LUẬN án TIẾN sĩ TÍNH TÍCH cực hóa NHÂN tố CON NGƯỜI của đội NGŨ sĩ QUAN QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đã và
đang đặt con người vào vị trí trung tâm - là mục tiêu và động lực của sự phát triển
kinh tế - xã hội. Trong giai đoạn mới của cách mạng, “chúng ta cần hiểu sâu sắc
những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con người, chủ thể của
mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và văn hóa, mọi nền văn minh của các
quốc gia” [l19,76]. Trong nhân tố con người, “cán bộ là nhân tố quyết định sự
thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế
độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”[166, 66]. Do vậy, chưa bao
giờ vấn đề tích cực hóa nhân tố con người nhằm khai thác và phát huy vai trò chủ
thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người và của đội ngũ cán bộ để xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc lại đặt ra cấp thiết cả lý luận và thực tiễn như hiện nay.
Hơn nữa, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo phương hướng
cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại trong điều kiện đất nước bước
vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đòi hỏi bức xúc phải
phát huy và sử dụng có hiệu quả tiềm năng sáng tạo của con người: trong đó đội
ngũ sĩ quan là lực lượng nòng cốt. Nếu không thực hiện tốt vấn đề tích cực hóa
nhân tố con người để nâng cao không ngừng tính tích cực xã hội của đội ngũ sĩ
quan thì mọi biện pháp xây dựng quân đội sẽ không đem lại hiệu quả như mong
muốn.
Bên cạnh đó, một trong những bài học lịch sử được rút ra từ thực tiễn xây dựng
quân đội của một số nước xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh chúng ta rằng, một quân
đội đã được trang bị vũ khí, kỹ thuật hiện đại, được nuôi dưỡng chu đáo, song
không phát huy và sử dụng đúng đắn, có hiệu quả tính tích cực xã hội của con
người, mà then chốt là của đội ngũ sĩ quan, thì quân đội đó vẫn bị vô hiệu hoá
trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bị


mất sức chiến đấu và không hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa của mình.

mới, do vậy, không có gì thuộc về con người mà xa lạ đối với các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác.
Các nhà kinh điển không dành riêng cho việc nghiên cứu về con người và tích
cực hóa nhân tố con người, nhưng trong di sản lý luận vĩ đại của các ông chúng ta
luôn luôn bắt gặp một hệ thống các quan điểm tư tưởng phong phú, sâu sắc và
những chỉ dẫn quan trọng đối với vấn đề nghiên cứu con người nói chung và người
cán bộ cách mạng nói riêng. Đặc biệt, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, những vấn đề
lý luận và thực tiễn về con người, về đội ngũ cán bộ cách mạng và đội ngũ cán bộ
quân đội được đề cập một cách toàn diện, có hệ thống, sâu sắc và vẫn mang ý
nghĩa thời sự đối với sự nghiệp đổi mới của nước ta và sự nghiệp xây dựng quân
đội trong tình hình hiện nay.
Trên thế giới, vấn đề con người và nhân tố con người đã và đang thu hút rộng
rãi sự quan tâm của các nhà khoa học. Trong nội dung và kết quả nghiên cứu, bên
cạnh sự nhất trí, có cả những ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Các nhà
triết học và khoa học xã hội của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ
đã công bố hàng loạt các công trình khoa học rất có giá trị. Tiêu biểu là “Con
người - những ý kiến mới về một đề tài cũ”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1987,
1989. “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách”, Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác Lênin, Hà Nội,1983, 1984; “Nhân tố tinh thần chính trị trong chiến tranh hiện
đại”, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1960; “Những vấn đề phương pháp luận của
lý luận và thực tiễn quân sự”, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1976
v.v...
Ở Việt Nam, trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, vấn đề nghiên cứu về
con người được đặc biệt quan tâm và thu được nhiều kết quả quan trọng. Tiêu biểu
là Chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước KX - 07 “Con người Việt
Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”. do GS.TS. Phạm
Minh Hạc làm chủ nhiệm đã hoàn thành và lần lượt công bố các kết quả nghiên


cứu của mình dưới dạng các ấn phẩm. Đó là: “Vấn đề con người trong sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996;

