MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vào đầu thế kỷ XX, sự ra đời của kịch được xem là sản phẩm mới của lịch sử văn học, khẳng định mạnh mẽ ảnh
hưởng của văn hóa phương Tây vào nước ta. Kịch tỏ ra có ưu thế đặc biệt, thích ứng kịp với với cuộc sống đang thay đổi, với xã
hội Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới. Với kịch nói, văn học nghệ thuật nước ta có thêm một thể loại mới,
làm cho đời sống văn học phong phú hơn, hòa nhập tích cực vào tiến trình văn học hiện đại của thế giới.
Kịch nói là sản phẩm của nền văn minh đô thị, tác phẩm kịch do lớp trí thức Tây học và tiểu tư sản sáng tác để đáp ứng nhu
cầu tinh thần, tâm lí, thị hiếu của tầng lớp thị dân. Kịch nói từ thú chơi tài tử của những trí thức tân học, dần dần trở thành một bộ
môn kịch nghệ thu hút cả những nghệ sĩ, những nhà văn có tên tuổi, chiếm số đông khán giả thành thị, tạo thiết cả một phong trào
làm thay đổi hẳn tập quán thưởng thức, mang đến cho đời sống đô thị một sinh hoạt văn hóa nghệ thuật mới.Vì vậy, ngoài giá trị
tạo nên một thể loại mới, kịch đã tạo nên một lớp nhà văn, nghệ sỹ và công chúng mới có thẩm mĩ của xu hướng Âu hóa.
Một thế kỷ hình thành và phát triển, thể loại kịch đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giao cho trong việc tiên phong thể
hiện thực tiễn xã hội đa dạng và phức tạp, miêu tả được những mâu thuẫn của đời sống xã hội và cảm thức con người hiện đại
trong từng thời kì.
1.2. Về bi kịch, từ thời cổ đại, thể loại này đã được nghiên cứu khá sâu và có tầm ảnh hưởng cho tới tận ngày nay (tiêu biểu
là Aristote). Về sau, nhiều học giả nổi tiếng (Gorasi, Shakespeare, Lessing, Rousseau …) đã có những bàn luận sâu sắc về kịch
nói chung, bi kịch nói riêng ở nhiều góc độ khác nhau. Ở Việt Nam, thể loại kịch nói chung đã có chiều hướng phát triển và ngày
càng được chú ý cả về phương diện sáng tác và nghiên cứu phê bình. Trong xu hướng chung của văn học thế giới, Kịch nói Việt
Nam cùng với Thơ mới và Tiểu thuyết là những thể loại mới, trong đó bi kịch là một nhánh quan trọng cần nhiều tìm tòi tâm
huyết để tìm ra những đặc điểm chung mang tính thời đại cũng như những đặc trưng mang tính dân tộc của thể loại văn học đặc
thù này. Tuy vậy, thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam còn khá mới mẻ và trong một thời gian dài bị chìm lắng hoặc quên
lãng cả trong nghiên cứu cũng như sáng tác. Thành tựu của bi kịch Việt Nam vẫn còn khiêm tốn so với các thể loại khác hoặc
ngay với các chủng loại khác của kịch. Những vấn đề lý thuyết bi kịch, bản chất và thi pháp của thể loại bi kịch tuy đã được đề
cập và bàn luận ít nhiều nhưng vẫn còn nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ, cần phải tìm hiểu, nghiên cứu một cách chuyên sâu hơn.
1.3. Với những tiền đề lí luận và thực tiễn trên, Luận án mong muốn góp phần tìm hiểu thể loại bi kịch, nhằm minh định
các đặc trưng của thể loại, làm rõ thêm những giá trị về nội dung, nghệ thuật của bi kịch. Từ đó, khẳng định sự tồn tại của thể
loại bi kịch như một thể loại trong nền văn học Việt Nam hiện đại với những đặc điểm về xung đột bi kịch, về nhân vật, về biểu
1
hiện của sự thanh lọc trong cấu trúc hình tượng nhân vật và hiệu ứng thanh lọc trong nhận thức của khán giả trong quá trình tiếp
nhận tác phẩm. Những kết quả đạt được sẽ là cơ sở lý luận cho nghiên cứu cũng như là giảng dạy về thể loại này.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam có gì độc đáo, mang bản sắc riêng?
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận, để thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng hướng tiếp cận từ góc độ thi pháp để làm rõ đặc trưng thể
loại, đó là xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh lọc.
Để triển khai đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê phân loại: Phương pháp này là để có được các dẫn liệu có tính thuyết phục cao qua việc khảo sát
thống kê và sắp xếp các dẫn liệu, tổng hợp thành những luận điểm lớn, tạo cơ sở đáng tin cậy cho việc nghiên cứu.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này nhằm làm rõ sự giống nhau và khác nhau giữa các tác phẩm bi kịch từ đó khái
quát được những đóng góp và hạn chế của mỗi vở bi kịch.
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phương pháp này để đánh giá các hiện tượng và rút ra được các nhận định trên các
phương diện là xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh lọc.
- Phương pháp hệ thống: Phương pháp này nhằm chỉ ra các đặc điểm về là xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh
lọc là những yếu tố trong mối quan hệ với hệ thống các yếu tố khác của thể loại bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại.
Ngoài ra, luận án còn vận dụng phương pháp tiếp cận liên nghành (Mỹ học, Văn hóa học, Sân khấu học) và các thủ pháp
nghiên cứu (miêu tả, diễn dịch, quy nạp) để làm rõ đặc trưng thi pháp thể loại bi kịch.
5. Những đóng góp mới của luận án
Trên phương diện lí luận, từ trước đến nay tình hình nghiên cứu vấn đề bi kịch mới chỉ dừng lại ở việc dịch thuật các tài
liệu nước ngoài phục vụ cho nghiên cứu giảng dạy, mà chưa có công trình lí luận riêng biệt và hoàn thiện về vấn đề này. Luận án
là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu về bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại.
Luận án có những đóng góp mới như sau:
- Bước đầu đã chỉ ra được sự tồn tại của bi kịch, với tư cách là một thể loại, trong văn học Việt Nam.
