LUẬN VĂN: Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật
ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời
kỳ đổi mới hiện nay
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI- thế kỷ của nền kinh tế tri thức, một thế kỷ bùng
nổ thông tin và hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy không một dân tộc nào có thể sống trong tình
trạng phong bế về văn hóa. Đặc biệt, Việt Nam nằm trong khu vực giao thoa giữa các nền
văn minh phương Đông và phương Tây, chịu sự tác động trực tiếp của các quan hệ quốc tế
vừa phong phú, hấp dẫn, vừa gay gắt, phức tạp hiện nay.
Trong quá khứ, Việt Nam bao giờ cũng sẵn sàng đón nhận những giá trị văn hóa từ bốn
phương. Chúng ta từng có khả năng hòa nhập quốc tế nhưng không đánh mất mình. Nhờ ở
tinh thần khoan dung và rộng mở, dân tộc ta đã tạo được một bộ lọc tinh vi, thu hút được
những gì tinh túy của các nền văn hóa khác mà không bị đồng hóa. Ngày nay, khi toàn cầu

gốc là vấn đề đặt ra hết sức bức thiết.
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: giao lưu văn hóa nghệ thuật là một trong những
hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển văn hóa dân tộc. Trong quá
trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc đẩy mạnh
giao lưu văn hóa nghệ thuật đúng hướng sẽ góp phần to lớn vào việc khẳng định bản sắc và
bản lĩnh dân tộc, đồng thời là cơ hội và điều kiện để chúng ta đổi mới và năng cao tính hiện
đại và tính quốc tế của văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói chung và văn hóa nghệ thuật Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Với ý nghĩa đó, tác giả luận văn chọn đề tài: “Giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật
ở Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới hiện nay (Qua khảo sát lĩnh vực nghệ
thuật biểu diễn)” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn góp phần làm rõ
những vấn đề đã nêu ở trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề giao lưu, kế thừa và tiếp biến văn hóa nói chung và văn hóa nghệ thuật nói
riêng đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu.
Có thể nêu lên một số chuyên khảo tiêu biểu sau: Giao lưu văn hóa đối với sự phát
triển văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay của PGS,TS Phạm Duy Đức, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội, 1996; Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc kết hợp với

tinh hoa nhân loại của Phạm Minh Hạc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,1996; Văn học đổi
mới và giao lưu văn hóa của Phan Cự Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997; Giao lưu
văn hóa người Việt ở Bắc Bộ của tác giả Đỗ Lai Thuý (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ),
1998; 23 năm cuối của 300 năm Văn hóa nghệ thuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh của
tác giả Trần Trọng Đăng Đàn, Nxb Văn nghệ, Sở Văn hóa - Thông tin Thành phố Hồ Chí
Minh,1998.
Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên các Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Diễn đàn văn
nghệ Việt Nam hay Báo Văn hóa như: Giao lưu văn hóa đối ngoại với việc giữ gìn bản
sắc dân tộc và hội nhập thế giới của tác giả Phạm Xuân Sinh, Báo Văn hóa chủ nhật, số
ra ngày 24-27/12/2004; “Văn hóa nhân loại như một bầu trời đầy sao mà vì sao nào
cũng lấp lánh” của Tiến sĩ Phạm Quang Nghị - Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Báo

- Phạm vi nghiên cứu: Giao lưu văn hóa là một lĩnh vực rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực
khác nhau. Luận văn chỉ hạn định trong giao lưu quốc tế về văn hóa nghệ thuật, đặc biệt
trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, bao gồm: Ca-múa-nhạc, Sân khấu (Sân khấu truyền
thống, Sân khấu kịch nói).
Thời gian nghiên cứu: Từ những năm 90 trở lại đây trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và dựa vào các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được thể hiện qua các
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc, các Nghị quyết Hội nghị Trung ương và đặc biệt là Kết
luận hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX để định hướng tư
tưởng cho việc thực thi đề tài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp lôgic và lịch
sử. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học,
phỏng vấn, so sánh để sáng tỏ mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận văn