- Mục đích: Nghiên cứu vấn đề tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ
quan trong xây dựng quân đội một cách cơ bản, toàn diện, có hệ thống; làm rõ thực
chất của quá trình đó, nội dung, phương thức phương tiện để phát huy và sử dụng
có hiệu quả tính tích cực, tự giác, sáng tạo của đội ngũ sĩ quan: tạo nên động lực
phát triển của sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam theo phương
hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng hước hiện đại; góp phần đắc lực vào
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
- Nhiệm vụ:
1) Trên cơ sở vận dụng các quan điểm của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh và khảo sát những kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả trong và
ngoài nước, luận án làm rõ một hệ thống khái niệm khoa học của vấn đề nghiên
cứu chỉ ra nội dung, thực chất và những động lực cơ bản của quá trình tích cực hóa
nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng quân đội.
2) Làm rõ vai trò nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan trong xây dựng quân
đội, phân tích thực trạng và chỉ ra những mâu thuẫn cần giải quyết trong quá trình
tích cực hóa nhân tố con người của đội ngũ sĩ quan hiện nay.
3) Đề xuất một số phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm tích cực hóa nhân tố
con người của đội ngũ sĩ quan, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội hiện
nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, nhân tố con người và đội ngũ cán bộ
cách mạng; đường lối của Đảng ta về đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước, xây
dựng quân đội; chiến lược cán bộ và các quan điểm về xây dựng đội ngũ cán bộ
quân đội. Luận án còn dựa vào các văn kiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng ủy Quân
sự Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị; các bài viết, bài
nói của các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quân đội; đồng thời tham khảo


kết quả các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài quân đội có
liên quan đến các vấn đề được đề cập.

Góp phần khẳng định tính đúng đắn của quan điểm triết học Mác - Lê-nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng về con người, nhân tố con người,
tích cực hóa nhân tố con người nói chung và của đội ngũ sĩ quan nói riêng. Đồng
thời làm sáng tỏ và vận dụng chiến lược con người, chiến lược cán bộ của Đảng
trong xây dựng quân đội.
- Kết quả nghiên cứu khoa học góp phần đáp ứng yêu cầu nghiên cứu cơ bản và
nghiên cứu ứng dụng, đồng thời đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn xây dựng
đội ngũ cán bộ, xây dựng đội ngũ sĩ quan - một nhiệm vụ then chốt trong xây dựng
quân đội về chính trị hiện nay.
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học; trong
giảng dạy các nội dung có liên quan đến con người, tích cực hóa nhân tố con
người, liên quan đến xây đựng đội ngũ sĩ quan và đội ngũ cán bộ quân đội.
7. Kết cấu của luận án.
Luận án có 218 trang, gồm phần mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.


Chương 1
THỰC CHẤT QUÁ TRÌNH TÍCH CỰC HÓA NHÂN TỐ CON NGƯỜI
CỦA ĐỘI NGŨ SĨ QUAN TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI
1.1 Khái niệm nhân tố con người và tích cực hoá nhân tố con người của đội
ngũ sĩ quan.
1. 1. 1. Khái niệm nhân tố con người.
Nhân tố con người là một khái niệm rộng mà nội dung của nó bao gồm nhiều
mặt, nhiều khía cạnh, được nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu. Tùy đặc điểm bộ
môn, mục đích nghiên cứu và phương pháp tiếp cận mà các học giả đã đưa ra
nhiều khái niệm khác nhau. Đối với triết học, nhân tố con người được xem xét
trong tính chỉnh thể, gắn với vai trò chủ thể của con người trong một quá trình phát
triển xã hội nhất định.
Xét từ cấu trúc lô-gic của khái niệm, đa số các học giả coi khái niệm nhân tố con

