1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, "nhân tố con người" đang được quan tâm đặc biệt. Chiến
lược phát triển nguồn lực con người - với tư cách là nguồn lực để phát triển xã
hội - ngày càng trở nên quan trọng trong toàn bộ đường lối cách mạng của
Đảng và Nhà nước ta. Để xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn
diện, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn
kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: "Mọi hoạt
động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về
chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng
đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa,
quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội" [44, tr. 114].
Định hướng trên của Đảng có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với
mọi hoạt động văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, vấn đề
xây dựng lối sống có văn hóa đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách. Lối
sống có văn hóa, con người văn hóa, không còn là khẩu hiệu chung chung
nữa, mà đang trở thành hành động thực tiễn trên khắp đất nước chúng ta.
Lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa. Lối sống có văn hóa
(hay lối sống văn hóa) là một đặc trưng quan trọng của con người Việt Nam
trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay. Xây dựng con người Việt Nam
không thể coi nhẹ việc xây dựng lối sống có văn hóa.
Thanh niên là một lực lượng đông đảo trong dân cư nước ta và có vai trò
to lớn trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Do vậy, xây dựng lối sống có văn
hóa của thanh niên là nhiệm vụ đặc biệt trong xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa,
nhất là giai đoạn hiện nay. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã xác định: "Đối với
2
4
hội học thuộc Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản, Hà Nội, 1977; Nhiều tác giả:
Lối sống xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1982; V.I. Đô-brư-nina: Lối sống Xô viết, hôm nay và ngày mai, Nhà xuất bản Tiến bộ, Mátxcơva,
1984...
Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng, những công trình trên
đây đã phân tích bản chất, các giá trị và biện pháp để xây dựng lối sống xã
hội chủ nghĩa.
Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV dùng khái niệm "nếp
sống mới có văn hóa" và đề ra nhiệm vụ: "... vận động một cách kiên trì và
sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội: đưa cái đẹp vào đời
sống hàng ngày, vào lao động sản xuất" [36, tr. 125]. Đến Đại hội Đảng lần
thứ V, khái niệm "lối sống mới" được sử dụng, Văn kiện Đại hội viết: "...
cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến với lạc
hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và lối sống đang
diễn ra hàng ngày rất phức tạp" [37, tr. 91-92].
Đại hội Đảng lần thứ VI mở ra thời kỳ đổi mới. Trong điều kiện này,
xây dựng lối sống trở thành nhiệm vụ cấp bách, từ đó việc nghiên cứu lối
sống được đặt ra khá phong phú, đa dạng cả bề rộng, chiều sâu. Dưới đây xin
nêu một số tác giả và công trình tiêu biểu:
Trước hết là những công trình đã được in thành sách của các nhà xuất
bản: PGS.TS Lê Như Hoa (chủ biên): Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay,
Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1993; PGS.TS Lê Như Hoa (chủ
biên): Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất
bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1996; GS. Trần Văn Bính (chủ biên): Giáo
trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; TS. Nguyễn Viết Chức (chủ
biên): Đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản Văn
vấn đề liên quan.
6
Năm 2001, Thành đoàn thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
đề tài: Một số vấn đề rút ra từ cuộc khảo sát thực trạng tình hình thanh niên
Thành phố Hồ Chí Minh, đã phân tích khá toàn diện cơ cấu, các mặt hoạt động
của thanh niên thành phố. Năm 2002, Tiểu ban công tác đoàn thể thuộc Đảng ủy
khối các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp tổ chức hội thảo
"Đời sống văn hóa, tinh thần của học sinh, sinh viên - Thực trạng và giải pháp".
Tháng 4 năm 2004 Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Thành phố Hồ
Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học với chủ đề về lối sống đô thị ở Thành
phố Hồ Chí Minh...
Đây là những đề tài liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án.
