõ những vấn đề cơ bản về
chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ cán bộ chính
trị, chính ủy, CTV; đưa ra quan niệm, yếu tố cấu thành, những vấn đề có
tính nguyên tắc và tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, CTV. Một số công trình đã đánh giá
thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế và rút ra một
số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cán bộ chính trị,
chính ủy, CTV. Một số công trình đi sâu phân tích tình hình, xác định yêu
cầu và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cán bộ chính
trị, chính ủy, CTV trong quân đội.
Các công trình đề cập nội dung trên với phạm vi, ý định và hướng
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CHÍNH TRỊ VIÊN Ở CÁC SƯ ĐOÀN
BỘ BINH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1. Các sư đoàn bộ binh và đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn
bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.1. Các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
Các SĐBB là lực lượng chiến đấu chủ lực của Quân đội nhân dân
Việt Nam. Sự vững mạnh của SĐBB là một yếu tố cơ bản, có ý nghĩa quyết
định tạo nên chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân đội. Các
SĐBB thường đảm nhận nhiệm vụ tiến công hoặc phòng ngự độc lập trên
một hướng của quân khu, quân đoàn hay trong đội hình chiến dịch của cấp
trên, lực lượng nòng cốt trong chiến tranh nhân dân, tham gia bảo vệ an ninh
trật tự, làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
* Tổ chức biên chế của SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo quy định, tổ chức biên chế của SĐBB đủ quân gồm: Ban chỉ
huy sư đoàn; 4 cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật; 3 trung
đoàn bộ binh đủ quân; 7 tiểu đoàn binh chủng kỹ thuật bảo đảm và các
đại đội trực thuộc trinh sát, cảnh vệ, sửa chữa, kho kỹ thuật.
Hệ thống chỉ huy bao gồm 6 cấp: sư đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn, đại
đội, trung đội và tiểu đội. Hệ thống tổ chức đảng gồm: đảng bộ sư đoàn là
đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở, đảng bộ trung đoàn, đảng bộ tiểu đoàn trực
thuộc sư đoàn là đảng bộ cơ sở, đảng bộ tiểu đoàn thuộc trung đoàn là đảng
bộ bộ phận và các chi bộ đại đội. Tổ chức cơ sở đoàn được thành lập ở các
trung đoàn và các tiểu đoàn trực thuộc sư đoàn, liên chi đoàn ở các tiểu đoàn
trực thuộc trung đoàn và chi đoàn ở các đại đội. Hội đồng quân nhân được
tổ chức ở cấp đại đội và tương đương. Hội phụ nữ, công đoàn quốc phòng
được thành lập và kiện toàn theo yêu cầu tổ chức biên chế, nhiệm vụ chính
trị và đặc điểm của các đơn vị.
* Chức năng, nhiệm vụ của SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam
đoàn tham gia bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây
dựng địa bàn đóng quân vững mạnh.
1.1.2. Đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội
nhân dân Việt Nam
* Quan niệm ĐNCTV ở các SĐBB: ĐNCTV ở các SĐBB là tập hợp
những cán bộ chính trị được cấp có thẩm quyền bổ nhiệm giữ cương vị CTV
đại đội, tiểu đoàn và tương đương; là người chủ trì về chính trị, có trách
nhiệm trực tiếp chỉ đạo, tổ chức tiến hành CTĐ, CTCT theo chức trách,
nhiệm vụ; dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị cấp
trên và cấp ủy đảng cùng cấp; là người chịu trách nhiệm trước cấp trên và
cấp mình về chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT, xây dựng đơn vị
VMTD, trước hết là vững mạnh về chính trị.
* Chức trách của CTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam
CTV ở các SĐBB là một trong hai người có trách nhiệm và quyền
hạn cao nhất ở đại đội, tiểu đoàn. CTV là người chủ trì về chính trị, chịu
trách nhiệm trước đảng ủy, chính ủy, CTV, người chỉ huy cấp trên trực
tiếp và chi bộ đại đội, đảng ủy tiểu đoàn về toàn bộ hoạt động CTĐ,CTCT.