- Nghiên cứu đặc điểm xung đột bi kịch ở các phương diện: Các kiểu xung đột bi kịch, cách giải quyết xung đột trong thể
loại bi kịch; đặc điểm về nhân vật bi kịch, phân loại các kiểu nhân vật.
3
- Mặt khác, đề tài đã chứng minh được vấn đề tính dân chủ trong một thể loại xem trọng tính giai tầng ở phương diện nhân
vật. Vấn đề về con người bình dân, tồn tại trong hầu hết các tác phẩm bi kịch Việt Nam lí giải cho một quan niệm nghệ thuật về
con người trong thể loại bi kịch được nới rộng và mới mẻ.
- Nghiên cứu vấn đề thanh lọc trong bi kịch ở trên hai phương diện : sự thanh lọc diễn ra ở quá trình tiếp nhận của khán giả
qua sự lo sợ và thương cảm; sự thanh lọc diễn ra ngay trong chính cấu trúc tác phẩm, tức là sự thanh lọc ở nhân vật bi kịch.
6. Cấu trúc luận án
cứu của đề tài này.
CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN BI KỊCH.
KHÁI QUÁT VỀ BI KỊCH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
2.1. Giới thuyết về bi kịch
2.1.1. Quan niệm về bi kịch qua các thời kỳ từ cổ đại đến thế kỷ XX
Thời kỳ Hy Lạp cổ đại (Aristote) trong cuốn Nghệ thuật thi ca Về bản chất của bi kịch, xác định: đó là sự diễn tả nỗi đau
khổ bất hạnh lớn của con người. Nhân vật bi kịch, là người cao cả mắc lỗi lầm bi kịch. Bàn về lỗi lầm (hamartia) bi kịch, Aristote
cho rằng, người anh hùng của bi kịch sẽ chỉ là bi kịch bởi vì anh ta đã mắc lỗi lầm nào đó, và lỗi lầm ấy có thể thông cảm được,
gây cho người ta tuy có giận nhưng vẫn thương. Yếu tố nhận biết là cơ sở của toàn bộ sự phát triển hành động bi kịch.Sự thanh
lọc (Catharsic) là hiệu quả bi kịch đối với người xem. Bi kịch làm nảy sinh ở khán giả sự lo sợ và thương cảm để rồi thanh lọc,
giải toả khán giả ra khỏi những tình cảm đó. Với Aristote sự thanh lọc nằm ngoài bi kịch.
Quan điểm nghiên cứu bi kịch của Aristote là cơ sở để phát triển lý luận bi kịch nhân loại ở các nhà bi kịch các thời kỳ
sau,như : Gorasi (Thời kỳ La Mã cổ đại);Balbis , Đante Aligheri (Thời kỳ trung cổ); Thời kỳ Phục hưng đến Ba Rốc thế kỷ 14 –
16 có các đại diện của Chủ nghĩa nhân văn Phục hưng và Chủ nghĩa kiểu cách như: Bokkatso, Scalighe, Shakespeare và Ben
Jonson, Tsintsio, Kastelvetro; Corneille, Racine (Thời kỳ chủ nghĩa cổ điển thế kỷ 17); Stilo, Lillo (Anh),Voltaire, Banis Didero,
Rousseau, Mersie (Pháp), Lessing, Goeth và Schiller (Đức), (Thời kỳ khai sáng thế kỷ 18). Thời kỳ hiện đại, thế kỷ 19 có hai
5
trường phái lí luận quan trọng đó là Chủ nghĩa lãng mạn và Chủ nghĩa hiện thực.Chủ nghĩa lãng mạn, tiêu biểu là V.Hugo.Chủ
nghĩa hiện thực, với các đại diện như Stendhal, George, Bernard Shaw, Turgenniev, Ostovski, Chekhov Chủ nghĩa hiện đại thế
kỷ XX gồm các trường phái kịch: Siêu thực, Tượng trưng, Phi lý, Hiện sinh, kịch Tự sự biện chứng, Kịch hiện thực … đóng góp
nhiều tư tưởng mới cho lí luận kịch.
2.1.2. Bi kịch trong tương quan với chính kịch và hài kịch
2.1.2.1. Bi kịch trong tương quan với chính kịch
Bi kịch,hài kịch,chính kịch là ba thể loại quan trọng của văn học kịch.Trong đó, chính kịch là thể loại nghiêm túc trong vai
trò tiếp cận cuộc sống xã hội, diễn tả nội dung mới của xã hội. Nếu bi kịch và hài kịch là hai đối cực thì giữa hai đối kịch ấy sẽ có
một khoảng trống ở giữa. Vì thế sự có mặt của chính kịch là bù lấp cái khoảng trống kia, đó là một thể loại trung gian. Tuy nhiên,
chính kịch không phải là sự cộng lại bi kịch và hài kịch mà nó tồn tại độc lập với những đặc trưng riêng. Tại đây, chúng tôi nêu
lên những đặc trưng của chính kịch trong so sánh với bi kịch với múc đích là qua sự phân biệt giữa hai thể loại để thấy rõ đặc
trưng của bi kịch. Chúng ta phân biệt bi kịch với chính kịch trên các bình diện: cốt truyện, hành động, xung đột, đề tài, phong
cách, cấu trúc. Sự tương quan giữa bi kịch với chính kịch tô đậm hơn đặc trưng của bi kịch.
nhân vật, ngôn ngữ; ngoài ra, bi kịch có những đặc điểm riêng biệt mang đậm dấu ấn thể loại như lỗi lầm bi kịch, sự nhận biết,
sự trả giá và sự thanh lọc Đây là các yếu tố cơ bản làm nên chỉnh thể cấu trúc của một tác phẩm bi kịch. Nếu một vở kịch đạt
được tất cả hoặc hầu hết các yếu tố thì đó là bi kịch đích thực, còn một vở kịch chỉ đạt được một hoặc một số ít các yếu tố trên thì
không phải bi kịch hiểu theo nghĩa chặt chẽ khái niệm thể loại này, trường hợp này ta gọi đó là các vở kịch có yếu tố bi kịch.