Trong thực tế, chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu hoạt động xây
dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh và đặt hoạt
động này trong sự đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, tuy
nhiên đã có một số đề tài liên quan, có thể coi đó là tài liệu tham khảo bổ ích.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Chủ thể của lối sống có văn hóa mà luận án nghiên cứu là thanh niên
Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt chú trọng thanh niên là học sinh, sinh viên
và công nhân lao động mà nòng cốt là đoàn viên thanh niên, hội viên Hội
Thanh niên.
- Phạm vi của lối sống rất rộng nên luận án chỉ giới hạn vào những lĩnh
vực cơ bản nhất phản ánh đặc trưng của lối sống thanh niên gắn với đặc điểm lứa
tuổi như hoạt động xây dựng tư tưởng, hoạt động học tập, hoạt động xã hội...
- Về thời gian khảo sát, luận án giới hạn từ năm 1998, khi có Nghị
quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam khóa VIII trở lại đây.
8
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp lôgic - lịch sử,
phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học về văn hóa và lối sống của thanh
niên.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án nếu được bảo vệ thành công:
- Sẽ là một đóng góp lý luận và thực tiễn về xây dựng lối sống văn hóa
của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và thanh niên cả nước nói
chung, là một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy các chuyên
đề liên quan đến thanh niên, lối sống, văn hóa xã hội chủ nghĩa.
- Sẽ góp phần cung cấp các luận cứ để Ban Tuyên huấn Thành ủy,
Thành đoàn, Hội Liên hiệp Thanh niên ... Thành phố Hồ Chí Minh hoạch
định chiến lược phát triển thanh niên thành phố trong quá trình đổi mới hiện
nay.
8. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung luận án gồm 3 chương, 6 tiết.
9
Chương 1
QUAN NIỆM VỀ LỐI SỐNG CÓ VĂN HÓA VÀ TẦM QUAN TRỌNG
CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HÌNH THÀNH NGƯỜI THANH NIÊN MỚI
1.1. QUAN NIỆM VỀ "LỐI SỐNG CÓ VĂN HÓA"
1.1.1. Khái niệm "lối sống"
quan trọng nhất của cá nhân hay nhóm xã hội.
Ba nhóm định nghĩa này ít nhiều đều có sự phiến diện. Nhóm đầu tiên
bị phê phán là mở rộng quá mức khái niệm "lối sống" và do đó đã làm mất đi
những đặc trưng của nó. Nhóm thứ hai thu hẹp lối sống vào những yếu tố bên
trong của cá nhân, loại trừ khỏi khái niệm "lối sống" những mặt khách quan,
những hoạt động quan trọng của con người như hoạt động lao động, hoạt
động chính trị... Nhóm thứ ba thì lại không chú ý đến vai trò của yếu tố chủ
quan trong lối sống.
Định nghĩa tiêu biểu và phổ biến nhất ở Liên Xô (cũ) có lẽ là định nghĩa
gắn lối sống với hoạt động của con người. "Từ điển Chủ nghĩa cộng sản
khoa học" định nghĩa "lối sống xã hội chủ nghĩa" là "những hình thức hoạt động
sống của con người vốn có của chủ nghĩa xã hội, được qui định bởi điều kiện
sống của họ trong phạm vi giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản" [98, tr. 202].
Công trình "Lối sống xã hội chủ nghĩa" do G.E. Gle-dơ-man chủ biên định
nghĩa: "Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên
hoạt động của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong
những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định” [85, tr. 45].
Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ở các nước xã hội chủ nghĩa trước
đây, khi bàn về khái niệm "lối sống", thường nhấn mạnh vào tính chất xã hội
chủ nghĩa và xác định các tiêu chí của nó từ sự đối lập với lối sống tư sản.
Ở Việt Nam, khái niệm "lối sống" được xem xét với một góc nhìn
tổng hợp, trong đó có nói đến mối quan hệ giữa mặt chủ quan và khách quan,
11
giữa hoạt động sống và điều kiện sống của con người, giữa hoạt động sản xuất
và những hoạt động phi sản xuất.
