MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng quân đội và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội luôn là
vấn đề trọng yếu, là yêu cầu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc trong quá
trình tồn tại và phát triển. Đặc biệt, trong thời đại hiện nay, khi mà những
cuộc “chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy
đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi…”
[25,14], với chính sách cường quyền ngày càng lộ rõ và chiến lược toàn cầu
của chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là Mỹ, vấn đề nâng cao sức mạnh chiến đấu
của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay càng trở lên cấp thiết.
Sức mạnh chiến đấu của đội quân cách mạng là sức mạnh tổng hợp do
nhiều yếu tố tạo thành, đó là sự kết hợp biện chứng giữa yếu tố vật chất và
yếu tố tinh thần, giữa con người và vũ khí, khoa học nghệ thuật quân sự và
kỹ năng chiến đấu, sức khoẻ của bộ đội… Trong đó, con người giữ vai trò
quyết định. Do vậy, để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội phải giải
quyết tốt yếu tố con người, trước hết là mối quan hệ giữa số lượng và chất
lượng con người, đây là hai mặt hợp thành yếu tố con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cũng như lịch sử xây dựng,
trưởng thành và chiến thắng của quân đội ta đã khẳng định rằng, việc giải
quyết tốt mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao
sức mạnh chiến đấu của quân đội là nhân tố hàng đầu tạo nên sức mạnh
chiến đấu phi thường của quân đội, để đánh bại nhiều đội quân xâm lược có
tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, đặc biệt là hai đội quân đế quốc trong
nửa cuối thế kỷ 20.
Ngày nay, khi đất nước chuyển từ thời chiến sang thời bình, nhiệm vụ
nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng quy luật lượng - chất, tác giả muốn đi sâu
nghiên cứu và làm rõ mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người
nhằm góp phần hoàn thiện yếu tố con người trong nâng cao sức mạnh chiến
đấu của quân đội, xây dựng quân đội ta cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và
từng bước hiện đại.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu nhân tố người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là một
vấn đề cơ bản, có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình xây dựng quân đội. Từ
trước đến nay, nó luôn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành
khoa học, trong đó có Triết học.
Với thế giới quan và phương pháp luận khoa học, khi nghiên cứu về
chiến tranh và quân đội, C.Mác, Ph. Ăng ghen và V.I.Lê nin đã đã có nhiều
tư tưởng sâu sắc về yếu tố con người trong sức mạnh chiến đấu quân đội.
Trong đó, các Ông đã đề cập đến những tư tưởng cơ bản về mối quan hệ
giữa số lượng và chất lượng con người, đến sự chuyển hoá giữa số lượng và
chất lượng con người trong quá trình tạo thành sức mạnh chiến đấu của quân
đội. Đó là những tư tưởng lý luận quý báu, làm cơ sở khoa học để nâng cao
sức mạnh chiến đấu, xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.
Trong những năm vừa qua, trên thế giới đã có nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về yếu tố con người, nghiên cứu mối quan hệ giữa lượng và chất
trong lĩnh vực quân sự. Đáng chú ý là: “Những biến đổi về lượng và chất
trong lĩnh vực quân sự” của I.A.Gru-đi-nhin, trong cuốn: “Phép biện chứng
và lĩnh vực quân sự hiện đại”, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội,
1976;
Ở nước ta, thời gian gần đây, cũng có một số đề tài tập trung nghiên cứu
về con người, về chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội. Cụ thể như: “Mối quan hệ biện chứng giữa con người và vũ khí trong
sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”, luận án
+ Đề xuất một số giải pháp cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa số
lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân
đội ta hiện nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê
nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, các chỉ thị, nghị
quyết của Đảng uỷ quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị
về xây dựng quân đội. Luận án kế thừa các bài viết, bài nói của một số đồng
chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và quân đội; các công trình nghiên cứu
khoa học của nhiều tác giả trong và ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề
tài nghiên cứu.
Luận án xuất phát từ tình hình thực tiễn của các đơn vị trong quân đội,
các hoạt động tổ chức và xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay, từ thực
trạng mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người, cũng như những
mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình giải quyết mối quan hệ giữa số lượng và
chất lượng con người trong quân đội ta hiện nay.
Luận án sử dụng hệ thống phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: lô gích - lịch sử; phân tích - tổng
hợp, quy nạp - diễn dịch và một số phương pháp khác: khảo sát, điều tra xã
hội, tổng kết thực tiễn...