Luận văn góp phần nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn về thực trạng giao lưu văn hóa
nghệ thuật biểu diễn ở Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay. Từ đó đề ra
phương hướng, giải pháp góp phần thúc đẩy quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật hướng vào
mục tiêu xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với các đặc trưng
dân tộc, hiện đại và nhân văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho những người làm công việc nghiên cứu văn
hóa. Đồng thời là nguồn tài liệu thiết thực cho Bộ Văn hóa- Thông tin, đặc biệt là Sở văn
hóa-Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh tham khảo, vân dụng vào quá trình thực thi, quản lý
vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật trong thời kỳ đổi mới.
7. Kết cấu của luận văn

tạo mà còn là phương thức sử dụng sự sáng tạo đó. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với việc
xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, chúng ta không chỉ chăm lo tạo
ra nhiều giá trị văn hóa tốt đẹp mà cần phải chú ý tới cả "phương thức sử dụng"cho hợp
tình, hợp lý, mang tính nhân văn cao đẹp nữa.
Cũng trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh đã xác định nghệ thuật như một bộ phận của văn
hóa góp phần vào đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội loài người.
Gần đây, đứng trước sự tiến công mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa, vấn đề giữ gìn, bảo
vệ và phát huy các giá trị văn hóa của các dân tộc, các quốc gia đang gặp phải những thách
thức to lớn, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các dân tộc thiểu số. Vì vậy, UNESCO
đã nêu ra định nghĩa về văn hóa trên cơ sở nhấn mạnh đến nội dung này nhằm thức tỉnh tinh
thần trách nhiệm của cộng đồng quốc tế trong việc chống xu thế nhất thể hóa văn hóa, hướng
tới tôn trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa độc đáo của các quốc gia, các dân tộc:
Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật
chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm
người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng [46, tr.23].
Như vậy, văn hóa bao gồm cả lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần thể hiện
năng lực sáng tạo độc đáo, riêng biệt của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trong qúa trình vận
động và phát triển của mình. Lĩnh vực nghệ thuật là một phần trọng yếu của văn hóa tinh

thần, phản ánh khát vọng sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật theo quy luật của cái đẹp. Ở
đây cần làm rõ khái niệm nghệ thuật.
Theo nghĩa rộng: nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời là một loại hoạt
động tinh thần - thực tiễn của con người nhằm sáng tạo hiện thực theo quy luật của cái đẹp
được biểu hiện dưới dạng hình tượng nghệ thuật để đáp ứng những nhu cầu và khát vọng
của con người vươn tới những giá trị Chân- Thiện -Mỹ.
Theo nghĩa hẹp: Loại nghệ thuật thuần nhất (chữ thuần nhất nhằm nói tới sự thống
nhất chặt chẽ và hài hòa giữa phương tiện và mục đích, giữa nội dung và hình thức trong
hoạt động này -chữ dùng của nhà khoa học, TS Lâm Vinh): là hình thức sáng tạo đặc

động này bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, lưu giữ, bảo quản, truyền thông, phổ
biến, đánh giá và tiêu dùng các giá trị nghệ thuật cùng các cơ quan, các tổ chức, các
thiết chế bảo đảm cho quá trình hoạt động này [29, tr.8-9].
Với định nghĩa trên, văn hóa nghệ thuật đã được xem xét trên một bình diện tổng quát,
bao gồm cấu trúc, chức năng cũng như cơ chế hoạt động của nó, tạo nên một chỉnh thể hoạt
động trong đời sống thực tiễn xã hội.
Cơ cấu của văn hóa nghệ thuật bao gồm những thành tố chính sau:
- Đội ngũ nghệ sĩ sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật:
Đội ngũ văn nghệ sĩ sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật đóng vai trò quyết định nền văn
hóa nghệ thuật, nếu không có họ thì sẽ không có nền văn hóa nghệ thuật. Họ là những người
sáng tạo, vừa là những người biểu diễn tác phẩm nghệ thuật - nghĩa là đưa tác phẩm nghệ
thuật đến với công chúng, giúp công chúng tìm ra cái hay, cái đẹp, cái cao cả và cả những
cái xấu, cái bi, cái hài trong nghệ thuật và trong cuộc sống.
- Tác phẩm nghệ thuật:
Tác phẩm nghệ thuật là bức thông điệp mà người nghệ sĩ gửi gắm cho xã hội, thông
qua đó có thể hiểu được bộ mặt của xã hội. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị là một tác
phẩm phải phản ánh cuộc sống, mang tính chân thật, thể hiện quan niệm sống, chứa đựng
tâm hồn dân tộc, bản sắc dân tộc. Tác phẩm nghệ thuật đó phải đạt đến chủ nghĩa nhân văn,
nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm nghệ thuật không phải là hình ảnh thụ động về thế giới mà là
một tấm gương kỳ diệu, biết gạn đục, khơi trong mọi diễn biến của cuộc sống. Những chất