Nhấn mạnh vào hoạt động sống của con người, nhóm tác giả giáo
trình "Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam" định
khách quan lẫn chủ quan. Mặt khách quan là điều kiện sống của con người,
trong đó bao hàm những đặc điểm của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định
mà cốt lõi là phương thức sản xuất. Mặt chủ quan chính là ý thức của con
người trong sự lựa chọn cho mình một lối sống, dựa trên cơ sở của một lẽ
sống, một thái độ sống cụ thể, những mục tiêu mà con người đặt ra. Vì vậy
mà PGS. Lê Như Hoa cho rằng: "Thuật ngữ lối sống có sự kết hợp biện chứng
giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, gắn với phương thức sản xuất của xã
hội, với chế độ chính trị xã hội, với hình thái kinh tế - xã hội" [71, tr. 17].
Nếu hiểu lối sống, tức phương thức sinh sống (mode de vie), là những
hình thức hoạt động sống của con người, thì phương thức sản xuất là một mặt,
và là mặt cơ bản của lối sống. Theo cách nói của C.Mác và Ph.Ăngghen,
phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt không chỉ đơn
thuần là sự "tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác" của họ, mà đó còn là một "hình
thức nhất định của sự biểu hiện đời sống" của họ, một "phương thức sinh sống
nhất định" của họ. Cái cơ bản trong sự biểu hiện đời sống của con người, tức
trong lối sống, là hoạt động sản xuất với hai mối quan hệ: 1- Quan hệ vật
chất, thực tiễn với tự nhiên được xác định bởi trình độ của lực lượng sản xuất;
2- Quan hệ xã hội mà cơ sở là tính chất của quan hệ sản xuất. Vì vậy, xét đến
cùng, lối sống do phương thức sản xuất quyết định.
Lối sống do phương thức sản xuất qui định. Tuy nhiên, trong cùng
một phương thức sản xuất, các giai cấp khác nhau có lối sống khác nhau.
Theo "Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học", nguyên nhân của sự khác biệt ấy
(thậm chí đối lập), là ở cơ sở kinh tế. "Lối sống xã hội chủ nghĩa đối lập trực
tiếp với lối sống tư sản, điều đó là do có sự khác nhau căn bản về cơ sở kinh tế"
[98, tr. 202]. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất sản sinh sự bóc lột, sự phân
13
chia xã hội thành những giai cấp đối kháng với những lối sống khác nhau;
chính trị, giá trị kinh tế. Chuẩn giá trị xã hội là nguyên tắc của khuôn mẫu
ứng xử. Theo các tác giả của "Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá
trị xã hội", các chuẩn giá trị xã hội được hình thành, xác định trong quá trình
cá nhân hoặc cộng đồng gia nhập vào các quan hệ xã hội với tư cách chủ thể
của các quan hệ xã hội đó. Do đó, "các chuẩn giá trị xã hội luôn luôn đóng vai
trò chuẩn mực, thái độ bên trong của đạo đức và lối sống ở mỗi cá nhân và
cộng đồng cũng như đóng vai trò bản lề, nhất là trong quá trình chuyển hóa
bảng giá trị xã hội ở những giai đoạn biến đổi (hoặc biến động), trên những
lĩnh vực cơ bản của xã hội hay của toàn xã hội" [108, tr. 63].
Mặt chủ quan của lối sống, như đã nói, là ý thức của con người trong
việc lựa chọn cho mình một lối sống, dựa trên cơ sở của một lẽ sống, một thái
độ sống cụ thể, những mục tiêu mà con người đặt ra. Mặt chủ quan này phụ
thuộc rất nhiều vào nền văn hóa, vào thế giới quan, lý tưởng sống mà cá nhân
hấp thu được... Nó làm cho lối sống trở thành tự giác, vươn đến các giá trị,
làm nên ý nghĩa của lối sống.
Chính mặt chủ quan này góp phần làm cho lối sống của các cá nhân,
các tầng lớp, các giai cấp... có sự khác nhau dẫu trong cùng một phương thức
sản xuất và cùng những điều kiện sống. Từ đây mà có ý kiến cho rằng, lối sống
là cái xã hội trong cá nhân.