đất. Con người với nhu cầu tồn tại và phát triển của nó là điểm xuất phát, là mục
đích cao nhất của mọi hoạt động thực tiễn xã hội. Khuyết điểm lớn nhất của triết
học trước Mác và ngoài Mác-xít là đã không xuất phát từ con người hiện thực, con
người hoạt động thực tiễn trong các QHXH - lịch sử xác định, nên không có quan
niệm đầy đủ, đúng đắn về con người và tính tích cực, sáng tạo của con người. Đó
là một nguyên nhân căn bản dẫn các nhà triết học rơi vào lập trường duy tâm, thần
bí hoặc siêu hình trong giải thích về con người. Tuy vậy, lịch sử tư tưởng triết học
đã cung cấp những “vật liệu ban đầu, tạo tiền đề và đặt ra những vấn đề khoa học
cho triết học Mác - Lênin tiếp tục giải quyết một cách đúng đắn trên cơ sở thế giới
quan và phương pháp luận biện chứng duy vật.
Tiền đề xuất phát của triết học Mác - Lê-nin là con người hiện thực con người
thực tiễn [83, 37]. Bằng hoạt động của mình trong hệ thống các QHXH hiện thực
mà con người xác lập bản chất xã hội của mình. “Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hòa những QHXH” [81,11]. Luận điểm nổi tiếng đó của
Các Mác đã khẳng định tính chất xã hội trong hoạt động của con người, chỉ ra tính


phổ biến, tính hiện thực, tính lịch sử - cụ thể của bản chất con người; đồng thời
vượt lên tất cả các quan điểm triết học trong lịch sử coi bản chất con người là trừu
tượng, bất biến, phi lịch sử, phi xã hội...Như vậy, những đặc trưng bản chất của
con người được hình thành, phát triển, được bộc lộ và có thể xác định được trong
con người hiện thực như một chủ thể của hoạt động, chủ thể của QHXH, chủ thể
của nhận thức, của tư duy và là thước đo mọi giá trị xã hội. Quan điểm của triết
học Mác - Lê-nin về bản chất xã hội của con người là một cơ sở lý luận cho nội
dung và phương pháp tiếp cận nhân tố con người.
Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh xã hội, bị quy định, ràng buộc bởi hệ
thống các QHXH, đồng thời vừa là chủ thể của quá trình lịch sử, có vai trò thúc
đẩy sự biến đổi và phát triển xã hội. Từ đó dẫn đến vấn đề lý luận về vai trò con
người là chủ thể tích cực, sáng tạo lịch sử, chủ thể mọi giá trị, mọi nền văn minh
giữ một vị trí trọng tâm trong việc triển khai quan điểm Mác - Lênin về con người.

đặc trưng nhân tố con người là tổng hòa các năng lực và phẩm chất cùng với vai
trò tích cực của con người, nhưng thuộc loại quan niệm coi hoạt động như là sự
biểu hiện của phẩm chất và năng lực trong nhân tố con người.
Như vậy, cái chung của hai loại quan niệm là đều nêu bật phẩm chất xã hội quy
định vai trò chủ thể lịch sử của con người. Song, sự khác nhau là, quan niệm thứ
nhất lấy hoạt động làm hạt nhân, còn phẩm chất và năng lực được thể hiện trong
hoạt động; quan niệm thứ hai coi đặc trưng của nhân tố con người là tổng hòa
những phẩm chất và năng lực, còn hoạt động là sự thể hiện của nó. Những học giả
không đồng ý quan niệm thứ nhất cho rằng quan niệm đó chưa đánh giá đầy đủ
tiềm năng tích cực, tính chủ động, sáng tạo của con người. Mặc dù xem con người
như là một chủ thể hoạt động, “nhấn mạnh sự hiện diện của hoạt động, sự cần thiết
của con người có mặt trong hành động, nhưng chỉ làm nổi lên thời điểm con người
thực hiện một loạt chức năng nhất định, điều đó dễ dẫn đến chỗ xem xét con người
như là chủ thể của hoạt động thừa hành.” [124]. Thực tế cho thấy, nhận thức của
người luôn luôn đi trước hành vi, tính tích cực bên trong những phẩm chất tinh
thần luôn luôn đi trước tính tích cực với tư cách là hiện tượng. Những phẩm chất
xã hội của con người không chỉ là kết quả được hình thành và được biểu hiện trong