2.1.3.4. Một số đặc điểm tiêu biểu của bi kịch trong văn học Việt Nam
Trên cơ sở tổng hợp lí thuyết về thể loại bi kịch của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước và thực tiễn sáng tác bi kịch
Việt Nam thế kỷ XX chúng tôi rút ra một số đặc điểm tiêu biểu bi kịch Việt Nam,
1. Bi kịch trong văn học Việt Nam có đặc điểm giống với lí luận bi kịch thế giới ở các biểu hiện chung nhất về xung đột,
hành động, nhân vật và sự thanh lọc. Kết luận này khẳng định bi kịch trong văn học Việt Nam là một thể loại độc lập tồn tại bên
cạnh các kịch chủng khác như hài kịch và chính kịch…
2. Mặt khác, chúng ta cũng nhìn thấy những khác biệt của bi kịch Việt Nam so với bi kịch thế giới ở một số phương diện
như về vấn đề con người bình dân trong bi kịch. Ở đây thể hiện sáng tạo cách tân của một nền bi kịch non trẻ, nhưng đã có
những thành tựu bước đầu.
7
3. Trong luận án này chúng tôi chỉ nghiên cứu ba vấn đề cơ bản đó là xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh lọc. Các
vấn đề này sẽ được nghiên cứu cụ thể ở chương 2 và 3 trong luận án. Trên tinh thần chứng minh sự tồn tại của thể loại bi kịch trong
văn học Việt Nam và hơn nữa là những cách tân, đổi mới thể loại này ở trong thực tiễn sáng tác kịch của nước ta, chúng tôi cố gắng
tìm sự “lệch chuẩn” về đặc trưng thi pháp bi kịch và lí giải căn nguyên của sự biến đổi phát triển đó. Những vấn đề như hành động
bi kịch, ngôn ngữ bi kịch, không gian, thời gian… mặc dù không được tìm hiểu như là đối tượng nghiên cứu cơ bản nhưng luôn có
sự so sánh và lồng ghép trong từng vấn đề.
2.2. Khái quát về bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại
2.2.1. Lược sử quá trình hình thành và phát triển văn học kịch
Kịch nói ra đời là kết quả của tiếp xúc giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và văn hoá nghệ thuật phương Tây. Dưới thời Pháp
thuộc, sân khấu tuồng và sân khấu chèo không thể đáp ứng những nhu cầu đa dạng của công chúng ở các thành phố và nhất là
khán giả trong giới trí thức và thanh niên, là những khán giả đã chịu ảnh hưởng lớn của nền văn hoá phương Tây. Như vậy, có
thể nói vào thời kỳ đó trong nghệ thuật sân khấu đã xuất hiện một khoảng trống, và chính bộ môn nghệ thuật mới đã bộc lộ khả
năng thể hiện một nội dung nghệ thuật và xã hội mới có thể lấp đầy được các khoảng cách trống nói trên. Cùng với tiểu thuyết
hiện đại và phong trào thơ mới, văn học kịch góp phần quan trọng trong việc biến đổi tính cách và bộ mặt của văn học dân tộc
Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XX, làm cho văn học phong phú hơn, thúc đẩy văn học nước nhà hội nhập vào quá trình
phát triển của văn học thế giới.
nhân vật. Những hạn chế của tác phẩm làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của một vở kịch có vị trí khá quan trọng trong lịch
sử văn học, tác phẩm bi kịch đầu tiên. Vì thế các học giả có lý khi cho rằng Kim tiền chưa thực sự là một vở bi kịch đích thực mà
chỉ là một thể nghiệm bi kịch.
2.2.2.2. LƯU QUANG THUẬN: Yêu Ly - Sự đụng độ khốc liệt của các giá trị
Xung đột bi kịch trong kịch bản này là xung đột giữa mục đích và phương tiện trong hoạt động của con người, xung đột
giữa những giá trị này bị hy sinh vì những giá trị kia, xung đột giữa lòng tận tụy tuyệt đối phục vụ một sự nghiệp nhất định với
tính chính nghĩa rất tương đối của sự nghiệp ấy.
Về nhân vật, ở đầu tác phẩm, Yêu Ly có đầy đủ phẩm chất của một dũng sỹ trung đại, có trí, có nhân, có tín. Yêu ly là một
nhân vật mang đầy đủ các yếu tố để trở thành nhân vật bi kịch đích thực, một dũng sĩ tính cách cao cả, mắc phải lỗi lầm khủng
khiếp là sự nhầm lẫn lý tưởng mình theo đuổi, cuối cùng nhận ra tội lỗi của mình và tự trừng phạt bằng cái chết chuộc tội.
9
Sự thanh lọc, với Yêu Ly, người xem sửng sốt nhận ra sự hư vô của danh lợi, và chân lý có sự biến đổi không bao giờ là mãi
mãi, thần tượng và lí tưởng mình tôn thờ mục đích mà mình đã chọn sẽ có lúc phản thùng lại chính mình. Sự vĩnh cư bền vững
của lí tưởng là không thể. "Nhân vật nhận ra tính khả nghi của cái sự nghiệp mà mình theo đuổi, tính vô luân bất nghĩa của nhiệm
vụ mà y đã cam kết thực hiện" [8;tr101]. Con người bất hạnh ngay trong chính thành đạt của mình. Tuy vậy, sự hướng thiện và
biết nhận ra lỗi lầm, đặc biệt là chấp nhận sự thật triệt tiêu cái ác lại là giải pháp, cái chết của Yêu Ly đem lại sự xót xa thương
cảm cho người xem, và vẫn giữ cho chàng ở bên này bờ thiện.
Tác phẩm có những hạn chế sơ lược trong xây dựng nhân vật, cốt truyện vay mượn từ nước ngoài nên chưa vượt thoát khỏi
văn bản gốc để trở thành sáng tạo độc lập của nhà văn. Nếu vở kịch khắc phục được những hạn chế này thì Yêu Ly là một vở bi
kịch có giá trị nghệ thuật đặc sắc.
2.2.2 3. NGUYỄN HUY TƯỞNG: Vũ Như Tô," trái chín sớm tuyệt vời", là "bi kịch đích thực"
Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng được xem là một “bi kịch đích thực” (Phạm Vĩnh Cư). Cốt truyện kịch được xây dựng
từ câu chuyện lịch sử về người kiến trúc sự tài ba với khát vọng xây dựng cho nước Việt một kì đài hoa lệ, nhưng kết cục đã bị
giết trong cuộc bạo loạn của nhân dân nghèo đói nổi dậy chống lại vua Lê Tương Dực hung ác, hoang dâm.