Lối sống được biểu hiện trong những lĩnh vực nào?
Các tác giả của công trình "Lối sống xã hội chủ nghĩa" coi những hoạt
động sau như những lĩnh vực chủ yếu của lối sống: 1- Lao động; 2- Phúc lợi,
tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày; 3- Sức khỏe của nhân dân; 4- Giáo dục và văn
hóa; 5- Hoạt động chính trị xã hội.
Nếu quan niệm lối sống như một hệ thống các đặc điểm cơ bản về
hoạt động sống của con người thì rõ ràng, lao động phải là lĩnh vực đầu tiên
của lối sống. Trong bất kì xã hội nào, những hình thức hoạt động sống chủ
15
Nếu hiểu lối sống là cách thức con người bảo tồn và phát triển đời
sống trong những điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định thì có thể thấy thực
chất của lối sống là kiểu quan hệ với nhiều cấp độ: quan hệ với tự nhiên và xã
hội; quan hệ gia đình, làng xã và Tổ quốc... Tính chất của mỗi loại quan hệ
trong những điều kiện sống nhất định sẽ làm nên đặc trưng của từng lối sống:
chinh phục hay lệ thuộc, bóc lột hay bình đẳng, đóng góp hay phụ thuộc, ăn
bám... Chính những nét đặc trưng này sẽ hình thành hệ thống chuẩn mực xã
hội để lối sống vận hành theo, tạo nên sự khác biệt của lối sống của từng cộng
đồng và cá nhân.
Từ những phân tích trên, có thể đi đến một định nghĩa như sau: Lối
sống là tổng hòa những dạng hoạt động sống ổn định của cộng đồng (dân
tộc, giai cấp, nhóm xã hội...) và các cá nhân, được vận hành theo những
chuẩn giá trị xã hội nào đó trong sự thống nhất với các điều kiện của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Để hiểu rõ hơn khái niệm lối sống, có thể tìm hiểu thêm mối quan hệ
giữa lối sống với các khái niệm có liên quan như: lẽ sống, nếp sống, mức
sống, phong cách sống...
"Lẽ sống" hay còn gọi là đạo lý sống, là biểu hiện quan trọng nhất của
lối sống. Đây chính là tư tưởng giải thích cho mục đích của lối sống. Lẽ sống
được xem là mặt ý thức của lối sống, phản ánh nhận thức của con người về
chính bản thân trong các mối quan hệ xã hội. Lẽ sống là mặt tự giác của lối
sống, đóng vai trò dẫn dắt, định hướng, nhằm làm cho lối sống ổn định theo
từng cá nhân, nhóm hay giai cấp, dân tộc.
"Mức sống" là một thuật ngữ kinh tế - xã hội để đánh giá mặt vật
chất của lối sống dựa trên chỉ số về sự đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh
thần của cộng đồng. Thông thường, mức sống phản ánh trình độ của nền sản
xuất vật chất trong những điều kiện lịch sử nhất định. Những chỉ báo của
mức sống là hệ quả của sự phát triển của công cụ lao động, của năng suất
18
xây dựng nhiều yếu tố, nhiều mặt tạo nên tác động tổng hợp hình thành lối
sống theo những chuẩn mực đã định.
1.1.2. Khái niệm "lối sống có văn hóa"
Giới nghiên cứu Xô viết trước đây sử dụng tính từ "xã hội chủ nghĩa"
để định tính cho lối sống mới, và để phân biệt chủ yếu với lối sống tư sản. Nước
ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa có đầy đủ những cơ sở
của lối sống xã hội chủ nghĩa nên một thời, các nhà khoa học thường sử dụng
khái niệm "lối sống mới" hay "lối sống lành mạnh". Khái niệm"lối sống có
văn hóa" được sử dụng chính thức trong Văn kiện Đại hội IX [44, tr. 38; tr. 114];
xây dựng lối sống có văn hóa được đề cập đến như một nhiệm vụ của mọi
hoạt động văn hóa hiện nay.