hoạt động, mà nằm trong một quá trình biến đổi cùng với hoạt động của chủ thể,
trở thành cơ sở, nền tảng tinh thần cho mọi hoạt động của con người. Hơn nữa, hệ
thống động cơ hoạt động của con người bao giờ cũng được phản ánh dưới dạng
“mục đích mong muốn” và thuộc về phẩm chất tinh thần của con người.
Những học giả không đồng ý quan niệm thứ hai cho rằng khái niệm đó chỉ giới
hạn nhân tố con người trong lĩnh vực tinh thần, còn hoạt động chỉ là sự thể hiện
những phẩm chất tinh thần của con người. Như vậy chưa nói lên được cơ sở quyết
định sự hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực của con người là thông
qua hoạt động, sự biểu hiện mọi đặc trưng, thuộc tính con người là ở trong hoạt
động, trong hình thức tất yếu của sự cải tạo xã hội. Đồng thời, hoạt động còn là
điều kiện cần thiết kiến tạo nên những quá trình xã hội hiện thực, quyết định sự

Sơ đồ 1: Phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách [40].
Để xây dựng được một khái niệm khoa học về nhân tố con người con phải xác
định một phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng và mục đích vấn đề nghiên
cứu. Ở đây, đề tài lựa chọn phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách
làm phương pháp chủ đạo cho việc xây dựng khái niệm nhân tố con người cũng
như toàn bộ các vấn đề nghiên cứu tiếp theo. Phương pháp tiếp cận này đã được
các nhà khoa học Việt Nam vận dụng nghiên cứu có kết quả trong chương trình
KX - 07: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển KT- XH”
[170, 63].
Yêu cầu của phương pháp tiếp cận hoạt động - giá trị - nhân cách đòi hỏi muốn
nhận thức đời sống xã hội và những đặc trưng bản chất con người phải xuất phát từ
“con người hiện thực” - con người hoạt động, mà cơ sở là hoạt động thực tiễn lấy
đó làm “tiền đề xuất phát”. Đó là sự tồn tại hiện thực của bản chất con người và


đời sống xã hội, bởi vì “đời sống xã hội về thực chất là có tính thực tiễn [81,12].
Hoạt động là phương thức quan hệ giữa con người với thế giới, là phương thức tác
động lẫn nhau giữa người với người, đồng thời hoạt động là cơ sở của nhân cách,
là hình thức tồn tại và biểu hiện của nhân tố con người trong hiện thực.
Hoạt động của con người diễn ra trong hệ thống quan hệ giữa con người với thế
giới hiện thực. Đặc biệt, thông qua hệ thống QHXH và dưới hình thức QHXH
(quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quan hệ cá nhân, nhóm, tập đoàn, giai
cấp, dân tộc, cộng đồng...) mà con người tác động vào hiện thực khách quan, thực
hiện một vai trò, một chức năng xã hội nhất định, hình thành, phát triển và bộc lộ
những thuộc tính, những đặc trưng xã hội của mình.
Bằng hoạt động diễn ra trong QHXH, con người đang tạo ra mọi giá trị vật chất
và tinh thần. Hoạt động của con người có sự chi phối của động cơ, mục đích, được
định hướng bằng hệ giá trị. Đó cũng là một quá trình con người phải nhận thức,
đánh giá, lựa chọn các giá trị một cách đúng đắn, trên cơ sở đó tiếp tục sáng tạo
các giá trị mới.