CTV trực tiếp tiến hành CTĐ,CTCT ở đại đội (tiểu đoàn); cùng với người
chỉ huy đề xuất chủ trương, biện pháp lãnh đạo để chi bộ đại đội (đảng ủy
tiểu đoàn) quyết định; xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện các mặt công
tác và cùng chịu trách nhiệm trước cấp trên, chi bộ đại đội, đảng ủy tiểu
11
đoàn về toàn bộ hoạt động của đơn vị, xây dựng đại đội (tiểu đoàn)
VMTD, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
* Nhiệm vụ của CTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam
+ Nghiên cứu, đề xuất để chi bộ đại đội, đảng ủy tiểu đoàn quyết
định nội dung, biện pháp lãnh đạo mọi hoạt động, các mặt công tác của đại
đội (tiểu đoàn) đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật
Quy chế dân chủ ở đại đội (tiểu đoàn) ở các SĐBB.
+ Hướng dẫn tiến hành CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ, trọng
12
tâm là nhiệm vụ HL,SSCĐ, chiến đấu, xây dựng chính quy rèn
luyện kỷ luật, phòng chống chiến lược “DBHB”, phòng chống thiên
tai ở các SĐBB.
+ Tham gia nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn quân sự, khoa học
nghệ thuật quân sự, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ,CTCT
trong đại đội (tiểu đoàn) ở các SĐBB.
+ Hướng dẫn tiến hành sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm
CTĐ,CTCT; quản lý, sử dụng kinh phí, trang bị, vật tư CTĐ,CTCT; đảm
bảo đúng quy chế đúng pháp luật.
* Mối quan hệ công tác của CTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam
Một là, quan hệ với đảng ủy, chính ủy, CTV, người chỉ huy và chủ
nhiệm chính trị cấp trên trực tiếp là quan hệ giữa lãnh đạo, chỉ đạo, hướng
dẫn và phục tùng. CTV chấp hành nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định
của đảng ủy; các chỉ thị, kế hoạch CTĐ,CTCT; các chỉ thị, mệnh lệnh về
quân sự của người chỉ huy và hướng dẫn, kiểm tra của chính ủy, chủ nhiệm
chính trị, CTV cấp trên trực tiếp về CTĐ,CTCT.
Hai là, quan hệ với đảng ủy tiểu đoàn, chi ủy, chi bộ đại đội là
quan hệ giữa lãnh đạo và phục tùng. CTV chịu sự lãnh đạo về mọi mặt
của đảng ủy tiểu đoàn, chi ủy, chi bộ đại đội theo chức trách nhiệm vụ.
Ba là, CTV tiểu đoàn quan hệ với tiểu đoàn trưởng là quan hệ
phối hợp công tác; CTV đại đội quan hệ với đại đội trưởng là quan hệ
phối hợp công tác, trên tinh thần đoàn kết, tin cậy, tôn trọng, giúp đỡ
nhau trong thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, CTV tiểu đoàn quan hệ với CTV phó và các phó tiểu đoàn
trưởng là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới; CTV đại đội quan hệ với CTV
Bốn là, ĐNCTV ở các SĐBB hiện nay vẫn còn bị ảnh hưởng, chi
phối về nhận thức, PPTPCT của cơ chế cũ để lại.
* Vị trí, vai trò của ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thứ nhất, CTV là người chủ trì về chính trị của đại đội, tiểu đoàn
ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thứ hai, ĐNCTV ở các SĐBB trực tiếp chỉ đạo, tiến hành xây dựng cấp uỷ,
chi bộ, đảng bộ TSVM, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng uỷ
tiểu đoàn, chi uỷ, chi bộ đại đội đối với mọi mặt hoạt động của đơn vị.
Thứ ba, ĐNCTV ở các SĐBB trực tiếp góp phần xây dựng đơn vị
VMTD, trước hết là vững mạnh về chính trị.
Thứ tư, ĐNCTV là lực lượng nòng cốt, trực tiếp quyết định chất
lượng, hiệu quả CTĐ,CTCT ở đại đội, tiểu đoàn các SĐBB.
Thứ năm, ĐNCTV là nhân tố quan trọng bảo đảm phát huy hiệu
lực của người chỉ huy.