Để xác định khái niệm lối sống có văn hóa cần làm rõ mối quan hệ
giữa văn hóa và lối sống.
Về một phương diện nào đó, hai khái niệm này có điểm tương đồng.
Nhà nghiên cứu Hoa Kỳ C.W. Wissler quan niệm: "Lối sống mà một công xã
hay bộ lạc tuân thủ, gọi là văn hóa" [27, tr. 9]. Chủ tịch Hồ Chí Minh xem văn
hóa là "sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó
mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống
và đòi hỏi của sự sinh tồn" [91, tr. 431]. Như vậy, cơ sở của sáng tạo văn hóa
và cũng như của việc hình thành lối sống con người chính là lao động. Hoạt
động vốn là đặc tính của con người. Để tách khỏi giới tự nhiên, con người
phải lao động nhằm cải biến thế giới và chính bản thân. Hoạt động lao động
đã sáng tạo ra văn hóa và làm nên mặt căn bản của lối sống.
Lối sống là biểu hiện sinh động của một nền văn hóa. Lối sống của
một dân tộc hình thành trong những điều kiện sống nhất định, bao gồm các
điều kiện địa lý tự nhiên, địa - văn hóa, truyền thống văn hóa, chuẩn giá trị xã
hội... Sự khác biệt của điều kiện sống đã làm nên những đặc trưng của từng
20
phát triển các giá trị văn hóa dân tộc ngay trong đời sống trước sự tấn công
hàng ngày, hàng giờ của những tác nhân ngoại lai.
Khái niệm lối sống sẽ không được tiếp cận triệt để và hệ thống nếu không
chú ý đến ý nghĩa biểu tượng từ các hành động xã hội, quá trình xã hội, quan hệ
xã hội, khuôn mẫu ứng xử. Trong khi đó, "việc biểu tượng hóa thế giới tự nhiên
và xã hội thành thế giới của những biểu trưng văn hóa trong nhận thức, tình cảm,
hành động của con người là đặc trưng của xã hội loài người" [108, tr. 34]. Vì
vậy, có quan điểm cho rằng, lối sống xã hội nói chung đều mang tính chất văn
hóa, khái niệm lối sống theo đúng nghĩa và đầy đủ của nó là lối sống có văn
hóa hay văn hóa lối sống. Thật ra, quan điểm này là quá rộng, bởi vì trong
thực tế không phải lối sống nào cũng vươn lên được tầm văn hóa.
Tóm lại, lối sống là một trong những lĩnh vực then chốt của văn hóa,
nó góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc. Lối sống mang những giá trị
bền vững được hình thành từ những điều kiện sống cụ thể. Mỗi một chế độ xã
hội thường có một lối sống với những đặc điểm riêng. Xây dựng các giá trị
riêng biệt của lối sống xã hội là nhằm hình thành những hình mẫu nhân cách
đáp ứng yêu cầu của thể chế chính trị. Do đó, khi chế độ xã hội chủ nghĩa
được thiết lập, yêu cầu xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa cũng hình thành.
Theo chúng tôi, khái niệm "lối sống có văn hóa" ra đời là để nhấn mạnh
đến yêu cầu về phẩm chất văn hóa của việc xây dựng lối sống của cộng đồng,
đặc biệt là của thế hệ trẻ. Đó còn là kết quả nhận thức về thực trạng suy thoái
trong lối sống, thực trạng của lối sống thiếu văn hóa của một bộ phận dân cư
hiện nay. Phần nào, nó cũng nhấn mạnh đến vai trò chủ động của chủ thể trong
việc tự giác xây dựng cho mình một lối sống tốt đẹp phù hợp với yêu cầu của xã
hội.
Như vậy, lối sống như một phần của văn hóa nhưng trên thực tế lối
- Tuân thủ các tiêu chuẩn pháp luật.
- Chủ nghĩa tập thể (đối lập với chủ nghĩa cá nhân tư sản).
22
- Chủ nghĩa nhân đạo, sự quan tâm của xã hội và của tập thể đối với
con người.