Trong tác phẩm Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã dụng công xây dựng những biểu tượng cái đẹp và cái thiện. Thông
thường hai phạm trù này phải song hành, cùng tồn tại và tôn vinh lẫn nhau để cuộc sống toàn vẹn và mang đầy đủ vẻ đẹp nhân
sinh. Tuy nhiên, trong vở kịch này, tác giả đã xây dựng hai phạm trù này trong thế đối lập gay gắt, căng thẳng, và đương nhiên
nhân vật chỉ được chọn một. Với tư cách nghệ sỹ Vũ Như Tô phải chọn cái đẹp và tiêu diệt cái thiện, ngược lại với tư cách công
dân Vũ chọn cái thiện và triệt tiêu cái đẹp. Dù ở vị trí nào, chọn phạm trù nào Vũ cũng sẽ rơi vào kết cục bi thảm khi đối nghịch
các giá trị.
nét trong vở kịch, yếu tố thanh lọc. Vở kịch gợi ở người xem nỗi sợ hãi về cái ác thống lĩnh vẻ ngoài lương thiện, bạo lực bên
trong một bản lĩnh thông minh thì hậu quả thật ghê gớm. Khi linh hồn Tô Chiêm có một Quận Khung đó là con rắn độc, ghê tởm.
Giả định về lỗi lầm của Tô Chiêm và hậu quả bi thảm xảy ra vở kịch gieo vào tâm hồn chúng ta một triết lý về hạnh phúc: đó là
khi người ta nhận ra được sự thực, thấy rõ được chính mình.
b, Rừng trúc
Vở kịch viết về đề tài lịch sử, các nhân vật lịch sử đời nhà Trần như Thiên Cực công chúa, Trần Thủ Độ, Chiêu Thánh hoàng
hậu, công chúa Thuận Thiên, Trần Cảnh, Trần Liễu mỗi nhân vật đều có tính cách đậm nét, vượt lên bó hẹp khô cứng của chính
sử. Tác giả đã thành công khi xây dựng thành nhân vật văn học sống động với những bi kịch kiếp người đau đớn. Vở Rừng trúc là
11
tác phẩm mang đậm yếu tố bi kịch, Phan Trọng Thưởng trong bài viết” Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi và một số vấn đề lý luận
sáng tác về đề tài lịch sử”, đã tìm thấy tư tưởng quan trọng của vở diễn qua lời của nhân vật Chiêu Thánh “Việc nước là lớn nhất,
nhưng việc người với người cũng không phải là nhỏ hơn”, đồng thời tác giả cũng khẳng định tính chất bi kịch của vở diễn, ông viết:
“Ở một phương diện nào đó, có thể xem Rừng trúc là một bi kịch lịch sử. Tuy sân khấu không la liệt xác chết, tình huống cuối cùng
như bi kịch cổ điển Châu Âu; không khốc liệt bi hùng như tuồng truyền thống… nhưng vở kịch lại đẫm màu sắc bi kịch về quyền
lực của dòng họ và vương triều trước sự vận hành nghiệt ngã của quyền lực…” [ 98,Tr367].
c, Cái bóng trên tường, Người đàn bà hóa đá, Trương Chi
Các vở kịch này đều xây dựng trên cốt truyện văn học dân gian đã rất quen thuộc với người đọc. Đề tài này thể hiện cảm
hứng sáng tạo từ cội nguồn văn hóa dân tộc của tác giả. Nhưng điều đáng ghi nhận là khi viết về các tác phẩm trên, Nguyễn Đình
Thi đã sáng tạo, ông không khai thác tỷ mỉ chuyện xưa mà tiếp cận ở hai góc độ, một là ý nghĩa xã hội và nhân bản của xung đột
kịch, hai là mối liên hệ giữa cuộc sống hôm nay với những vấn đề của ngày qua.
Yếu tố bi kịch của các tác phẩm trên là nỗi thống khổ của thân phận con người, những lỗi lầm dẫn tới hậu quả kinh khủng.
Vở kịch gieo vào người xem nỗi sợ hãi vì những ngộ nhận, hiểu nhầm (Cái bóng trên tường) hay oan nghiệt của số phận (Người
đàn bà hóa đá).
2.2.2.6. NGUYỄN HUY THIỆP- “Quỷ ở với người”
Quỷ ở với người có cốt truyện xoay quanh 4 sự kiện Cấn lấy vợ, giỗ mẹ, bố ốm bệnh và qua đời, sinh đẻ con mà không xác
định được cha của đứa trẻ là ai trong 6 người đàn ông nơi tổ quỷ này, cuối cùng Khiêm, nhân vật chính của vở kịch cầm dao rượt
đuổi mọi người và đâm chết Tốn, rồi gục đầu bên xác em trai. Các sự việc này luôn được xây dựng trên hai chi tiết quan trọng là
vấn đề tiền bạc và thái độ của những người trong nhà, từ đó bộc lộ hết tính cách, nhân phẩm, hoặc cao cả, hoặc vô luân của từng
nhân vật.
Phạm Vĩnh Cư gọi vở kịch này là “bi hề kịch dân sinh” [5,tr126]. Ông viết: “Nếu xem kịch Gia đình hay là Quỷ sống với
cái đẹp và cái thiện, sự sống và cái chết, mục đích và phương pháp, tiền bạc, giàu có và đạo đức, hạnh phúc…
3.2.1. Xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh
Trong bi kịch kiểu xung đột này khá điển hình, đó là người có phẩm chất cao cả, tài hoa nhưng bối cảnh không thuận lợi để
hoàn thành sở nguyện xây kì đài cho dân tộc, nhân dân không hiểu không ủng hộ (Vũ Như Tô), người anh hùng không nhận thức
được sự thật đúng đắn về đối tượng mình phụng sự và kẻ mình tiêu diệt (Yêu Ly), nhân vật muốn được sống trọn vẹn, đúng nghĩa
13
và đích thực nhưng hoàn cảnh buộc phải chấp nhận cuộc sống chắp vá, vay mượn (Hồn Trương ba, da hàng thịt), xã hội đồng
tiền bóp chết gã hàn sĩ họ Trần, và cũng là đồng tiền lại nổ phát súng kết liễu cuộc đời gã tư sản Trần Thiết Chung (Kim tiền).