liệu cao nhất của cuộc sống được lọc qua tâm hồn người nghệ sĩ, kết tinh trong tác phẩm.
Người nghệ sĩ với tư cách là chủ thể thẩm mỹ đã chuyển đối tượng thẩm mỹ vào trong tác phẩm
của mình và từ đó biến tác phẩm thành đối tượng thẩm mỹ cao hơn, tập trung hơn trước công
chúng nghệ thuật.
Như vậy, nói đến tác phẩm nghệ thuật là nói đến đối tượng thẩm mỹ và nói đến các giá
trị sáng tạo của nghệ sĩ. Đó là hai yếu tố cấu thành tác phẩm nghệ thuật.
- Công chúng nghệ thuật và sự hưởng thụ nghệ thuật.
Công chúng là những người đánh giá và thưởng thức nghệ thuật. Trong quá trình sáng
tác nghệ thuật thì người nghệ sĩ bao giờ cũng phải lắng nghe công chúng. Tác phẩm nghệ

Nghệ thuật ngôn từ dùng ngôn ngữ để diễn đạt tình cảm, tư tưởng, tâm hồn của con
người theo qui luật của cái đẹp. Nghệ thuật tạo hình chủ yếu sử dụng hình khối đường nét và
các gam màu để thể hiện vật thể dưới dạng tác phẩm mỹ thuật, kiến trúc, điêu khắc, hội họa,
đồ thủ công mỹ nghệ. Nghệ thuật biểu diễn là lĩnh vực nghệ thuật được diễn xuất bằng hành
động, bằng cử chỉ của người nghệ sĩ.
Ở phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ nghiên cứu vấn đề giao lưu văn hóa nghệ thuật
qua khảo sát nghệ thuật biểu diễn. Vậy nghệ thuật biểu diễn là gì và vai trò của nó ra sao
trong đời sống văn hóa hiện nay? Nếu đặt nghệ thuật biểu diễn trên bình diện của đời sống
văn hóa nghệ thuật thì nghệ thuật biểu diễn là một yếu tố, một bộ phận quan trọng của đời
sống văn hóa nghệ thuật, là hoạt động của người nghệ sĩ biểu diễn, gắn với tác phẩm nghệ
thuật, gắn với khán giả và cộng đồng chính trị, lãnh đạo và quản lý trên lĩnh vực này.
Từ những năm đầu của thế kỷ XX, trên thế giới đã nảy sinh hai quan niệm khác nhau
về nghệ thuật biểu diễn. Một bên là Coquelin (1841-1909), diễn viên nổi tiếng Pháp trong
cuốn Nghệ thuật diễn viên đã viết “Người diễn viên phải làm chủ được mình. Ngay cả trong
những lúc mà khán giả bị kích động bởi hành động của mình, tin rằng mình đang cuống quít
nhất thì mình phải trông thấy mình làm, tự đánh giá và chế ngự được mình, tóm lại, không
được rung động dù cái bóng của những cảm xúc đó một cách chân thực và mạnh mẽ nhất”
[66, tr.18]. Ông cho rằng người diễn viên trên sân khấu có hai cái tôi, “cái tôi diễn viên”
nghệ sĩ, và “cái tôi nhân vật”. Ông nói phải giữ cho “cái tôi diễn viên” nghệ sĩ phần hồn,
sự hiểu biết…và hãy chỉ cho “cái tôi nhân vật” phần thể xác. Ngược lại Sepkin (1788-1863), diễn viên lỗi lạc Nga thì cho rằng, trong khi sáng tạo
hình tượng, diễn viên “phải bắt đầu từ chỗ tiêu diệt bản thân mình, cá tính mình, toàn bộ
những đặc điểm của mình mà phải biến thành nhân vật mà tác giả miêu tả” [19, tr.7].
Từ hai quan niệm về nghệ thuật biểu diễn như vậy, hình thành hai chủ trương nghệ
thuật mà người ta thường gọi là trường phái biểu hiện và trường phái thể nghiệm. Phái biểu
hiện đặc biệt chú trọng khai thác nội tâm nhân vật lúc đầu để tìm ra cách biểu hiện bên
ngoài cho chân xác, sau khi tìm hiểu được rồi thì đến khi diễn xuất, họ chỉ diễn cái bề ngoài,
tâm trí họ không xúc động nữa. Phái này rất chú ý trau dồi hình thể, nghiên cứu động tác