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
- Luận án góp phần làm rõ các khái niệm số lượng, chất lượng con người
và mối quan hệ biện chứng của nó trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
ta; bước đầu khái quát một số vấn đề có tính quy luật trong giải quyết mối
quan hệ giữa số lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ giữa số
lượng và chất lượng con người trong nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân
lùi cuộc tiến công của địch” [13, 477]. Theo đó, sức mạnh chiến đấu của
quân đội tồn tại ở hai dạng: 1. Tiềm năng bảo đảm sẵn sàng chiến đấu
(sức mạnh tiềm tàng), 2. Sức mạnh chiến đấu thực sự trên chiến trường
(mức độ hoàn thành các mục tiêu chiến lược, các nhiệm vụ chiến đấu
chủ yếu của quân đội).
Gần đây, có tác giả đã xác định: Sức mạnh chiến đấu của quân đội là
tổng hợp các yếu tố vật chất và tinh thần nói lên trình độ sẵn sàng chiến đấu
và khả năng hoàn thành các nhiệm vụ đấu tranh vũ trang và đấu tranh
chính trị - tư tưởng [34, 15].
Quan niệm này đã có sự phát triển mới và tương đối phù hợp với thực
tiễn xây dựng quân đội hiện nay. Sức mạnh chiến đấu của quân đội là khả
năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi trên cả mặt trận
quân sự và chính trị, cả vũ trang và phi vũ trang bảo vệ độc lập chủ
quyền toàn vện lãnh thổ đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ
chính quyền nhà nước, bảo vệ nhân dân. Trong thời bình, sức mạnh chiến
đấu của quân đội biểu hiện ở khả năng góp phần bảo đảm hoà bình, sự ổn
định, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để phát triển đất nước, làm
thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. Khi chiến tranh xảy ra, sức
mạnh chiến đấu của quân đội thể hiện ở hiệu suất chiến đấu, ở kết quả
hoàn thành các nhiệm vụ được giao, ở khả năng giành thắng lợi trên
chiến trường.
Về cấu trúc sức mạnh chiến đấu của quân đội, phần lớn các kết quả
nghiên cứu đều thống nhất cho rằng, sức mạnh chiến đấu của quân đội được
tạo thành từ các yếu tố cơ bản là: Quân số với cơ cấu tổ chức, biên chế; yếu
tố chính trị, tinh thần và kỷ luật; số lượng và chất lượng vũ khí, trang bị kỹ
thuật; trình độ huấn luyện và thể lực; trình độ khoa học và nghệ thuật quân
sự; bản lĩnh lãnh đạo và trình độ tổ chức chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan
trong quân đội [105, 200].
Để có nhận thức đầy đủ về số lượng và chất lượng con người trong sức
mạnh chiến đấu của quân đội, trước hết cần làm rõ quan niệm chung về
số lượng và chất lượng.
Số lượng và chất lượng là những khái niệm được sử dụng rất rộng rãi
trong đời sống xã hội, trong các môn khoa học tự nhiên cũng như trong triết
học, do vậy đã có khá nhiều cách diễn đạt khác nhau về hai khái niệm này.
Theo nghĩa thông thường: ‘’Số lượng là con số biểu thị sự có nhiều hay ít
của các sự vật’’ [126, 835]. Theo nghĩa này, số lượng được hiểu như những
con số cụ thể, phản ánh về một mức độ nào đó của sự vật. Quan niệm khác
cho rằng: “Số lượng là biểu hiện những mức độ khác nhau, những giai đoạn
phát triển và sự cấu tạo về lượng của sự vật hiện tượng” [108, 152]. Cách
khái quát trên đã phân biệt được số lượng và lượng của sự vật hiện tượng,
nhưng chưa nói rõ nội hàm cơ bản của số lượng. Một số tác giả khác lại
đồng nhất số lượng với lượng của sự vật hiện tượng, khi cho rằng: “Số lượng
- Đó là trình độ phát triển của sự vật, hiện tượng nói chung và của những đặc
điểm riêng của nó, đó là tính quy định của sự vật hiện tượng về mặt đại
lượng, khối lượng, trình độ, nhịp điệu phát triển, tốc độ v. v..” [42, 148].