Trong vở Quỷ ở với người của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, nhân vật Khiêm, người con trai thứ ba trong gia đình năm anh
em trai. Nhân vật này theo lời của Quỷ, đó là nhân vật chính của vở, là chủ nhân thực sự của ngôi nhà, và vị vua thực sự của
nguyên phi trong ngôi nhà không có vua ấy. Nhưng với màn múa đao của tên đồ tể, chính là Khiêm, ở cuối tác phẩm đã cho thấy
con đường đến với khát vọng thức tỉnh lương tri con người và niềm tin vào tình thương có thể cứu chuộc con người thoát khỏi
bẫy quỷ của anh đã thất bại. Màn múa đao của tên đồ tể đã đẩy nhanh cái ác, cái xấu, dục vọng, đê tiện, tội ác, khổ đau thống lĩnh
hoàn toàn không gian 20 mét vuông của căn nhà có 7 mạng người, và rộng ra là không gian sinh tồn bí bách và đói khổ về vật
chất và ốm bệnh về tinh thần, đó là nguyên nhân của tội ác và khuyết mòn đạo đức.
3.2.2. Xung đột giữa cái đẹp và cái thiện
Trong tác phẩm Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã dụng công xây dựng những biểu tượng cái đẹp và cái thiện. Thông
thường hai phạm trù này phải song hành, cùng tồn tại và tôn vinh lẫn nhau để cuộc sống toàn vẹn và mang đầy đủ vẻ đẹp nhân
sinh. Tuy nhiên, trong vở kịch này, tác giả đã xây dựng hai phạm trù này trong thế đối lập gay gắt, căng thẳng, và đương nhiên
nhân vật chỉ được chọn một, với tư cách nghệ sỹ Vũ Như Tô phải chọn cái đẹp và tiêu diệt cái thiện, ngược lại với tư cách công
dân Vũ chọn cái thiện và triệt tiêu cái đẹp. Dù ở vị trí nào, chọn phạm trù nào Vũ cũng sẽ rơi vào kết cục bi thảm khi đối nghịch
các giá trị. Tính chất lưỡng tính của vấn đề làm nên vẻ đẹp trí tuệ cho vở kịch. Đồng thời, khẳng định được tính chặt chẽ của thi
pháp bi kịch thể hiện trong tác phẩm. Điều này giải thích vì sao Vũ Như Tô sớm trở thành vở bi kịch thực thụ của nền văn học
Việt Nam.
3.2.3. Xung đột giữa sự sống và cái chết
Kiểu xung đột giữa sự sống và cái chết biểu hiện khá rõ nét trong tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt. Đó là mâu thuẫn
cuộc sống ở mức đỉnh điểm buộc nhân vật phải lựa chọn chỉ một yếu tố giữa sự sống và cái chết, dù lựa chọn phía nào nhân vật bi
kịch cũng phải trả giá cho hành động của mình. Khi lựa chọn sự sống nhưng phải chắp vá vay mượn, Trương Ba đã không vui vẻ gì
dù được sống và sống sung túc hơn trước, thêm vợ thêm việc thêm bạn nhưng ông đã mất đi chính mình. Rồi khi chán ghét sự sống
vô nghĩa phiền toái, Trương Ba chọn được là chính mình bằng cách vĩnh viễn chết đi. Cái chết của Trương Ba là chấm dứt cho sự
15
Các tác phẩm Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Con nai đen ,Cái bóng trên tường của nhà văn Nguyễn Đình Thi Chi,
Quỷ ở với người của nguyễn Huy Thiệp đều sử dụng cách giải quyết xung đột do sự vận động nội tại của hành động kịch, chi tiết
gỡ nút kịch diến ra hợp lí, thuận chiều logic cuộc sống. Vì thế đảm bảo tính thuyết phục trong cách giải quyết xung đột kịch.
3.3.3. Giải quyết xung đột do sự tự ý thức của nhân vật
Yếu tố nhận biết rất quan trong trong vở bi kịch. Chỉ khi nhân vật nhận biết được chân tướng sự việc mới phán xét được công
tội của mình từ đó nhận ra sai lầm đã gây ra.
Cách giải quyết xung đột do sự nhận thức của nhân vật phản ánh đúng nhất sự phát triển cốt truyện và tính cách trong bi
kịch. Chỉ khi ý thức sâu sắc về sai lầm của hành động từ đó nhân vật bị dằn vặt khổ đau và quyết định chuộc tội. Sai lầm càng
nghiêm trọng, mức độ chuộc tội càng ghê gớm, trả giá bằng mạng sống của chính mình là cách chuộc tội kinh điển trong bi kịch.
Yêu Ly, nhận biết sự bất tín bất trí bất nghĩa của mình, Trương Ba nhận biết sự vô nghĩa của cuộc sống vay mượn chắp vá, từ đó
trút bỏ tất cả sự giả dối sai lệch để trở về với chính mình, đó là cách sửa sai chân chính nhất. Người chồng nhận ra vợ của mình
chính là em gái bị thất lạc thủa lên ba, anh ta đã đau khổ vô cùng trước những trớ trêu của số phận (Người đàn bà hóa đá).
3.4. Tiểu kết
Tóm lại, xung đột là yếu tố quan trọng bậc nhất trong tác phẩm bi kịch. Sự khác biệt giữa xung đột bi kịch với xung đột hài
kịch và xung đột chính kịch ở chỗ xung đột bi kịch mang tính chất lưỡng tính, nhân vật là người cao cả mang lỗi lầm bi kịch, do
đó nhân vật vừa có công vừa có tội, vừa đáng thương vừa đáng trách; xung đột bi kịch dẫn đến kết thúc bi thương, đẫm máu,
nhân vật phải trả giá lỗi lầm bằng chính sinh mạng của mình; hiệu ứng bi kịch mang lại là nước mắt của người xem, là sự lo sợ
thương cảm của họ cho số phận nhân vật. Ở hài kịch, hoàn toàn ngược lại tính chất xung đột mặc dù cũng mang tính chất lưỡng
tính, nhân vật không hoàn toàn xấu cũng không hoàn toàn tốt, nhưng kết thúc vở kịch xung đột được giải quyết theo xu thế cái
xấu bị triệt tiêu gây nên tiếng cười hả hê cho người xem; Ở chính kịch, xung đột chủ yếu phân giới rạch ròi giữa thiện - ác, tốt -
xấu, chính diện - phản diện, không có tính chất lưỡng tính. Kết thúc là sự chiến thắng của cái thiện, cái tốt, chính diện; hiệu quả
của vở kịch giúp củng cố cho người xem niềm tin vào chính nghĩa theo triết lí “ở hiền gặp lành”.
