MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhận thức khoa học là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, có vai trò đặc
biệt quan trọng trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội. Cuộc cách mạng KH - CN
hiện đại là một trong những nhân tố tác động có ý nghĩa quyết định sự tăng
trưởng kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; nó tạo động lực và đặt
ra yêu cầu cao phát huy vai trò nhận thức khoa học trong hoạt động của con
người trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Quân sự là một trong các lĩnh vực
nhạy cảm với những thành tựu KH - CN mới nhất, luôn đòi hỏi cao về sự vận
dụng, phát huy vai trò nhận thức khoa học. ảnh hưởng của cuộc cách mạng KH CN đã làm cho nhận thức khoa học trở nên đặc biệt quan trọng trong hoạt động
quân sự ở các cấp, các đối tượng, trong đó có sĩ quan phân đội.
Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam "cách mạng, chính qui, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại" là yêu cầu khách quan, là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và cấp thiết
hiện nay. Hiện thực hoá phương hướng đó phải trên cơ sở sức mạnh tổng hợp của
nhiều nhân tố, trong đó khoa học và nhận thức khoa học đóng vai trò nền tảng.
V.I.Lênin đã khẳng định: không có khoa học hiện đại thì không có quân đội hiện
đại. Hơn nữa, phân đội là nơi trực tiếp phải đương đầu với những âm mưu, thủ
đoạn thâm độc, xảo quyệt trong chiến lược “diễn biến hoà bình” và cuộc tiến công
xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao của địch. Điều đó đòi hỏi sĩ quan phân đội
phải có khả năng, trình độ nhận thức tương xứng để hiểu rõ đối tác, đối tượng, nắm
vững tình hình, nhiệm vụ, tổ chức khoa học hoạt động thực tiễn ở đơn vị.
Hiện nay, cuộc đấu tranh tư tưởng, đạo đức, lối sống... đang diễn ra hết sức
gay go, quyết liệt để “giành giật trái tim, khối óc con người”. Cuộc đấu tranh này
vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, vừa có tính cấp thiết trong các đơn vị của lực lượng
vũ trang. Sĩ quan phân đội là lực lượng cán bộ trẻ, trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy toàn
diện ở trung đội, đại đội, tiểu đoàn; do vậy, họ phải có tri thức, trí tuệ cao để nhận
thức được tính chất phức tạp của tình hình, thường xuyên củng cố vững chắc trận
địa chính trị, tư tưởng trong đơn vị.
Trong thực tiễn, sĩ quan phân đội cơ bản đã được đào tạo qua các nhà trường
cấp phân đội Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ quân sự,
Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội; Nguyễn Bá Dương (1999), Đặc điểm quá
trình phát triển tư duy biện chứng duy vật của sĩ quan cấp phân đội Quân đội nhân
dân Việt Nam trong nhận thức nhiện vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Luận án Tiến sĩ
quân sự, Học viện Chính trị quân sự, Hà Nội v.v..
Ở nước ngoài có các công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
V.I.Kúptchốp (1976), Vai trò của triết học trong nhận thức khoa học, (người dịch Đỗ
Bá), thư viện Học viện Chính trị quân sự; A.X.Gientốp, T.R.Côndrátcốp,
E.A.Khơmencô (chủ biên 1969), Những vấn đề phương pháp luận của lý luận và
thực tiễn quân sự, Nxb Quân đội nhân dân dịch và phát hành, 1976, Hà Nội;
I.A.Gruđinhin (1971), Phép biện chứng và lĩnh vực quân sự hiện đại, Nxb Quân đội
nhân dân dịch và phát hành, 1976, Hà Nội v.v..
Tất cả các công trình trên đã tiếp cận nhiều góc độ khác nhau về nhận
thức khoa học và vai trò của nó trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
đề cập đến những ảnh hưởng của chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa giáo điều
trong hoạt động quân sự của sĩ quan phân đội, v.v.. Đó là nguồn tài liệu lý
luận, thực tiễn để tác giả trực tiếp kế thừa trong quá trình nghiên cứu. Tuy
nhiên, chưa công trình nào nghiên cứu có hệ thống về vai trò nhận thức khoa
học trong hoạt động quân sự của sĩ quan phân đội quân đội ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Làm rõ vai trò nhận thức khoa học trong hoạt động quân sự của sĩ
quan phân đội và đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò nhận thức khoa
học trong hoạt động quân sự của sĩ quan phân đội hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ thực chất vai trò nhận thức khoa học trong hoạt động quân sự của sĩ
quan phân đội.