Để có quan niệm chính xác và đầy đủ hơn về số lượng, cần phải trở lại
với những tư tưởng cơ bản của C.Mác, Ph.Ăng ghen và V.I.Lênin. Trong tác
phẩm “Biện chứng của tự nhiên”, khi bàn về số lượng và chất lượng, Ph.Ăng
ghen viết: “Số lượng và chất lượng, số là một sự quy định thuần tuý nhất về
lượng mà chúng ta được biết. Nhưng nó cũng chứa đầy những sự khác nhau
về chất” [4, 756]. “Mọi chất lượng đều có vô vàn những sự khác nhau về số
lượng, ví dụ những sắc thái của màu sắc, độ cứng và độ mềm, độ bền v.v..
và mặc dù các mức độ ấy khác nhau về chất nhưng chúng đều đo được và
nhận thức được” [4, 722]. Còn trong tác phẩm “Bút ký triết học’’ khi xác
định khái niệm lượng, V.I.Lênin cũng viết: “Lượng, mà trước hết là tính số
lượng với một tính quy định nào đó hay với một giới hạn nói chung, trong
nghiên cứu và trong hoạt động thực tiễn mà thôi, chẳng hạn như : số âm, số
dương, số ảo, số phức... Còn với khái niệm số lượng thì rõ ràng phải phản
ánh về một tập hợp các sự vật hiện tượng cụ thể, bao quát một loại thuộc
tính, một loại sự vật trong thế giới vật chất, phản ánh một mức độ nào đó về
sự vật. Chẳng hạn: số lượng học sinh, số lượng đảng viên, số lượng sản
phẩm, dân số...
Từ luận giải trên, có thể quan niệm số lượng là một biểu hiện của tính
quy định về lượng của sự vật hiện tượng, được biểu thị ở những con số cụ
thể, nói lên mức độ khác nhau và sự cấu tạo về lượng của sự vật hiện tượng
trong thế giới vật chất.
Đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm chất và chất
lượng, có quan niệm đồng nhất chất với chất lượng của sự vật hiện tượng.
Theo họ, chất phải được hiểu là chất lượng của sự vật hiện tượng, là “tên gọi
tắt của chất lượng” mà thôi [10 ]. Nhưng theo chúng tôi, nên có sự phân biệt
chất với chất lượng của sự vật hiện tượng. Khi bàn về khái niệm chất, V.I.lê
nin đã viết: “Tính quy định, cô lập vì mình với tư cách là cái hiện có, đó là
chất”, “Chất được phân biệt như là cái hiện có, đó là thực tại” [49,114]. Như
vậy, theo V.I.Lênin, chất là tính quy định của sự vật, hiện tượng, là sự tồn tại
với tư cách là cái hiện có, quy định chiều hướng vận động, phát triển của sự
vật, hiện tượng. Khi tính quy định về chất mất đi thì sự vật, hiện tượng cũng
thay đổi theo. Chất là cái cấu tạo nên sự vật hiện tượng, cái để phân biệt sự
vật hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác [127, 138]. Như vậy, “chất là
một phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính, làm cho nó là nó mà
không phải là cái khác” [45, 307]. Còn chất lượng là một biểu hiện cụ thể
tính quy định về chất của sự vật hiện tượng, nó thường gắn với độ tốt xấu
của sự vật hiện tượng, với tính hiệu quả trong hoạt động của con người.
Chất lượng là “cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật
của quân đội. “Các lực lượng vũ trang không phải là một tổng số đơn giản,
mà là một thể thống nhất, nhất định của những người có vũ trang được tổ
chức lại theo một cách thích hợp, là một hệ thống chặt chẽ có cơ cấu rõ ràng
và chỉ huy tập trung” [98, 228]. Mỗi con người tham gia vào tổ chức đó có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất trong một
tổ chức quân đội.
Số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội được xem
xét ở các cấp độ khác nhau: Ở cấp độ tổng thể cho ta nhận thức được
tổng quân số có trong biên chế của quân đội. Ở cấp độ cụ thể, nó phản
ánh quân số cụ thể của từng đơn vị, từng quân chủng, binh chủng trong
quân đội; phản ánh mối tương quan tỉ lệ giữa cán bộ, sĩ quan với chiến sĩ;
giữa sĩ quan sơ cấp, sĩ quan trung cấp và sĩ quan cao cấp; giữa cán bộ
chính trị, cán bộ quân sự và các loại cán bộ khác; giữa đơn vị với cơ
quan, giữa lực lượng thường trực chiến đấu với lực lượng dự bị động
viên, giữa lực lượng trực tiếp chiến đấu với lực lượng phục vụ chiến đấu
trong quân đội nói chung và trong từng quân chủng, binh chủng nói
riêng.