Các kiểu xung đột bi kịch: Xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh; xung đột sống và chết; xung đột giữa cái thiện và cái
đẹp; Xung đột giữa tiền bạc, giàu có và đạo đức, hạnh phúc. Các cách giải quyết xung đột: Giải quyết xung đột bằng thế lực thứ
ba, bên ngoài; giải quyết xung đột do sự vận động nội tại vở kịch; giải quyết xung đột do sự ý thức của nhân vật.
Những vở bi kịch tiêu biểu trong văn học Việt Nam (Kim tiền của Vi Huyền Đắc, Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, Vũ Như
Tô của Nguyễn Huy Tưởng, Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu Quang Vũ) thực sự có nhiều đóng góp về phương diện thi
pháp thể loại. Các tác phẩm này thể hiện được rất cụ thể xung đột bi kịch ở các phương diện như đặc điểm, kiểu loại và cách giải
16
với cái đẹp cao cả (Vũ Như Tô),lòng nhân đạo tha hóa bởi bạc tiền (Kim tiền). bị cuốn vào sự vô nghĩa của cuộc tranh đoạt vương
quyền (Yêu Ly), linh hồn bị đánh tráo (Con nai đen )…
Tóm lại, đặc tính sai lầm trong tư duy và hành động của nhân vật bi kịch luôn là đặc tính có ý nghĩa cốt tử làm nên tính
cách bi kịch. Những con người phẩm chất cao cả mang lỗi lầm bi kịch tạo nên tính bi thương, tức là nỗi sợ hãi và xót thương diễn
ra trong quá trình thanh lọc ở khán giả. Lỗi lầm của họ làm người xem lo sợ và sự trả giá cho lỗi lầm ấy lại làm cho người xem
xót thương vì sự băng hoại của các giá trị và sự thức tỉnh của nhâm vật giúp họ tin vào sự hướng thiện, niềm lạc quan với cuộc
sống. Lỗi lầm bi kịch, vì thế trở thành một yêu tố quan trọng trong bi kịch.
4.2.2. Kiểu nhân vật bi kịch không được là chính mình
Điển hình cho kiểu nhân vật bi kịch không được là chính mình là Trương Ba trong vở Hồn Trương Ba, da hàng thịt của lưu
Quang Vũ. Nhân vật Trương Ba ban đầu là một người đáng quý về nhân cách, và sở dĩ đáng quý bởi vì sự tương thích giữa một
tâm hồn thanh cao với thể xác của lão nông hiền lành mộc mạc. Sự đánh mất chính mình là thảm họa diệt vong. Đáng lo sợ thay
vì trong xã hội điều này lại rất phổ biến. Sẵn sàng bán mình vì lợi ích và ham muốn lại trở thành tâm lí phổ biến, đông đảo người
dấn thân. Dù ngụy biện cho mình thế nào, dù đưa ra lí do gì, thì bản thân việc đánh mất chính mình cũng không thể xem là việc
sạch thơm được nữa. Đáng tiếc, là chỉ Trương Ba mới dám chấp nhận từ bỏ cuộc sống đẹp tươi, lí do để ông sẵn sàng sống với
bất cứ giá nào, thì đó cũng chính là lí do để ông buông bỏ, vì cuộc sống tốt đẹp cần phải có những con người yêu bản thân mình
nghĩa là biết yêu con người thật của mình. Thương cho Trương Ba và thương cho triệu triệu kiếp người tha hóa. Đặt ra vấn đề
mang tính nhân loại, tác giả Lưu Quang Vũ đã viết được một vở kịch không chỉ có ý nghĩa một thời mà còn có ý nghĩa muôn đời,
toàn nhân loại.
4.2.3. Kiểu nhân vật đam mê mù quáng
Trong vở Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, nhân vật Yêu Ly được xây dựng với niềm đam mê trả thù báo quốc. Khát vọng
sống bằng mọi giá là đam mê đầy bi kịch của nhân vật Trương Ba. Nhân vật Vũ Như Tô lại mang một dục vọng khác, đó là niềm
đam mê nghệ thuật. Trần Thiết Chung trong vở Kim tiền là nhân vật đam mê tiền bạc.
Tóm lại, đam mê trong nhân vật bi kịch là động lực của hành vi dẫn đến lỗi lầm bi kịch. Vì thế, kiểu nhân vật đam mê với
tính cách quyết liệt chiếm đoạt mục tiêu và giá trị trong cuộc sống; chủ động dấn thân nhằm thoả mãn cao nhất niềm đam mê của
mình, bất chấp hậu quả. Trong các vở kịch chúng ta đã khảo sát ở trên, tất cả các nhân vật đều thể hiện niềm đam mê cao độ của
18
mình, đó là niềm ham sống ở Hồn Trương Ba, đam mê tiền bạc của Trần Thiết Chung, khát vọng trả thù của Yêu Ly và niềm đam
mê nghệ thuật cao viễn của Vũ Như Tô.
4.2.4. Kiểu nhân vật chấp nhận hi sinh, đối nghịch hóa các giá trị
Một trong những yếu tố làm nên bản chất của nhân vật bi kịch chính là người mang những lỗi lầm trong nhận thức và hành
Macbet, của Sechkspia… Đối sánh như vậy chúng ta dễ dàng thấy được sự khác biệt thể loại bi kịch của văn học Việt Nam với bi
kịch của các dân tộc khác trên thế giới trong việc xây dựng nhân vật, tuyệt nhiên thể loại bi kịch trong văn học Việt không từng
có bóng dáng của giai cấp quý tộc.