1.2. Một số vấn đề cơ bản về chất lượng và nâng cao chất lượng đội
ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
1.2.1. Quan niệm, những yếu tố cơ bản quy định chất lượng đội
ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
* Quan niệm chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam:
Chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam là
tổng hòa giá trị của các yếu tố được tạo nên bởi sự thống nhất biện
chứng giữa phẩm chất, năng lực của từng CTV và số lượng, cơ cấu
ĐNCTV gắn liền với hệ thống các nguyên tắc, cơ chế hoạt động biểu
hiện ra ở kết quả hoàn thành chức trách, nhiệm vụ, ở kết quả thực hiện
mục tiêu, yêu cầu CTĐ,CTCT, xây dựng đơn vị VMTD, hoàn thành
thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
14
* Những yếu tố cơ bản quy định chất lượng ĐNCTV ở các
Quan niệm trên biểu hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
Mục đích tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng ĐNCTV ở
các SĐBB, bảo đảm cho ĐNCTV có số lượng đủ, cơ cấu hợp lý, phẩm
chất, năng lực, PPTPCT ngày càng tốt hơn; có trình độ kiến thức, năng
lực chủ trì về chính trị; kiến thức, kỹ năng kinh nghiệm tiến hành
CTĐ,CTCT...đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.
Chủ thể nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB là thường vụ,
đảng ủy sư đoàn, thường vụ, đảng ủy các trung đoàn, cấp ủy, tổ chức đảng ở
15
các đơn vị. Chính ủy, CTV và đội ngũ cán bộ chính trị, cán bộ chỉ huy, cơ
quan chức năng các cấp là những lực lượng trực tiếp tham gia vào quá trình
nâng cao chất lượng ĐNCTV dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức
đảng. Bản thân ĐNCTV vừa là đối tượng, vừa là chủ thể, của quá trình tự
bồi dưỡng, rèn luyện.
Lực lượng tham gia bao gồm các tổ chức, các lực lượng trong các
SĐBB. Cơ quan chức năng các quân khu, quân đoàn, các học viện, trường
sĩ quan đào tạo CTV.
Đối tượng nâng cao là ĐNCTV đại đội, tiểu đoàn và tương đương ở các
SĐBB với những yêu cầu cụ thể về số lượng, cơ cấu đội ngũ và phẩm chất,
năng lực, PPTPCT của CTV đại đội, tiểu đoàn và tương đương ở các SĐBB.
Nội dung nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB bao gồm
nhiều vấn đề, tập trung vào các nội dung trọng tâm sau:
Thứ nhất, bảo đảm số lượng hợp lý, có dự phòng theo quy định.
Thứ hai, tạo sự chuyển biến tích cực về cơ cấu, một cơ cấu hợp lý sẽ
là điều kiện tốt để các thành viên bổ sung cho nhau, tạo lên sức mạnh tổng
hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo cương vị, chức trách được giao.
Thứ ba, nâng cao phẩm chất, năng lực, PPTPCT của CTV ở các SĐBB.
Thứ tư, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, cán bộ
CTĐ,CTCT để xác định nội dung, lựa chọn hình thức, biện pháp nâng
cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB.
Bốn là, kế thừa và phát triển kinh nghiệm xây dựng, bồi dưỡng
nâng cao phẩm chất, năng lực của ĐNCTV trong kháng chiến chống Pháp
và chống Mỹ trong nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB.
1. 2. 4. Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị
viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
Một là, tiêu chí đánh giá nhận thức, trách nhiệm, năng lực của chủ
thể và các lực lượng trong nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB
Quân đội nhân dân Việt Nam
Hai là, tiêu chí đánh giá nội dung, hình thức, biện pháp nâng cao chất
lượng ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam
Ba là, tiêu chí đánh giá chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB
Bốn là, tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ của
ĐNCTV và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của các đại đội, tiểu đoàn ở các SĐBB
Kết luận chương 1
Các SĐBB là thành phần cơ bản trong tổ chức biên chế của Quân đội
nhân dân Việt Nam. Chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của các
SĐBB là yếu tố quan trọng tạo lên chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu
của quân đội.
ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ
phận cán bộ của Đảng; những người chủ trì về chính trị chịu trách nhiệm
về toàn bộ hoạt động CTĐ,CTCT ở cấp phân đội, ĐNCTV đã góp phần
quan trọng giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội,
giữ vững định hướng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Trước
đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu, nhiệm vụ của đại đội, tiểu đoàn các
SĐBB trong tình hình mới, ĐNCTV phải không ngừng được bồi dưỡng,
rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
được giao, đây là trách nhiệm của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan
chức năng các cấp ở các SĐBB chủ thể trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo hoạt
2.1.2. Những hạn chế, khuyết điểm
Một là, nhận thức trách nhiệm của một số cấp ủy, tổ chức đảng,
cán bộ chủ trì về vị trí, vai trò của ĐNCTV và nâng cao chất lượng
ĐNCTV ở các SĐBB có lúc còn hạn chế.
Hai là, nội dung, hình thức, biện pháp nâng cao chất lượng
ĐNCTV ở một số nơi chưa thật phù hợp với thực tiễn và chưa sát với
đặc điểm, trình độ của đối tượng.
Ba là, chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB vẫn còn những hạn chế
nhất định, có mặt chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng phát
triển của các SĐBB
18
Bốn là, năng lực thực hiện chức trách, nhiệm vụ của một số CTV có
mặt còn thấp, ảnh hưởng đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị.
2.2. Nguyên nhân và một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội
ngũ chính viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam
2.2.1. Nguyên nhân của những ưu điểm
Một là, những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới; việc
tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và việc
đổi mới chế độ chính sách của Nhà nước đối với quân đội và hậu
phương quân đội.
Hai là, chất lượng đào tạo CTV ở các nhà trường quân đội ngày
một nâng cao
Ba là, sự cố gắng nỗ lực của các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan
chức năng, các tổ chức, các lực lượng ở các SĐBB trong nâng cao chất
lượng ĐNCTV.
Bốn là, đại đa số CTV ở các SĐBB xác định tốt ý thức trách
nhiệm, tích cực chủ động phấn đấu, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng
lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
Việt Nam là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ, bảo đảm
cho ĐNCTV hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở nhận
thức đúng đắn, đầy đủ về vị trí, vai trò của CTV và hoạt động nâng
cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB, trong những năm qua, các cấp
ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng ở các SĐBB đã
thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chặt chẽ với những nội
dung, hình thức, biện pháp phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ
của từng đối tượng CTV và đã đạt được những kết quả nhất định, góp
phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động CTĐ,CTCT, đáp ứng
được yêu cầu nhiệm vụ HL, SSCĐ và chiến đấu của đại đội, tiểu
đoàn ở các SĐBB, xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng TSVM, đơn vị
VMTD, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên, hoạt động nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các
SĐBB thời gian qua còn bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập trong
lãnh đạo, chỉ đạo, trong xác định nội dung, hình thức, biện pháp tổ
chức thực hiện. Một trong những vấn đề cơ bản dẫn đến chất lượng
ĐNCTV ở các SĐBB trong thời gian qua chưa cao là do chưa phát
huy hết vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, các lực lượng, của đội
ngũ cán bộ, đảng viên tham gia vào quá trình nâng cao chất lượng
ĐNCTV, nhất là chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm của ĐNCTV
trong tự học tập, tự rèn luyện để nâng cao phẩm chất, năng lực đáp
ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Cho nên, việc đánh giá đúng thực
trạng chất lượng ĐNCTV, chỉ rõ nguyên nhân, rút ra những kinh
nghiệm là cơ sở quan trọng giúp cho các cấp ủy, tổ chức đảng, đội
ngũ cán bộ chủ trì và cơ quan chính trị ở các SĐBB xác định đúng
nội dung, lựa chọn hình thức, biện pháp phù hợp nâng cao chất lượng
ĐNCTV đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng phát triển của các
SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
Bốn là, nâng cao chất lượng ĐNCTV phải tiến hành một cách toàn
diện với các giải pháp đồng bộ, có bước đi phù hợp với khả năng điều
kiện của từng SĐBB.
Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng ở các SĐBB
trong nâng cao chất lượng ĐNCTV.
22
3.2. Những giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ chính
trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
3.2.1. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của cấp ủy, tổ chức
đảng, cán bộ chủ trì và cơ quan chức năng các cấp trong nâng cao chất
lượng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn bộ binh Quân đội nhân
dân Việt Nam hiện nay
Một là, các cấp ủy, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng cần nhận
thức sâu sắc tình hình, nhiệm vụ và sự cần thiết phải nâng cao chất
lượng ĐNCTV ở các SĐBB.