Yêu cầu tinh giảm về số lượng, xây dựng “quân số hợp lý” không chỉ là
hạ thấp tổng số con người tham gia quân đội, mà còn là ở chỗ bố trí, sắp xếp
và tổ chức lại các lực lượng bộ đội trong các quân khu, quân đoàn, các đơn
vị trong toàn quân. Điều chỉnh tỷ lệ giữa số lượng cán bộ với chiến sĩ, giữa
lực lượng thường trực với lực lượng dự bị động viên, giữa các vùng, miền
của đất nước một cách phù hợp để nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân
đội.
Từ phân tích trên, cho phép khẳng định: số lượng con người trong sức
mạnh chiến đấu của quân đội là khái niệm chỉ tổng số quân nhân có
trong biên chế của quân đội, được sắp xếp và liên kết lại với nhau theo
khu, quân đoàn v.v.. Tuy nhiên, số lượng con người trong
sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố quan trọng nhằm
xác định lên tính quy định về lượng con người trong sức
mạnh chiến đấu của quân đội. Sự biến đổi về mặt số lượng
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội quy định
trực tiếp đến sự biến đổi về lượng con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
Đối với mỗi quân đội, số lượng này được tổ chức ra nhiều hay ít không
phải do sự áp đặt chủ quan, tuỳ ý của các giai cấp, nhà nước tổ chức ra
nó. Việc xác định số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội phải tương ứng với một trình độ chất lượng của những con người ấy;
phù hợp với trình độ phát triển của vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân
đội; với tổ chức, biên chế của mỗi quân đội; với điều kiện kinh tế, tình
hình dân số và sự phát triển dân trí của đất nước. Việc xác định số lượng
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội xuất phát từ chiến lược
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, từ nhiệm vụ quốc phòng an ninh, từ mục
tiêu, phương hướng xây dựng quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang của
mỗi quốc gia, dân tộc nhằm đảm bảo cho quân đội hoàn thành thắng lợi
mọi nhiệm vụ được giao.
Việc xác định số lượng con người tham ra quân đội phải căn cứ vào mối
quan hệ giữa nhiệm vụ quốc phòng an ninh và nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội của đất nước, trên cơ sở phân tích đúng âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, các
đối tượng tác chiến của quân đội trong hiện tại và tương lai; trong thời bình
và khi có chiến tranh xảy ra nhằm đảm bảo cho quân đội hoàn thành thắng
lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Số lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội được xác
định phải phù hợp với vũ khí, trang bị kỹ thuật trong quân đội. Việc xác định
số lượng con người trong điều kiện vũ khí, trang bị kỹ thuật thô sơ khác với
của quân đội”. Chất con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội là
tổng hợp các mặt, các thuộc tính quy định phẩm chất chiến đấu, khả năng
chiến đấu của con người trong quân đội; bao gồm phẩm chất chính trị, ý chí
chiến đấu, tính tổ chức kỷ luật, trạng thái tâm lý, kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu,
sức khoẻ… Trên cơ sở các yếu tố cấu thành chất con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội để xác định các yếu tố hợp thành chất lượng con
người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội. Đó là: sự giác ngộ chính trị,
tính tổ chức kỷ luật nghiêm minh, ý chí quyết tâm cao, trình độ học vấn, tri
thức, sự thành thạo các kỹ năng, kỹ xảo trong thực hành chiến đấu, có sức
khoẻ tốt…
Thứ hai, khi xem xét chất lượng con người trong sức mạnh chiến đấu của
quân đội phải xác định rõ các thuộc tính, các mặt, các đặc trưng vốn có của
những con người quân nhân, từ các thuộc tính tạo nên chất lượng của từng
con người đến các yếu tố quyết định chất lượng tổng hợp của tổng thể những
con người có trong biên chế của quân đội. Mặc dù chất lượng của từng con
người là cơ sở cấu thành chất lượng của tổng số những con người, nhưng khi
xét con người trong mối quan hệ với sức mạnh chiến đấu của quân đội thì
phải xem xét các yếu tố trong mối quan hệ hữu cơ để tạo nên tính quy định
về chất của tổng số con người hợp thành. Các thuộc tính tạo nên chất lượng
của từng người hoàn toàn không đồng nhất với các thuộc tính tạo nên chất
lượng của mỗi tổ chức quân đội và của tổng số con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội.