Tuy vậy, nhân vật bi kịch trong văn học Việt Nam vẫn là con người cao cả ở bình diện thứ hai, con người có phẩm chất đạo
đức, lương thiện, tài hoa, tâm hồn cao khiết, tài năng, trí tuệ siêu việt, thiện tâm toả sáng, nhân cách cứng cỏi. Nhân vật Trần
Thiết Chung vốn có tiền thân là một văn nhân tài năng, yêu nghề, tự trọng và lương thiện, hắn biết phỉ báng những thói mọt và cố
giữ cho lành lặn tâm hồn. Ông Trương Ba, lão nông phu chuyên làm vườn trồng cây, yêu cây như thân thể của mình, lão nông
giỏi đánh cờ mà tài nghệ của ông chỉ so được với tiên cờ Đế Thích, lão sống thanh bạch đạm bạc gần gũi xóm làng, Vũ Như Tô,
một thợ cả tài hoa, người ngàn năm có một. Như vậy, nhân vật bi kịch trong văn học Việt Nam không chú trọng xuất thân là quý
tộc hoặc là thành tựu tích lũy của cải giàu có hay địa vị cao sang trong xã hội mà chú trọng tới vẻ đẹp tinh thần, sự cao quý ở
bình diện tâm hồn và trí tuệ.
Xã hội Việt Nam về cơ bản là xã hội thuần nông, chiếm đại đa số trong các giai tầng là nông dân, người nghèo. Hầu như ở
ta không có giai cấp quý tộc hiểu theo nghĩa chính xác của từ này. Người sáng tác bi kịch ở ta cũng là những nhà văn không xuất
thân từ quý tộc, ít hiểu biết đời sống xã hội thượng lưu và đương nhiên cảm thức con người trong giai cấp khác trở nên xa lạ, nếu
tìm hiểu chỉ là sự nhập vai, đóng thế không thể như ý nghĩ của người trong cuộc, lại càng không thể thành thục như khi họ viết về
chính mình. Quan niệm nghệ thuật về con người, người bình dân trong văn học, đã có một vệt dài từ sân khấu truyền thống, đặc
biệt là chèo. Cách xây dựng nhân vật bình dân trong các tác phẩm bi kịch của văn học Việt và nghệ thuật chèo rất gần gũi, tương
đồng với nhau. Điều này khẳng định mối liên hệ, ảnh hưởng của văn hóa truyền thống trong việc tiếp thu thể loại văn học mới mẻ
du nhập từ phương Tây xa lạ. Vấn đề dân tộc và hiện đại thể hiện rõ nét trong sự giao thoa và tiếp biến này.Đặc biệt, trong tâm
thức văn hóa ứng xử của người Việt luôn mong muốn sửa đổi và cải biến các yếu tố bên ngoài để giữ bản sắc nội sinh. Tư thế
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, là sự tiếp biến có ý nghĩa như một nét truyền thống ngàn đời.
20
Qua việc nghiên cứu vấn đề con người bình dân trong bi kịch chúng ta khẳng định sự mới mẻ độc đáo của thể loại bi kịch
trong văn học Việt Nam so với nền bi kịch của nhân loại. Chúng minh sức sống văn học Việt trong bối cảnh giao lưu, hội nhập
với văn học thế giới.
4.3. Vấn đề thanh lọc trong các tác phẩm bi kịch văn học Việt Nam hiện đại
4.3.1. Khái niệm về sự thanh lọc
4.3.1.1. Thanh lọc là gì?
Thanh lọc (Catharsis) theo quan niệm của Aristote: vấn đề thanh lọc là một tác động mang tính xúc cảm của bi kịch đối với
người xem. Trong sự giải thích của mình về sự thanh lọc, Aristote trình bày ngắn gọn như sau: nhờ sự lo sợ và thương cảm bi
không có ý nghĩa lạc quan thì đó là bi thương, bi lụy nhưng chưa phải là bi kịch” và Vygotski cho rằng “Tai biến đồng thời báo hiệu
tột đỉnh sự tiêu vong và tột đỉnh sự thắng lợi của nhân vật”. Do đó, vượt lên trên những nỗi đau là niềm tin cho khán giả, như những
bài học sâu sắc về cuộc sống mà họ tiếp thu từ những mất mát của lịch sử, để có thái độ ứng xử thích hợp, để làm sao cho mình
không thành một bản nháp đáng buồn”. Bi kịch chuẩn bị cho con người một tư thế quả cảm sẵn sàng chịu đựng những trường hợp
nguy nan hiểm họa nhất và gieo mầm ngay từ những hiểm họa đó, sự sẵn sàng xem mình là người hạnh phúc khi mà so sánh những
nỗi bất hạnh của mình với cái nỗi khủng khiếp ngàn lần hơn mà bi kịch đã miêu tả” [87,tr74].
4.3.2.2. Thanh lọc đối với nhân vật bi kịch
Bi kịch chỉ hoàn thành chức năng của mình khi nhân vật có khả năng gây nên sự thương cảm ở chúng ta. Mặt khác khi
nhân vật nhận thức về lỗi lầm để dẫn đến một trả giá chuộc tội đó là sự thanh lọc của một bi kịch thực thụ.
Nhân vật Yêu ly nhận ra mình là kẻ Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân. Chàng hiệp sĩ tự kết án mình và nhận cái chết
đền tội đối với vợ con, bạn hữu và với chính mình. Đó là sự trả giá cao nhất cho những lầm lạc của người anh hung. Cái chết đã
thanh lọc cho Yêu Ly khỏi tiếng nhơ muôn thủơ, ta không còn nê chấp một linh hồn từng lạc lối vi phạm những lỗi lầm ghê gớm
mà chỉ còn lại một niềm tiếc thương và hơn hết ta hiểu sự lầm lạc của Yêu Ly, sự tôn thờ thần tượng và xả thân vì nghĩa, sự hoài
nghi về lí tưởng có ngay ở trong mỗi chúng ta, và có thể ta sẽ lầm lạc một lúc nào đó.