chủ thể để tiếp tục sáng tạo ra các giá trị xã hội. Đó cũng chính là sự tiếp cận nhân
tố con người ở các cấp độ khác nhau, trong một quá trình vận động phát triển, bao
quát được những đặc trưng bản chất nói lên con người vừa là chủ thể hoạt động,
vừa là chủ thể mang những đặc trưng về phẩm chất, năng lực, đồng thời là chủ thể
tiếp thu giá trị và sáng tạo giá trị xã hội. Phương pháp tiếp cận này làm nổi bật vai
trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, khẳng định con người vừa là
mục tiêu vừa là động lực phát triển xã hội. Mỗi yếu tố trong hệ thống các yếu tố
cấu thành nhân tố con người ở những cấp độ nói trên lại là một hệ thống nhỏ khác
rất phong phú, đa dạng. Chính vì vậy mà các bộ môn khoa học khác nhau, tùy theo
mục đích nghiên cứu và phương pháp tiếp cận, sẽ nhấn mạnh yếu tố này hoặc yếu
tố khác. Tình hình đó đã dẫn đến nhiều quan niệm khác nhau về nhân tố con người
trong nghiên cứu khoa học.
Từ cơ sở lý luận cả về nội dung và phương pháp tiếp cận đã phân tích ở trên, có
thể quan niệm rằng: Nhân tố con người là hệ thống các yêu tố, các đặc trưng quy
định vai trò chủ thể tích cực, tự giác, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh


thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hòa các đặc trưng về phẩm chất, năng
lực của con người trong một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định.
Khái niệm nhân tố con người nói trên khái quát được những phẩm chất xã hội
căn bản nhất - những “tố chất người” quy định vai trò chủ thể của con người trong
một quá trình biến đổi, phát triển xã hội, đồng thời phản ánh được tính hệ thống,
tính lịch sử - cụ thể và phát triển của nhân tố con người. Mối quan hệ biện chứng
giữa hoạt động với phẩm chất và năng lực chính là động lực bên trong thúc đẩy
tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người phát triển.
Khái niệm nhân tố con người có cấu trúc gồm hai phương diện cơ bản. Phương
diện thứ nhất, chỉ hoạt động của con người, bao gồm hoạt động thực tiễn và hoạt
động lý luận; hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần. Thông qua hoạt động, mà
cơ sở là hoạt động thực tiễn, con người được coi là lực lượng quyết định sự vận
động, phát triển xã hội. Bản thân hoạt động lại là một hệ thống có cấu trúc tổng

động, một nguồn nhân lực mà thông qua hoạt động thực hiện các mục đích, nhiệm
vụ xã hội, giữ một vai trò quyết định mọi sự vận động, phát triển xã hội. Hoạt động
là nơi thể hiện năng lực thực tiễn của con người, là quá trình hiện thực hóa những
đặc trưng bản chất của con người trong những điều kiện lịch sử - cụ thể.
Thông qua hoạt động mà nhu cầu và lợi ích của con người được thoả mãn. Hoạt
động là cơ sở hình thành, phát triển những phẩm chất xã hội - tinh thần của con
người. Mọi yếu tố tạo nên động lực phát triển xã hội đều được thể hiện và thực
hiện thông qua hoạt động của con người, tức là phải thông qua “nhân vật” mang
QHXH và làm biến đổi các QHXH.
Thứ hai, chỉ ra những đặc trưng của con người với tư cách là chủ thể mang
phẩm chất và năng lực, chủ thể của ý thức xã hội, của nhận thức, tư duy. Đó là kiểu
nhân cách tiêu biểu cho một quá trình biến đổi và phát triển xã hội nhất định, mang
những đặc trưng về đạo đức, chính trị, tri thức, kinh nghiệm, hoạt động có nhiệt
tình, có mục đích nhằm sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần. Một mặt,
những phẩm chất và năng lực của con người được hình thành và phát triển cùng
với quá trình hoạt động; mặt khác, đây chính là một tiềm năng to lớn, làm cơ sở,
điều kiện không thể thiếu được cho mọi hoạt động sáng tạo của con người.