- Tinh thần chủ nghĩa quốc tế.
- Tính độc đáo nhất định của lối sống của từng dân tộc.
Các tác giả của công trình "Lối sống xã hội chủ nghĩa" quan niệm lối
sống xã hội chủ nghĩa có các đặc điểm như: chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa nhân
đạo, chủ nghĩa dân chủ, chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa lạc quan xã hội. Những
đặc điểm này xuyên suốt trong lao động, cuộc sống hàng ngày, văn hóa, đời
sống chính trị - xã hội và trong tất cả các hoạt động của con người trong xã
hội xã hội chủ nghĩa.
Xây dựng lối sống có văn hóa là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp
xây dựng nền văn hóa ở nước ta hiện nay. Kết quả của sự nghiệp xây dựng
nền văn hóa được biểu hiện ra ngay trong lối sống của cộng đồng. Có thể nói,
xây dựng lối sống có văn hóa chính là xây dựng một lối sống Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Lối sống tiên tiến trước hết phải là lối sống tiến bộ, thể hiện tinh thần
yêu nước và hướng tới cộng đồng. Khái niệm lối sống tiên tiến ở đây bao gồm
hai nội dung. Một là, lối sống lành mạnh, văn minh, lịch sự, chứa đựng các
giá trị tốt đẹp mà con người đã đạt được. Hai là, lối sống được dẫn dắt bởi
một lẽ sống cao quý mà trên tất cả là lòng yêu nước, được biểu hiện thành thái
độ sống hướng tới cộng đồng, có ý thức công dân, nghiêm chỉnh chấp hành
kỷ cương phép nước, có ý thức phấn đấu đưa đất nước vươn lên thoát khỏi
nghèo nàn lạc hậu.
Ở nước ta hiện nay, lẽ sống dẫn dắt một lối sống tiên tiến phải được
sống tình cảm, tức trong quan hệ xã hội, người Việt có lối sống trọng nghĩa
tình, đoàn kết, nhân ái, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, thương người như thể
thương thân, coi trọng tình làng nghĩa xóm, "chín bỏ làm mười"... Trong
chiến đấu, luôn luôn phải đương đầu với những thế lực quân sự hùng mạnh,
24
người Việt vô cùng kiên cường, bất khuất nhưng cũng khoan dung, đại độ,
yêu chuộng sự hòa hiếu. "Không có gì quí hơn độc lập tự do" là chân lý lớn
nhất trong mối quan hệ ứng xử này của người Việt, bên cạnh đó, luôn luôn
"lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn", "lấy chí nhân mà thay cường bạo".
Bản sắc dân tộc là yếu tố cốt lõi giúp cho lối sống giữ vững những giá
trị truyền thống, không lai căng, không mất gốc. Tiên tiến và đậm đà bản sắc
dân tộc thống nhất hữu cơ trong giá trị của lối sống, tính chất này làm điều
kiện cho tính chất kia. Không thể có lối sống tiên tiến mà lại xa rời các giá trị
của tổ tiên, sùng ngoại, vọng ngoại. Tương tự, không thể đậm đà bản sắc dân
tộc mà lại không tiến bộ và yêu nước.
Xây dựng lối sống có văn hóa thực chất là đề cao một bộ phận quan
trọng của việc xây dựng con người - chủ thể thực hiện lối sống ấy. Xây dựng
lối sống có văn hóa, lối sống Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong
thời kì đổi mới của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là
xây dựng con người có văn hóa, con người công dân với những đức tính tốt
đẹp của dân tộc để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Vì vậy, tính chất
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của lối sống có văn hóa phải hướng đến việc
hình thành những phẩm chất của con người Việt Nam trong giai đoạn cách
mạng mới.
Con người mới Việt Nam cần có những phẩm chất gì? Ở đây cũng cần
nhắc lại những luận điểm của Bác Hồ về tính chất "mới" khi Người bàn về
"Đời sống mới":
đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa
học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực
hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ luật; có