thực hiện sự tác động có mục tiêu của chủ thể là đội ngũ nghệ sĩ tới công chúng thông qua
biểu diễn nghệ thuật để đạt cả lợi ích về vật chất và tinh thần. Các thành tố tạo nên hoạt
động của văn hóa nghệ thuật biểu diễn bao gồm: đội ngũ nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật, nhà
tổ chức, cơ quan lãnh đạo, quản lý và công chúng. Chất lượng hoạt động của văn hóa nghệ
thuật biểu diễn liên quan đến sự phối hợp tổ chức có hiệu qủa các lực lượng này tạo thành
môi trường văn hóa nghệ thuật biểu diễn.
Chúng ta đang sống trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, ngành thông tin điện
tử đang xâm nhập vào mọi ngõ ngách của đời sống xã hội. Vì thế, văn hóa nghệ thuật cũng
trở nên vô cùng phong phú và đa dạng. Chúng ta có thể ngồi một nơi vẫn có thể tiếp cận
được với các nền văn minh trên thế giới bằng các kênh phát thanh, truyền hình, bằng mạng
Internet và các sản phẩm nghe nhìn khác. Thông tin điện tử đã trở thành một nhu cầu thiết
yếu của đời sống xã hội. Nó đã trở thành một phương thức sinh hoạt tinh thần phong phú
của người dân. Thế nhưng, thông tin điện tử vẫn không thể làm mờ đi vai trò của các nghệ sĩ
trên sân khấu. Nói cách khác, nghệ thuật biểu diễn vẫn tồn tại, vẫn phát triển và ngày càng
chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội. Phải chăng, nghệ thuật biểu diễn
luôn có một hình thức biểu đạt riêng, dễ đi vào lòng người hơn? Đến với nghệ thuật biểu
diễn, công chúng nghệ thuật được thưởng thức trực tiếp những giá trị nghệ thuật một cách
sinh động, cụ thể và truyền cảm bằng tài năng diễn xuất đầy màu sắc cảm tính, trực tiếp của
người nghệ sĩ trên sân khấu.
1.2. GIAO LƯU VĂN HÓA NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
1.2.1. Giao lưu văn hóa

Khái niệm giao lưu văn hóa được dịch từ các thuật ngữ như: Cultural contacts (tiếp
xuc văn hóa), cultural exchanges, cultural change (trao đổi văn hóa), transculturation
(chuyển di văn hóa), interpénetration des civilisations (sự thâm nhập giữa các nền văn
minh) Các thuật ngữ trên được dùng ở những nước khác nhau với những nội hàm ít
nhiều khác nhau nên chúng không có sự chặt chẽ của một thuật ngữ. Riêng thuật ngữ
acculturation là một nội hàm được xác định, hơn nữa nó có ý nghĩa thao tác trong việc
nghiên cứu [82, tr.10].
Thuật ngữ “acculturation” được dịch ở Việt Nam là “hỗn dung văn hóa”, “đan xen văn

chung, giao lưu là “cho”và “nhận”- những cái cho - nhận hết sức phong phú, linh hoạt,
thường xuyên đổi mới và cũng tuân thủ theo những điều kiện nhất định. Nó tuỳ thuộc vào ta
có gì và cần gì; tuỳ thuộc vào các nước có gì, tình hữu nghị giữa các nước đó với nhau ra
sao. Do đó, giao lưu phải dựa trên những điều kiện và nguyên tắc nhất định.
Vậy giao lưu văn hóa là gì? Giao lưu văn hóa là khái niệm nói về một hiện tượng phổ
biến mang tính quy luật thường xuyên chi phối quá trình vận động, phát triển trong mọi nền
văn hóa dân tộc trên thế giới. Nó là hệ quả của sự tiếp xúc (contact) và là nguyên nhân, điều
kiện cho sự hội nhập (intégra-tion) của các nền văn hóa khác nhau khi có dịp gặp gỡ nhau
trong những điều kiện, hoàn cảnh nào đó.
Giao lưu văn hóa chính là quá trình trao đổi chất giữa các nền văn hóa với nhau. Mỗi
nền văn hóa dân tộc sẽ bị suy thoái nếu không có quá trình trao đổi chất này. Mà quá trình
này chính là sự tác động biện chứng giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh của nền văn
hóa dân tộc (Cặp khái niệm này thường xuyên được nhắc đến, phân tích khi nghiên cứu vấn
đề giao lưu, hội nhập; nhất là giao lưu, hội nhập văn hóa). Yếu tố nội sinh là những yếu tố
vốn có, nội thuộc của một nền văn hóa, còn những yếu tố ngoại sinh là những yếu tố có
nguồn gốc từ nền văn hóa khác nhau giao lưu đã nhập vào nền văn hóa chủ thể. Trong hai
loại yếu tố này, thì yếu tố nội sinh thường có vai trò quan trọng hơn. Bởi yếu tố nội sinh là
chủ thể, yếu tố nội sinh làm nên thực chất của một nền văn hóa, còn yếu tố ngoại sinh chỉ là
một khách thể, bổ sung và làm cho nền văn hóa đó phong phú hơn, đa dạng hơn. Yếu tố nội
sinh còn quy định sự tiếp nhận yếu tố ngoại sinh nào và cách tiếp nhận nó. Tuy vậy, không
phải lúc nào và ở đâu yếu tố nội sinh cũng đóng vai trò chủ đạo. Trong xã hội hiện đại, xu
thế quốc tế hóa và toàn cầu hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ thì yếu tố ngoại sinh cũng đóng
vai trò không kém phần quan trọng. Vì vậy, khi nghiên cứu sự vận động và phát triển nền