Thứ ba, chỉ ra những đặc trưng của con người với tư cách là chủ thể mang giá trị
xã hội và là giá trị cao nhất, thước đo của sự phát triển xã hội. Ở đây, nhân tố con
người được thể hiện ở cấp độ phẩm giá con người. Quá trình hình thành, phát triển
của nhân tố con người cũng là quá trình nâng cao giá trị nhân cách con người. Con
người là một nhân cách văn hóa mà hoạt động của họ được định hướng tích cực,
nhân đạo và nhân văn. Đây là một tiêu chí nói lên con người không chỉ là động lực
mà còn là mục đích của sự phát triển xã hội, một vấn đề ngày càng được coi trọng
trong thời đại hiện nay, đặc biệt là trong CNXH, một xã hội coi trọng sự thống
nhất giữa tính nhân bản, nhân đạo và nhân văn trong phẩm giá con người.
Các nội dung nói trên là một thể thống nhất, thể hiện những đặc trưng bản chất
người và vai trò con người trong sự phát triển xã hội, chỉ ra con người với tư cách

cực, có ý thức của quần chúng nhân dân, giai cấp, đảng phái, nhóm xã hội và từng
cá nhân trong sự tương tác chặt chẽ với điều kiện khách quan nói lên cơ chế tác
động của con người vào điều kiện khách quan, tạo nên động lực phát triển của lịch
sử. Nhân tố con người là tổng hòa những đặc trưng quy định bản chất xã hội của
con người, không những đặt trong quan hệ với các điều kiện tự nhiên - vật chất kỹ thuật mà còn trong quan hệ với mặt sinh thể của con người để khẳng định vai
trò chủ thể tích cực, nhân tố liên kết của hệ thống xã hội và nhân tố hoạt động của
quá trình xã hội. Đối với một chủ thể xác định thì nhân tố con người là nội dung
cốt lõi của nhân tố chủ quan. Tích cực hóa nhân tố con người là phương hướng cơ
bản để thực hiện quy luật về sự tăng lên không ngừng của nhân tố chủ quan trong
mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Trong nhân tố chủ quan còn có yếu tố tổ chức và
những điều kiện vật chất - kỹ thuật mà chủ thể tạo ra, sử dụng trong hoạt động cải
tạo xã hội, song trong nhân tố chủ quan không bao hàm tất cả những đặc trưng xã
hội của nhân tố con người khi nó thuộc về điều kiện khách quan của một quá trình
phát triển xã hội đã xác định.
Khái niệm “yếu tố con người” rộng hơn nhân tố con người, vì đó chính là con
người với tất cả các tiêu chí của nó đặt trong quan hệ với “yếu tố vật chất kỹ thuật”
của một quá trình phát triển xã hội. Nhân tố con người chỉ là những đặc trưng xã
hội trong yếu tố con người. Yếu tố con người bao gồm con người với tư cách là


thành tố tự nhiên - vật chất và thành tố xã hội - tinh thần đồng thời cả cơ cấu tổ
chức xã hội của con người. Tùy cách quan niệm mà có khi người ta coi yếu tố con
người là nhân tố con người theo nghĩa rộng. Khi con người tham gia với tính cách
là “yếu tố con người”, trở thành một điều kiện, một tiềm năng cần phát huy tạo
động lực phát triển của một quá trình xã hội thì được coi là “nguồn lực con
người”. Như vậy, khái niệm nguồn lực con người bao gồm tất cả các tiêu chí về
con người và tổ chức xã hội có thể khai thác, thu hút vào quá trình phát triển xã
hội. Nhân tố con người là cái cốt lõi, cái đặc trưng xã hội, là thuộc tính xã hội, giữ
vị trí trung tâm trong tiềm năng của nguồn lực con người.
Khái niệm nhân tố con người có quan hệ chặt chẽ với khái niệm “nhân cách”