C.Mác viết rằng: “Sức mạnh tiến công của một đại đội kỵ binh hay sức
chống cự của một trung đoàn bộ binh khác hẳn sức mạnh tiến công và
phòng ngự của từng người lính kỵ binh hay bộ binh gộp lại” [65,480].
Theo Ph.Ăng ghen, sức mạnh chiến đấu của quân đội chỉ có thể được
hình thành trên cơ sở của sự liên kết những con người quân nhân lại với
nhau mà “sự hợp tác của nhiều cá nhân, sự dung hợp của nhiều sức thành
phải qua quá trình khảo nghiệm, thử thách trong thực tiễn chiến đấu và công
tác của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội.
Trong các thuộc tính quy định chất lượng con người trong sức mạnh
chiến đấu của quân đội, bản chất giai cấp, sự giác ngộ chính trị, tinh thần
được xem là yếu tố cơ bản hàng đầu. Nó là cơ sở và điều kiện để xây dựng,
nâng cao chất lượng con người; là cơ sở cho việc xây dựng sức mạnh tổng
hợp của quân đội. Theo Ph.Ăng ghen, xem xét khả năng chiến đấu của một
quân đội thì trạng thái chính trị - tinh thần là một chỉ tiêu quan trọng nhất.
Trạng thái chính trị tinh thần bao gồm một hệ thống những yếu tố: quan
điểm, lập trường, thái độ chính trị, tư tưởng, tình cảm... Nó có vai trò tác
động rất to lớn đến toàn bộ phẩm chất và năng lực hoạt động chiến đấu của
con người. Do đó, để đánh giá đúng sức chiến đấu của bộ đội phải hiểu biết
không chỉ về trang bị, về trình độ kỷ luật, mà còn phải hiểu biết về sự gan
dạ, lòng dũng cảm, ý chí chiến đấu và sự sẵn sàng chịu đựng gian khổ trong
chiến tranh.
Các nhà lý luận quân sự của giai cấp tư sản cũng đánh giá rất cao ý
nghĩa sức mạnh tinh thần của quân đội. Na-pô-lê-ông cho rằng: “Lực lượng
tinh thần mạnh gấp ba lần lực lượng thể chất”. Còn C.Ph.Clau-dơ-vít, nhà
quân sự lỗi lạc của giai cấp tư sản khẳng định: “Lực lượng tinh thần thấm
sâu vào toàn bộ yếu tố chiến tranh”, “Ý chí với tính cách là một đại lượng
tinh thần, chính là cái thúc đẩy và chỉ huy toàn bộ khối lượng vật chất” [14,
126]. Ông đã ví: “Những hiện tượng thể chất cũng giống như cái cán gỗ,
trong khi hiện tượng tinh thần là cái mũi nhọn thực sự, đúc bằng kim loại
quý” [14, 127].
Sở dĩ trong chiến tranh, tinh thần của các lực lượng tham chiến lại giữ
một vai trò quan trọng có ý nghĩa trực tiếp quyết định đến sự thành bại, bởi
chiến tranh là một hiện tượng đặc biệt phức tạp và nguy hiểm. Nếu như mục
đích của các lĩnh vực hoạt động khác của con người là ở chỗ đạt được ít hay
châu Âu, động viên được hàng vạn, hàng triệu binh sĩ, đã chinh phục được
một phần lớn các nước lớn nhỏ ở Âu châu để làm tay sai cho mình, thế mà
không thắng được Liên Xô. Vì Liên Xô đã biết khéo dùng tất cả cái hay của
phép đánh trận và đã lợi dụng được hết lực lượng tinh thần của binh sĩ đã
biết dùng vũ khí ấy” [77, 221]. Trong dịp kỷ niệm sáu tháng kháng chiến
chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Tuy khí giới ta còn
kém, kinh nghiệm ta còn ít, nhưng lòng kiên quyết, chí hy sinh của tướng sĩ
ta đã đem tinh thần mà chiến thắng vật chất, hàng nghìn vị tướng sĩ ta đã lập
nên những chiến công oanh liệt vẻ vang” [82, 151].