Nhân vật Trương Ba, sau khi nhận ra sự vô nghĩa của kiếp sống chắp vá hồn một người xác là người khác đã lựa chọn sự
giải thoát là xin được chết hẳn từ bỏ vĩnh viễn cuộc sống hồn nọ xác kia. Cái chết vĩnh viễn của Trương Ba về thực chất là làm
ông bất tử, trong lòng người thân và trong hoa trái khu vườn cuộc đời. Cái chết của ông trả lại cho chính ông sự gột rửa của
những nhầm lẫn mà ông ban đầu tham dự với vai bị hại phải chấp nhận kiểu cố đấm ăn xôi, nhưng thực chất lỗi lầm của ông là
22
lòng ham sống bằng mọi cách, kể cả cách sống kí sinh vào xác kẻ khác. Qua sự thức tỉnh của Trương Ba ta quý ông vô ngần, bởi
dũng cảm chấp nhận sửa sai bằng cách đúng nhất chính là từ bỏ vĩnh viễn cái sai ban đầu, hơn thế ta tự hỏi, chính mình có được
sự buông bỏ như ông Trương Ba?
Hai nhân vật Yêu Ly và Trương Ba có thể so sánh với Ê đíp làm vua ở giây phút bừng ngộ, tất cả họ đều được gột rửa tội
lỗi bằng cách nhận ra sự lạc lầm của mình, nhận ra hành động lỗi lầm ấy đã gây ra hậu quả ghê gớm và họ chuộc tội bằng chính
mạng sống của mình.
Nhân vật Trần Thiết Chung và Vũ Như Tô chưa được xem là nhân vật bi kịch chuẩn mực trên phương diện này. Họ không
nhận ra sai lầm dẫn tới bi kịch và kết cục đem lại không phải sự tự trừng phạt mà đích thị là sự quả báo tất yếu đem lại từ bên
ngoài. Trần Thiết Chung chết do một phát súng nào đó từ đám đông thợ thuyền đình công, còn Vũ Như Tô bị đem ra pháp trường
xử trảm bởi phe đối lập, cho đến khi chết Vũ vẫn còn đau đáu niềm tin mình không có tội gì ngoài khát vọng xây cho đât nước
một kì đài. Tuy vậy cái chết của họ gây nên được những hiệu ứng bi kịch cho người xem, nên cảnh giác với những dục vọng mù
đem lại là sự nhận thức giác ngộ của người xem và tự xác định được cho mình một lựa chọn đúng, khác với lầm lẫn đã dẫn đến bi
kịch diễn ra trên sân khấu. Hơn hết, sau nỗi lo sợ và thương cảm với kết thúc bi thảm trong vở diễn sẽ thanh lọc cảm xúc bi kịch
của người xem, đó là niềm lạc quan.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở giải quyết các vấn đề đặt ra (mục 4.1b) qua bốn chương của luận án, chúng tôi đi đến những kết luận như sau:
1. Vấn đề thứ nhất, về sự tồn tại bi kịch:
Qua các công trình đề cập đến vấn đề bi kịch trong Văn học Việt Nam, hiện vẫn có hai loại ý kiến: một số nhà nghiên cứu
cho rằng không có bi kịch tồn tại như một thể loại mà chỉ có tác phẩm kịch mang yếu tố bi kịch; khuynh hướng thứ hai khẳng
định sự tồn tại của thể loại bi kịch.
Về khung lý thuyết xây dựng đề tài, trên quan điểm tiếp cận từ góc độ thi pháp thể loại, có thể thấy bi kịch là thể loại kịch
ra đời sớm, có nội dung bi thương, thường kết thúc bằng sự thất bại, hoặc sự hi sinh của nhân vật chính diện. Bi kịch được xây
dựng trên các đặc trưng như: Xung đột bi kịch, Nhân vật bi kịch, Ngôn ngữ bi kịch, Hành động bi kịch, Không gian- thời
gian Các tác phẩm bi kịch trong văn học Việt Nam hiện đại, trong phạm vi khảo sát của đề tài, đều mang những đặc trưng đã
nêu trên.
24
Qua việc khảo sát tư liệu và xây dựng luận chứng trong luận án, chúng tôi khẳng định trong văn học Việt Nam hiện đại bi
kịch đã xuất hiện và tồn tại với tư cách là một thể loại độc lập bên cạnh chính kịch và hài kịch. Sự ra đời, phát triển thể loại bi
kịch ở Việt Nam góp phần thúc đẩy nhanh qúa trình hiện đại hoá văn học, đưa văn học Việt Nam nhanh chóng giao lưu hoà nhập
với văn học thế giới bằng cách du nhập một thể loại văn học có nguồn gốc phương Tây. Sự tồn tại của thể loại bi kịch làm giàu
có hơn kho tàng kịch chủng của Việt Nam, vốn rất đặc sắc bởi các kịch chủng truyền thống, đồng thời là sự Việt hoá một thể loại
du nhập xa lạ thành gần gũi với cách cảm của người xem nước Việt. Mặt khác, bên cạnh những tác phẩm là đỉnh cao bi kịch, là bi
kịch đích thực thì vẫn có những tác phẩm chỉ mang một số yếu tố bi kịch.
2. Vấn đề thứ hai, về một số đặc trưng của bi kịch (hay các yếu tố làm nên một bi kịch) trong văn học Việt Nam hiện đại. Ở
phương diện này, chúng tôi nghiên cứu đặc trưng bi kịch với các biểu hiện như: xung đột bi kịch, nhân vật bi kịch và sự thanh
lọc…
2.1. Xung đột là yếu tố quan trọng bậc nhất trong tác phẩm bi kịch. Sự khác biệt giữa xung đột bi kịch với xung đột hài kịch
và xung đột chính kịch ở chỗ xung đột bi kịch mang tính chất lưỡng tính, nhân vật là người cao cả mang lỗi lầm bi kịch, do đó
nhân vật vừa có công vừa có tội, vừa đáng thương vừa đáng trách; xung đột bi kịch dẫn đến kết thúc bi thương, đẫm máu, nhân
vật phải trả giá lỗi lầm bằng sự đổ vỡ mà cao nhất là trả giá bằng chính sinh mạng của mình; hiệu ứng bi kịch mang lại là nước
mắt của người xem, là sự lo sợ thương cảm của họ cho số phận nhân vật. Xung đột ở hài kịch và chính kịch khác với những đặc