Hai là, nâng cao nhận thức của các tổ chức, các lực lượng về vị
trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của CTV ở các SĐBB.
Ba là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì và cơ quan chức năng cần
nhận thức đầy đủ ưu điểm, hạn chế, khuyết điểm của ĐNCTV ở các SĐBB.
Bốn là, các tổ chức, các lực lượng hiểu và nắm chắc phạm vi,
quyền hạn, trách nhiệm trong nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB
Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay.
Năm là, nhận thức rõ và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện sai
trái, thiếu trách nhiệm trong nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB.
3.2.2. Tăng cường bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, năng lực,
phương pháp tác phong công tác của đội ngũ chính trị viên ở các sư
đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
Một là, tập trung xây dựng kế hoạch bồi dưỡng, rèn luyện CTV
Ba là, từng CTV phải xây dựng kế hoạch tự học tập, tự rèn luyện
phù hợp.
Bốn là, thường xuyên tự kiểm tra, tự đánh giá, điều chỉnh hoạt động và
kế hoạch tự bồi dưỡng phù hợp với sự phát triển của yêu cầu nhiệm vụ.
* Đối với các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị ở các SĐBB.
Một là, cấp ủy thường xuyên có chủ trương, biện pháp lãnh đạo
hoạt động tự bồi dưỡng, rèn luyện của ĐNCTV.
Hai là, cán bộ chủ trì, cơ quan chính trị ở các SĐBB chú trọng
hướng dẫn phương pháp tự học tập, rèn luyện cho ĐNCTV.
Ba là, tăng cường công tác, quản lý, kiểm tra, đánh giá kết quả tự
bồi dưỡng, tự học tập rèn luyện của ĐNCTV.
Bốn là, quan tâm tạo điều kiện thuận lợi để ĐNCTV phát huy vai
trò tự học tập rèn luyện.
3.2.5. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực
lượng trong nâng cao chất lượng đội ngũ chính trị viên ở các sư đoàn
bộ binh Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay
* Phát huy vai trò của cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức
năng các quân khu, quân đoàn, các nhà trường trong nâng cao chất
lượng ĐNCTV ở các SĐBB hiện nay.
Một là, đối với cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì, cơ quan chức năng các quân
khu, quân đoàn trong nâng cao chất lượng ĐNCTV ở các SĐBB hiện nay.
Hai là, đối với các nhà trường quân đội đào tạo, bồi dưỡng ĐNCTV.
24
* Phát huy vai trò của các tổ chức, các lực lượng ở các SĐBB
trong nâng cao chất lượng ĐNCTV.
Một là, phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng ở các SĐBB
trong nâng cao chất lượng ĐNCTV.
Hai là, phát huy vai trò của cán bộ chủ trì trong nâng cao chất
cụ thể của các SĐBB, mà cấp uỷ, chính uỷ, cơ quan chính trị cần lựa
25
chọn, vận dụng các giải pháp cho phù hợp. Tuy nhiên, cùng với sự vận
động phát triển của thực tiễn đòi hỏi cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất
những giải pháp mới đồng bộ, khả thi nhằm nâng cao chất lượng
ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
KẾT LUẬN
1. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong
thời kỳ mới đặt ra yêu cầu phải nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh
chiến đấu của quân đội, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn
vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực tiễn hơn 70 năm xây
dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã khẳng định ĐNCTV là
một bộ phận cơ bản cấu thành đội ngũ cán bộ quân đội, giữ vai trò quan
trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ,CTCT, xây
dựng và phát huy nhân tố chính trị - tinh thần của bộ đội; góp phần nâng cao
sức mạnh chiến đấu của từng đơn vị và của quân đội, hoàn thành thắng lợi
mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Nhận thức đầy đủ
vị trí, vai trò của ĐNCTV trong sự nghiệp xây dựng và chiến đấu của quân
đội; tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một
người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, CTV trong Quân đội nhân
dân Việt Nam là bước chuyển biến căn bản trong cơ chế lãnh đạo của Đảng
đối với quân đội, nhân tố quyết định xây dựng, nâng cao chất lượng
ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. ĐNCTV ở các SĐBB Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò
rất quan trọng trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả các hoạt động
CTĐ,CTCT, xây dựng các SĐBB vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để