đặc trưng về hoạt động và về phẩm chất, năng lực của họ để làm cơ sở cho việc
khái quát khái niệm nhân tố con người của ĐNSQ. Hiện nay, trên thực tế khái
niệm ĐNSQ được sử dụng hầu như đồng nhất với khái niệm “ĐNCB quân đội”,
bởi vì những cán bộ không phải là sĩ quan chiếm tỷ lệ rất ít, 4,54% [176].
Trong tổng thể đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ quân đội
thuộc loại “cán bộ lãnh đạo lực lượng vũ trang” [166, 69] , là một trong bốn loại
cán bộ chiến lược. ĐNCB quân đội là một khái niệm rộng hơn ĐNSQ bao gồm
trong đó ĐNSQ, một bộ phận quân nhân chuyên nghiệp, viên chức quốc phòng và
hạ sĩ quan giữ chức vụ sĩ quan. Song, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ĐNSQ là lực
lượng chiếm tuyệt đại đa số và mang những đặc trưng tiêu biểu của ĐNCB quân
đội. Tiêu chí nổi bật để phân biệt sĩ quan với cán bộ quân đội nói chung và với
chiến sĩ, đó là những cán bộ được Đảng và Nhà nước trao quân hàm sĩ quan và có
chức năng chỉ huy, lãnh đạo, quản lý, giữ vai trò nòng cốt, bảo đảm cho quân đội
hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Đội ngũ sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam là bộ phận chủ yếu trong đội ngũ
cán bộ quân đội; bao gồm những người được lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng theo
tiêu chuẩn chức danh quy định, được trao quân hàm sĩ quan và giao trọng trách
chỉ huy, lãnh đạo, quản lý hoặc đảm nhiệm những công tác chuyên môn kỹ thuật,
nghiệp vụ chủ yếu trong hệ thống tổ chức quân đội.


Khái niệm ĐNSQ chỉ con người sĩ quan, song chưa xác định một cách cụ thể
những đặc trưng xã hội, những “tố chất người” cụ thể trong con người sĩ quan.
Điều đó, từ góc độ triết học, tất yếu phải tiếp tục triển khai khái niệm nhân tố con
người của ĐNSQ. Sự khác nhau hai khái niệm đó là một biểu hiện cụ thể về ranh
giới giữa khái niệm con người với nhân tố con người trong triết học. Tuy vậy, cần
lưu ý trên thực tế do quan niệm của mình mà có người sử dụng đúng nhất khái
niệm con người sĩ quan với khái niệm nhân tố con người của ĐNSQ.
Trên các văn bản hiện hành, cơ cấu của ĐNSQ có thể dược phân tích dựa theo
các tiêu chí khác nhau. Có thể phân loại sĩ quan theo cấp quân hàm: cấp tướng, cấp