Đảng ta cho rằng yếu tố quyết định sức mạnh của các lực lượng vũ trang
cách mạng là ở tinh thần chiến đấu, ở bản chất giai cấp vô sản của nó dưới
sự lãnh đạo của Đảng chứ không phải ở vũ khí, dù khi vũ khí còn ít và thô
sơ hay khi đã nhiều và hiện đại. Vì thế trong bất cứ giai đoạn nào của việc
xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Đảng ta cũng coi xây dựng về
chính trị là quan trọng nhất. Thực tiễn cũng chứng minh rằng, khi không có
sự giác ngộ chính trị, khi trạng thái tinh thần, tâm lý bị khủng hoảng cao độ
thì dù có được vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại đến đâu, người chiến binh
cũng không thể tạo nên sức mạnh chiến đấu trên chiến trường.
Tính tổ chức và kỷ luật là một thuộc tính quan trọng tạo nên chất lượng
con người trong sức mạnh chiến đấu của quân đội. Tính tổ chức và kỷ luật
là yếu tố tạo nên sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, biến ý chí, tư
tưởng thành sức mạnh vật chất của người chiến binh trên chiến trường. Nhờ
có tính tổ chức và kỷ luật mà người quân nhân mới có thể “vất bỏ được
những giới hạn cá nhân và phát triển được những tiềm lực loài của mình”
[65, 480], để tạo nên sức mạnh tập thể lớn nhất trên chiến trường. Tinh thần
kỷ luật nghiêm minh chặt chẽ, tuyệt đối chấp hành luật lệ, điều lệnh và mệnh
lệnh của người chỉ huy một cách chính xác là cơ sở để tạo nên sức chiến đấu
và tinh thần luôn luôn sẵn sàng chiến đấu của người quân nhân.
Phrun-de, nhà quân sự lỗi lạc của đất nước Xô-Viết cho rằng: “Nếu
người lính mà không có một trình độ kiến thức khá thì việc tiến hành chiến
đấu hiện nay sẽ không có hy vọng vì những cuộc chiến đấu hiện nay rất
phức tạp và đồng thời hết sức khác nhau” [100, 137]. C.Ph.Clau-dơ-vít đã
viết: “Nếu người ta suy nghĩ sâu xa hơn nữa để thử tìm xem chiến tranh đòi
hỏi những người tham gia phải có đức tính gì, chúng ta sẽ thấy rằng đức tính
trí tuệ chiếm hàng đầu” [14, 84]. Còn theo V.I.Lê nin, người có năng lực trí
tuệ mới có được tính nhạy bén chính trị cần thiết để giải quyết một cách
chính xác mau lẹ những vấn đề chính trị phức tạp.
Trình độ kỹ, chiến thuật, trình độ chỉ huy phản ánh tính quy định về chất
của bộ đội. Sức chiến đấu của tổ chức quân sự chỉ có thể có được khi bộ đội
được huấn luyện đầy đủ các kỹ năng, kỹ xảo chiến đấu, sử dụng thành thạo
các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thô sơ và hiện đại, biết vận dụng một cách
linh hoạt, sáng tạo các hình thức chiến thuật và nghệ thuật quân sự phù hợp.
Vũ khí, trang bị kỹ thuật dù có hiện đại đến đâu cũng chỉ có thể biến thành
sức mạnh khi tìm ra được những hình thức đúng đắn để sử dụng nó, khi bộ
đội biết vận dụng thành thạo các hình thức chiến thuật, nghệ thuật cách đánh
và kỹ năng, kỹ xảo thực hành chiến đấu.
Trình độ kỹ, chiến thuật, khả năng chiến đấu, ý chí chiến đấu, tình trạng
chính trị tinh thần… của mỗi quân nhân phụ thuộc rất lớn vào trình độ quản
lý, chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan, tướng lĩnh trong quân đội, phụ thuộc
vào khả năng nắm bắt được các quy luật của chiến tranh, khả năng dự đoán
các tình huống bất ngờ sảy ra và khả năng áp dụng các hình thức chiến thuật
phù hợp của người chỉ huy. Trong mọi thời đại và trong tất cả các quân đội,
người cán bộ chỉ huy là nòng cốt tổ chức và đại diện cho sức mạnh chiến
đấu của quân đội, là người đại diện cho khoa học nghệ thuật quân sự, truyền
thống quân sự. Người chỉ huy ở bất kỳ cấp nào không những là người chấp
hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp trên, mà còn biến những mệnh lệnh,