văn hóa dân tộc không thể coi nhẹ cả hai yếu tố kể trên. Bàn về vấn đề này, GS Vũ Khiêu
trong cuốn: “Mấy vấn đề văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay” đã nhấn mạnh:
Chỉ dựa vào nhân tố nội sinh và đóng cửa không tiếp nhận gì từ bên ngoài,
thì một con người dù lành mạnh, một dân tộc dù có truyền thống lâu đời cũng sẽ
dần dần suy yếu đi và không còn sinh khí nữa. Ngược lại, chỉ chú ý đến nhân tố
ngoại sinh không chuẩn bị đầy đủ những điều kiện nội sinh thì nhân tố ngoại sinh

Trong thời đại ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa
học và công nghệ; cùng với sự bùng nổ thông tin và sự liên kết chặt chẽ quan hệ mậu dịch,
giao lưu quốc tế trở thành một nhu cầu khách quan, một động lực của sự phát triển. Không
một dân tộc nào, không một quốc gia nào phát triển được nếu tự khép kín, biệt lập với thế
giới bên ngoài. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều cố vươn mình lên để hội nhập với xu thế
chung, để khẳng định tính ưu việt của mình. Dĩ nhiên, trong quá trình giao lưu hội nhập
không chỉ có sự tham gia của kinh tế, chính trị, khoa học, kỹ thuật, mà văn hóa nghệ thuật
cũng không nằm ngoài quỹ đạo đó.
Cái nội sinh của văn hóa nghệ thuật thể hiện ở toàn bộ các thành tố tạo nên nội lực,
tạo nên bộ gien di truyền bên trong của văn hóa nghệ thuật. Các thành tố đó bao gồm: đội
ngũ văn nghệ sĩ, tác phẩm nghệ thuật, công chúng nghệ thuật, môi trường chính trị xã hội
Các thành tố này đều quan trọng, góp phần tạo nên một nền văn hóa nghệ thuật dân tộc -
nền văn hóa nghệ thuật có bản sắc riêng.
Còn cái ngoại sinh của văn hóa nghệ thuật dân tộc thể hiện ở toàn bộ sự tác động trực
tiếp hay gián tiếp của các thành tố văn hóa nghệ thuật từ bên ngoài nhập vào, gây ra sự tiếp
biến trong quá trình giao lưu văn hóa nghệ thuật giữa các dân tộc khác nhau. Đó chính là
các hệ tư tưởng, các trào lưu và các trường phái nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và các
tác phẩm nghệ thuật, các phương pháp sáng tạo và các phương pháp nghiên cứu nghệ thuật,
các chất liệu nghệ thuật và kĩ thuật sáng tạo, các cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, các tổ
chức, thiết chế và cơ chế hoạt động của văn hóa nghệ thuật, đặc biệt là các khuynh hướng
thẩm mỹ và thị hiếu thẩm mỹ… Những cái này tác động vào cái nội sinh vừa mang tính tất
nhiên, vừa mang tính ngẫu nhiên, luôn luôn vận động và biến đổi, tuỳ thuộc vào các quan hệ
kinh tế, chính trị, văn hóa ở từng quốc gia và từng thời kỳ nhất định. Các yếu tố ngoại sinh
vừa bao hàm các bộ phận tích cực làm động lực thúc đẩy cho quá trình đổi mới văn hóa

nghệ thuật dân tộc, vừa bao hàm các bộ phận tiêu cực, cản trở, kìm hãm sự phát triển của
văn hóa nghệ thuật dân tộc.
Trong văn hóa cũng có những yếu tố mà về nguyên tắc, không thể du nhập và truyền
bá được. Sự có mặt của một hiện tượng văn hóa ngoại lai, trong nhiều trường hợp, không
thể gọi là sự du nhập về văn hóa. Trong văn hóa, sự trao đổi, giao lưu, trong một chừng mực