- Lập luận những vấn đề phương pháp luận phát huy vai trò nhận thức khoa
học trong hoạt động quân sự của sĩ quan phân đội.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản phát huy vai trò nhận thức khoa học trong hoạt
động quân sự của sĩ quan phân đội hiện nay.
Gồm mở đầu, 3 chương (7 tiết), kết luận, danh mục công trình của tác giả,
danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
NHẬN THỨC KHOA HỌC VÀ VAI TRÒ NHẬN THỨC KHOA HỌC
TRONG HOẠT ĐỘNG QUÂN SỰ CỦA SĨ QUAN PHÂN ĐỘI QUÂN ĐỘI TA
1.1. Nhận thức khoa học và đặc thù của nó trong lĩnh vực quân sự
1.1.1. Nhận thức khoa học
Trong lịch sử triết học, cuộc đấu tranh xung quanh vấn đề con người có thể
nhận thức, phản ánh được thế giới khách quan hay không, và cơ sở nền tảng của
nhận thức là gì... luôn diễn ra gay go, phức tạp với nhiều quan điểm khác nhau.
Chủ nghĩa duy vật trước Mác với các đại biểu như Hêracơlit, Đêmôcrit,
Bêcơn, Hôpxơ, đặc biệt là Phơbách đã đấu tranh quyết liệt chống lại chủ nghĩa duy
tâm, cố gắng lý giải bản chất nhận thức trên lập trường duy vật. Họ thừa nhận khả
năng nhận thức của con người đối với thế giới và coi nhận thức là sự phản ánh thế
giới khách quan vào bộ óc người. Có thể nói rằng, các nhà duy vật trước Mác đã có
nhiều công lao trong xây dựng và phát triển nhận thức luận duy vật. Song, do hạn
chế bởi điều kiện xã hội và trình độ nhận thức nên những quan điểm triết học của
họ chưa triệt để và thiếu cơ sở khoa học, còn mang tính siêu hình, trực quan, máy
móc trong giải quyết các vấn đề về nhận thức, chưa phản ánh đúng bản chất, mối
quan hệ giữa các giai đoạn nhận thức. Đặc biệt, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy
vật trước Mác là không đề cập được vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, nên
giải thích một cách siêu hình mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức.
Phơbách đánh giá cao vai trò của cảm giác trong nhận thức và chỉ ra nguồn
gốc, cơ sở khách quan của nó, song, lý luận nhận thức của ông còn mang tính duy
giác luận, trực quan, cảm tính, chỉ thừa nhận yếu tố sinh vật trong cảm giác của con
người mà không thấy mặt xã hội của nó. Tuy đánh giá cao vai trò của lý trí, nhưng
ông lại cho rằng “tư duy là cảm giác phổ biến”, là “sự lĩnh hội số nhiều, còn cảm
giác là lĩnh hội số ít, cái riêng lẻ, đơn nhất”. Ông không phân biệt được sự khác
nghiệm chủ quan, phủ nhận những quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội,
khoa học chỉ còn có tác dụng mô tả. Thực chứng luận phục hồi bất khả tri luận của
Hium và các quan điểm duy tâm khác, cố chứng minh rằng, nhận thức không thể
vượt ra ngoài phạm vi tri giác, việc đề ra vấn đề tồn tại của thế giới bên ngoài,
khách quan độc lập với tri giác là không khoa học, là "thiếu tri thức thực chứng"(!)