môn nghiệp vụ, hành chính. Họ thực hiện chức năng thu thập thông tin, chuẩn bị tư
liệu, tổng hợp, báo cáo, đề xuất các phương án cho người chỉ huy, lãnh đạo ra các
quyết định trong mọi hoạt động của các đơn vị quân đội.
Sự phân chia các nhóm sĩ quan theo đặc điểm hoạt động nói trên chỉ là tương
đối. Trên thực tế, người sĩ quan chỉ huy, lãnh đạo, quản lý cũng phải có một trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định để thích ứng với lĩnh vực hoạt động, bao quát
được mọi hoạt động đơn vị; giúp đỡ, kiểm tra, uốn nắn được cán bộ, chiến sĩ thuộc
quyền. Trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ giúp người sĩ quan
tránh được tình trạng “quân sự đơn thuần” hoặc “lãnh đạo chung chung”. Thường
một số sĩ quan trong các ban chỉ huy được phân công đảm nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo
một mặt chuyên môn của đơn vị, cơ quan. Trong các đơn vị đặc chủng hoặc các cơ
quan chuyên môn, sĩ quan chỉ huy, lãnh đạo nhất thiết phải là người am hiểu sâu
lĩnh vực chuyên môn, kỹ thuật của đơn vị mình phụ trách.
ĐNSQ hiện nay đa số là đảng viên cộng sản, 96,8% [175], vì vậy theo nghĩa
rộng thì họ có chức năng lãnh đạo (dù không giữ một chức vụ lãnh đạo cụ thể).
Thông qua hệ thống tổ chức Đảng tương ứng với hệ thống tổ chức các cấp của
quân đội mà ĐNSQ phát huy vai trò chỉ huy, lãnh đạo của mình. Phân tích tính
chất hoạt động của ĐNSQ là một cơ sở để nhận thức tính đặc thù của bộ phận con
người cán bộ hoạt động trong tổ chức quân đội, đồng thời phân biệt được đặc trưng
nhân tố con người của ĐNSQ với nhân tố con người trong quân đội nói chung.


Nhân tố con người của ĐNSQ bao hàm trong đó những đặc trưng nhân cách
của “Bộ đội Cụ Hồ”. Nhân cách người chiến sĩ là một chỉnh thể được Chủ tịch Hồ
Chí Minh khái quát ở đức và tài (tức phẩm chất và năng lực). Những yếu tố cơ bản
cấu thành nhân cách người chiến sĩ không chỉ biểu hiện ở đạo đức – “trung với
Đảng, trung với nước, hiếu với dân” mà còn được biểu hiện ở tài năng – “nhiệm vụ
nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh
thắng”[86].
Nhân tố con người của ĐNSQ còn là sự kết tinh những đặc trưng nhân cách

Khái niệm nhân tố con người của ĐNSQ là một chỉnh thể thống nhất giữa hai
phương diện:
Phương diện thứ nhất, chỉ hoạt động của ĐNSQ, một bộ phận của Đảng và nhà
nước hoạt động trong tổ chức quân đội, bao gồm hoạt động thực tiễn và hoạt động
lý luận; hoạt động chiến đấu, sản xuất và vận động quần chúng; hoạt động chỉ huy,
lãnh đạo, quản lý, giảng dạy, nghiên cứu khoa học kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ
v.v... Hoạt động của ĐNSQ thuộc về lao động quân sự - một dạng xã hội đặc thù,
là lao động trước hết và luôn luôn vì lợi ích xã hội, được diễn ra trong những điều
kiện hoàn cảnh khó khăn, phức tạp, với những tình huống diễn biến mau lẹ, phải
đối mặt với nhưng âm mưu thủ đoạn của địch. Hoạt động chỉ huy, lãnh đạo, quản
lý là đặc trưng nổi bật nhất trong nhân tố con người của ĐNSQ. Thực chất hoạt
động của ĐNSQ là thực hiện sự tác động lên con người và lựa chọn các quyết định
chỉ huy, lãnh đạo, quản lý, tổ chức, điều hành nhằm tạo ra các điều kiện để con
người và tổ chức hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của mình trong mọi tình huống.
Hoạt động của ĐNSQ cũng chính là một dạng lao động trí óc đặc biệt đòi hỏi tính
tích cực, tự giác, sáng tạo rất cao. Những đặc trưng hoạt động của ĐNSQ là cơ sở
quyết định việc hình thành, phát triển những phẩm chất, năng lực, định hình nhân
cách người sĩ quan quân đội cách mạng.
- Phương diện thứ hai, chỉ những đặc trưng về phẩm chất và năng lực của
ĐNSQ. Đó là sự kết tinh một hệ thống phẩm chất, năng lực toàn diện, phong phú
với yêu cầu cao của người công dân XHCN, người chiến sĩ quân đội cách mạng,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status