đổi mới và phát triển. Nếu không đảm bảo mối quan hệ biện chứng này thì sẽ dẫn đến tình
trạng hoặc là cái nội sinh bị cô lập mất động lực bên ngoài để phát triển; hoặc là bị cưỡng
bức phá vỡ bộ gien di truyền của văn hóa nghệ thuật, đánh mất bản sắc dân tộc của mình.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một đất nước liên tục chống ngoại xâm, lịch sử của
một xã hội thuần nông, việc giao lưu với thế giới chưa năng động, chưa đa dạng và còn
chậm trễ so với nhiều nước. Tuy nhiên, trong lịch sử chúng ta đã có kinh nghiệm hội nhập
văn hóa mà không bị đồng hoá; trải qua ba lần tiếp biến văn hóa lớn, nhưng văn hóa Việt
Nam không những không bị hòa tan, biến sắc mà ngược lại, nó còn làm giàu thêm bản sắc
của mình, vì nó biết tiếp thu và cải hóa cái bên ngoài thành cái bên trong cho phù hợp với
cuội nguồn giá trị dân tộc. Vì lẽ đó mà trong giá trị truyền thống Việt Nam không chỉ có
thuần nhất giá trị Việt Nam. Ở đó, ta còn thấy cả các yếu tố Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo
và cả văn hóa châu Âu như văn hóa Pháp, văn hóa Nga Nhưng tất cả các yếu tố đó đều
biến thành một bộ phận làm nên sức sống mạnh mẽ của văn hóa Việt Nam.
Xác định rõ: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”, cùng với chính trị và kinh tế, giao lưu văn hóa luôn luôn
là một trong ba cột trụ lớn của giao lưu, hợp tác quốc tế trong thời đại ngày nay. Đảng và Nhà
nước ta đã chú trọng tới việc mở rộng chính sách đối ngoại thông qua kênh giao lưu văn hóa,
góp phần từng bước nâng vị thế của Việt Nam lên tầm cao mới trên trường quốc tế. Kết luận
Hội nghị lần thứ mười Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX đã đánh giá:
… đã tạo nhiều phương thức, hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với
từng khu vực, từng nước, qua đó làm tốt hơn, có hiệu quả hơn nhiệm vụ giới thiệu
văn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới, tiếp thu có chọn lọc các
giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài, tạo sự đồng cảm, hiểu biết
giữa dân tộc ta và các dân tộc trên thế giới.
Vị thế Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao, con người và cuộc
sống văn hóa thời kỳ đổi mới được bạn bè hiểu biết rõ hơn, đúng hơn. Số lượng

đoàn vào, đoàn ra, giao lưu và trao đổi văn hóa tăng dần qua các năm [5, tr.32-
33].
Năm 2004 đã có tới 414 đoàn Việt Nam gồm 2.162 lượt người ra nước ngoài và đón