Như vậy, nhận thức, trong đó có nhận thức khoa học, đã được các trường phái
triết học trước Mác luận giải với nhiều góc độ khác nhau. Song, chỉ có quan điểm
mácxít mới phản ánh được một cách triệt để khoa học về vấn đề này.C.Mác và
Ph.Ăngghen đã đưa ra những quan điểm, nguyên tắc nền tảng khi trình bày về lý
luận nhận thức. C.Mác đã vạch ra khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy
vật kể cả chủ nghĩa duy vật của Phơbách: “... sự vật, hiện thực, cái có thể cảm giác
được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ
không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không
được nhận thức về mặt chủ quan”[59, tr.9]; đồng thời, ông phê phán chủ nghĩa duy
tâm đã tuyệt đối hoá vấn đề tư duy, tuyệt đối hoá “lực lượng tinh thần” ngoài con
người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra quan điểm đúng đắn về thực tiễn, vai trò của
nó đối với nhận thức, nhận thức khoa học; hai ông đã thực hiện bước ngoặt cách
mạng trong lý luận nói chung và lý luận nhận thức nói riêng. C.Mác và Ph.Ăngghen
đã khẳng định: nhận thức là sự thu nhận tri thức vào ý thức con người; đời sống xã
hội về bản chất là có tính thực tiễn; ý thức, nhận thức chỉ là sự phản ánh hiện thực
khách quan vào đầu óc con người, v.v..
V.I.Lênin đã kế tục tư tưởng vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen, đồng thời phát
triển sâu sắc lý luận về nhận thức và nhận thức khoa học là bộ phận cấu thành hệ
thống triết học mácxít hoàn chỉnh. Người viết: "Nhận thức là sự phản ánh giới tự
nhiên bởi con người. Nhưng đó không phải là một phản ánh giản đơn, trực tiếp,
hoàn chỉnh, mà là một quá trình cả một chuỗi những sự trừu tượng, sự cấu
thành, sự hình thành các khái niệm, quy luật...”, "Nhận thức là quá trình, xâm nhập
(của trí tuệ) vào giới tự nhiên...", "Nhận thức là sự tiến gần mãi mãi và vô tận của tư
hữu cơ giữa trực quan khoa học với kinh nghiệm khoa học và lý luận khoa học phải
được đặt trên cơ sở thực tiễn.
Trong hệ thống tri thức, xét từ góc độ các khoa học, thì tri thức triết học
"đương nhiên là có tính chất nền tảng về mặt lý luận, và có tính cấp bách về mặt
thực tiễn"[38, tr.6], "có khả năng vũ trang cho các nhà khoa học thế giới quan và
phương pháp luận tối ưu để người ta có thể xử lý mối quan hệ giữa cái đã biết và
cái chưa biết nhằm tiếp tục chiếm lĩnh những bí ẩn vô tận của thế giới"[89,
tr.14]. Nhà triết học xôviết P.V.Pôpốp đã nhấn mạnh, phép biện chứng với tư
cách là phương pháp luận của nhận thức khoa học không chỉ phản ánh những
quy luật của tự nhiên và xã hội mà cả những quy luật của tư duy. Những
nguyên lý có tính chất phương pháp luận duy vật biện chứng cũng đã được
sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực nhận thức khoa học [81, tr.412]. Tuy nhiên,
cùng với tri thức triết học thì tri thức của các khoa học và sự tương tác của các
khoa học khác nhau cũng đóng vai trò động lực trực tiếp bên trong của sự phát
triển liên tục hệ thống tri thức khoa học, cũng như đối với nhận thức khoa học
nói chung.
Phương pháp tư duy khoa học là thành phần cơ bản trong cấu trúc nhận thức
khoa học, giữ vai trò trực tiếp quy định hiệu quả quá trình tiếp nhận, hình thành,
phát triển và phát huy tri thức khoa học.
Những người theo chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp tư duy như một phạm
trù thuần tuý chủ quan, là tổng hoà các quy tắc do lý trí con người tự ý đặt ra, để
"tiện" cho hoạt động nhận thức. Trái lại, theo quan điểm duy vật biện chứng,
phương pháp tư duy là những cách thức chung nhất của tư duy trong tiếp cận hiện
thực, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng của tự nhiên, xã hội trong sự vận động,
phát triển, biến hoá không ngừng. Phương pháp tư duy khoa học phải được hiểu
như một hệ thống tổng hợp các cách thức, biện pháp tư duy nhất định được tổ chức,
sắp xếp sao cho có thể phối hợp được với các tri thức “nền” và tri thức tiền đề,
đóng vai trò như các công cụ, phương tiện nhằm "sản xuất" ra những tri thức mới
V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, và từ tư duy
trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý,
của sự nhận thức thực tại khách quan”[55, tr.179]. Đồng thời, quá trình vận dụng
khoa học hệ thống tri thức trong thực tiễn có ý nghĩa trực tiếp cải tạo, biến đổi hiện
thực khách quan và điều này đã được C.Mác chỉ rõ: "Các nhà triết học đã chỉ giải
thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới"[59,
tr.12].