nghệ thuật biểu diễn từ lâu đã được quan tâm. Nó không chỉ học hỏi, tìm hiểu, giao lưu nghệ
thuật biểu diễn của các nghệ sĩ trên khắp thế giới mà còn giúp các đoàn nghệ thuật ở các
nước giới thiệu, quảng bá nền văn hóa nghệ thuật của họ. Đường lối mở rộng quan hệ đối
ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước ta đã tạo điều kiện thuận
lợi, tác động tích cực tới sự giao lưu văn hóa nói chung và nghệ thuật biểu diễn nói riêng ở
trong và ngoài nước. Trong những năm gần đây, việc cá nhân nghệ sĩ hay các đoàn nghệ
thuật đi lại biểu diễn ở cả hai miền Nam, Bắc là chuyện diễn ra hàng ngày. Hơn thế, nhiều
nghệ sĩ của nước ngoài đã đến Việt Nam biểu diễn, khán giả Việt Nam có cơ hội thưởng thức
nghệ thuật ngoại với nhiều loại hình phong phú, đa dạng. Các nghệ sĩ Việt Nam, bằng nhiều
con đường khác nhau, ra nước ngoài biểu diễn ngày càng nhiều. Trong năm 2003, đã có 397
lượt đoàn nghệ thuật của Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn và có 188 đoàn nghệ thuật quốc
tế vào biểu diễn tại Việt Nam [38, tr.11]. Những con số này đã khẳng định tiềm năng to lớn
của nghệ thuật Việt Nam trong quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Việc các đoàn nghệ
thuật của Việt Nam ra nước ngoài biểu diễn hay các đoàn nghệ thuật quốc tế vào Việt Nam
biểu diễn theo lời mời của các cơ quan chức trách của cả hai bên là việc làm có ý nghĩa hết
sức quan trọng . Bởi qua đó, các nền văn hóa nghệ thuật của các nước được quảng bá, mối
quan hệ ngoại giao trên thế giới, trong khu vực ngày càng bền chặt và tốt đẹp. Trong thời
gian vừa qua, nhờ chính sách mở cửa của nhà nước ta, một số không ít các ca sĩ, nghệ sĩ ra
nước ngoài biểu diễn với tư cách cá nhân theo con đường du lịch. Đảng và Nhà nước ta đã
tạo điều kiện thuận lợi cho các nghệ sĩ, ca sĩ ra nước ngoài biểu diễn, cũng như các ca sĩ,
nghệ sĩ nước ngoài vào Việt Nam biểu diễn. Tuy nhiên, những hoạt động biểu diễn đó phải
có lợi cho cá nhân ca sĩ và phải có lợi cho đất nước. Ông Phạm Tiến Vân, Q.Vụ trưởng Vụ
Văn hoá - Thông tin (Bộ ngoại giao) cho biết:
Qua theo dõi và sàng lọc thông tin từ cộng đồng, bên cạnh những chương
trình nghệ thuật có chất lượng (phần lớn các đoàn nghệ thuật do Nhà nước cử đi)
tạo hiệu qủa tích cực trong việc vận động kiều bào hướng về tổ quốc, về nền văn
hóa dân tộc…cũng còn những tồn tại cần phải khắc phục. Nhiều ca sĩ trong nước
vốn đã quen “tự do”, tự do trong phát ngôn, tự do trong phong cách biểu diễn và
trang phục… khi ra nước ngoài còn “tự do” hơn nhiều. Thêm vào đó là sự



và Hungary; Đoàn Dàn Nhạc giao hưởng Việt Nam gồm 90 người tham gia Liên hoan các
dàn nhạc Châu Á tại Tokyo…. Theo con số thống kê của Báo Văn hóa chủ nhật ra ngày 24-
27/12/2004 thì năm 2004 đã có hơn 100 đoàn nghệ thuật ra nước ngoài biểu diễn và hơn
1000 người thuộc tốp nghệ thuật tham gia các liên hoan quốc tế.
Với nội dung phong phú giàu bản sắc dân tộc, biết khai thác các chất liệu truyền
thống, các chương trình nghệ thuật của Việt Nam đã từng bước chiếm được cảm tình khán
giả ở nước ngoài. Bà Selima-Bộ trưởng Quốc vụ Khanh văn hóa Băngladesh, trong chuyến
thăm chính thức Việt Nam đã phát biểu: “Nhân dân Băngladesh còn nhớ mãi những nghệ sĩ
xinh đẹp với những chương trình biểu diễn nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam đã để lại nhiều
ấn tượng khó quên trong lòng khán giả”.
Ngoài ra, giao lưu văn hóa đã tạo điều kiện cho nhân dân ta tiếp cận với nhiều nền
nghệ thuật của thế giới. Mặc dầu còn gặp nhiều khó khăn về kinh phí, song hàng năm Bộ
Văn hoá-Thông tin đã mời nhiều đoàn nghệ thuật quốc tế đến Việt Nam giao lưu, dự các
cuộc liên hoan quốc tế về sân khấu, điện ảnh, âm nhạc. Chỉ tính riêng cuộc Liên hoan sân
khấu thể nghiệm quốc tế lần thứ nhất được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 11/ 2002 đã có gần
400 diễn viên thuộc 14 đơn vị nghệ thuật của Thụy Điển, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt
Nam lần lượt trình diễn chương trình dự thi của mình trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội và
rạp xiếc Trung ương. Nhà hát Zen-nit (Thuỵ Điển) biểu diễn vỡ kịch “Cánh cửa mở”; Đoàn
kịch nói Quảng Đông (Trung Quốc) với vở “Áp giải”; Trung tâm biểu diễn sân khấu Hàn
Quốc với vở kịch “ Nghiệp chướng” đã để lại ấn tượng sâu đậm. Ngoài nghệ thuật sân
khấu, còn có các đoàn quốc tế đến trao đổi, giao lưu và biểu diễn âm nhạc như liên hoan
nhạc Jazz cổ điển, Jazz châu Âu, Mỹ, La Tinh… gồm các nhạc công nổi tiếng ở nhiều nước
trên thế giới: Đan Mạch, Italia, Hà Lan, Cộng hòa Séc, Tây Ban Nha…. Liên hoan nhạc
Jazz châu Âu lần thứ 4 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 21/11 đến 4/12/2004
đã quy tụ 9 ban nhạc nổi tiếng của Thuỵ Sĩ, Áo, Bỉ, Hà Lan, Đức, Pháp, Thuỵ Điển, Đan
Mạch và Việt Nam.
Các đoàn nghệ thuật múa của bạn bè quốc tế đã sang Việt Nam biểu diễn, giao lưu
trong nhiều dịp liên hoan, kỉ niệm. Tiêu biểu là đoàn Nghệ thuật múa Hàn Quốc Kooksoo-
Hodilin đã từng đi diễn hơn 30 nước trên thế giới, nhân dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan

chất… Trải qua hàng nghìn năm chung sống với nhau, những dân tộc và tộc người anh em
ấy đã không đánh mất bản sắc văn hóa mà còn phát huy tính đa dạng của mình. Bản sắc và

tính đa dạng ấy không tạo nên ở họ một hàng rào khép kín; ngược lại luôn luôn tự coi mình
như những thành viên trong máu thịt của cộng đồng Việt Nam”. Và giáo sư Vũ Khiêu tiếp
tục khẳng định: “Riêng về mặt giao lưu văn hóa, dân tộc Việt Nam đã gặp gỡ trao đổi với
rất nhiều nền văn minh trong khu vực và trên thế giới, đã tiếp thu được rất nhiều nhân tố tích
cực từ nước ngoài và không hề bị đồng hóa. Ngược lại sự giao lưu ấy đã góp phần làm cho
tính đa dạng của văn hóa Việt Nam ngày càng phong phú và bền vững” [37, tr.8-9].

Còn TS.Đặng Văn Bài, Cục trưởng cục Di sản văn hóa Việt Nam phát biểu: “Bảo vệ sự đa
dạng văn hóa là tạo nội lực để giao lưu với các đoàn văn hóa khác, tiếp nhận một cách khoan
dung các giá trị văn hóa, sáng tạo nên các giá trị văn hóa mới làm phong phú vốn văn hóa
của mỗi quốc gia” [37, tr.8-9].
Việc trau dồi luyện tập, siêng năng học hỏi những tinh hoa nghệ thuật biểu diễn để
chất lượng biểu diễn nghệ thuật ngày càng tiến bộ, theo kịp bạn bè quốc tế là việc làm luôn
luôn cần thiết. Số lượng đoàn ra, đoàn vào nói lên sự tiến bộ về mặt cơ chế quản lý và chính
sách thu hút hải ngoại về Việt Nam. Nhưng về mặt chất lượng nghệ thuật cần có sự đầu tư
thỏa đáng đối với đoàn nghệ thuật của Việt Nam đi biểu diễn nước ngoài. Theo ông Phạm
Tiến Vân, Q.Vụ trưởng Vụ Văn hóa - Thông tin (Bộ ngoại giao) cho biết:
Hiện tại Việt Nam có 2,7 triệu Việt kiều sống và làm việc tại nước ngoài …
Trình độ thưởng thức nghệ thuật của kiều bào ở nước ngoài rất cao, họ thường
xuyên tiếp xúc với các chương trình nghệ thuật mang đẳng cấp quốc tế và bản
thân các nghệ sĩ Việt Nam ở hải ngoại cũng rất tài năng. Muốn vận động được
kiều bào ở hải ngoại hướng về tổ quốc, yêu văn hóa Việt, phải đem đến cho họ
những chương trình nghệ thuật tốt, chất lượng cao, thể hiện được cái hay, cái
đẹp của văn hóa Việt trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế [38, tr.11].
Như vậy, tăng cường giao lưu, hội nhập sẽ góp phần làm đa dạng nền văn hóa của mỗi
dân tộc. Và chính sự đa dạng ấy đã góp phần làm nên nền văn hóa của mỗi dân tộc nói riêng
và nền văn hóa thế giới nói chung ngày càng phong phú, đa dạng, đa sắc, đa hương. Nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status