Nhận thức khoa học là một quá trình mà mục đích là chân lý; thực tiễn là cơ sở,
động lực, là tiêu chuẩn của chân lý. Thông qua thực tiễn, nhận thức phát huy được
vai trò chỉ đạo hoạt động của con người trong cải tạo hiện thực khách quan; đồng
thời, nhận thức được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển ngày càng hoàn thiện. Tuy
nhiên, không phải mọi sự vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn đều được bao
hàm trong phạm trù nhận thức khoa học. Sự áp đặt lý thuyết một cách thô thiển, gán
ghép, cứng nhắc vào cuộc sống không những không đem lại hiệu quả mà còn hoàn
toàn bộc lộ tính không khoa học của quá trình nhận thức và thực tiễn. Quá trình vận
dụng tri thức khoa học tuân theo những phương thức, trình tự khoa học, phù hợp với
quy luật phát triển khách quan và đòi hỏi của thực tiễn, đem lại hiệu quả trên hiện
thực - quá trình đó mới được chuyển hoá thành yếu tố của nhận thức khoa học. Vì
vậy, xa rời hoặc tuyệt đối hoá thực tiễn sẽ rơi vào nhận thức luận của chủ nghĩa duy
tâm hoặc duy vật tầm thường.
Các thành tố trên đây của nhận thức khoa học có mối liên hệ thống nhất biện
chứng, tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau, thúc đẩy nhau phát triển. Trong
đó, nếu tri thức khoa học là cơ sở ban đầu, "kho tàng dự trữ năng lượng" cần thiết
cho các thành tố sau, thì phương pháp tư duy khoa học là "hệ công cụ" cần thiết để
"giải phẫu" hệ tri thức đang có và tiếp tục tìm kiếm chân lý, đồng thời khả năng vận
dụng đúng đắn hệ thống tri thức vào thực tiễn là thành tố "hoạt hoá" hệ thống tri
thức khoa học, làm cho nhận thức khoa học thực sự xuất phát từ thực tiễn và quay
trở lại phục vụ hoạt động thực tiễn. Tuyệt đối hoá hay phủ nhận một trong các
có định hướng giá trị đúng đắn. Chủ thể nhận thức khoa học là người có khả
năng trí tuệ cao, bao gồm khả năng quan sát, ghi nhớ, tưởng tượng sáng tạo;
năng lực trừu tượng hoá, khái quát hoá; năng lực phát triển tư duy và vận dụng
thực tiễn... để nhờ đó nắm bắt được cái bản chất, quy luật bị che lấp trong sự
hỗn độn của các hiện tượng ngẫu nhiên. Chủ thể nhận thức khoa học còn phải
được đào tạo, tự đào tạo, rèn luyện thường xuyên về tri thức tự nhiên và xã hội,
về ngôn ngữ, về lôgíc... phù hợp với các nhiệm vụ nghiên cứu.
Nhận thức khoa học không diễn ra một cách tức thì, đạt ngay kết quả trọn vẹn
xong xuôi, mà là một quá trình biện chứng phức tạp trên cơ sở thực tiễn. Quá trình
đó xa lạ với biểu hiện giản đơn, công thức cứng nhắc, bất biến, những thói quen dễ
dãi, những đường mòn, tính thụ động và lệ thuộc. Đây là một trong những quan
điểm cơ bản nhất của nhận thức luận mácxít, đối lập với quan điểm duy tâm hoặc
siêu hình về nhận thức.
Đặc trưng thứ hai: Nhận thức khoa học mang tính hệ thống, có luận cứ và sự
sáng tạo tri thức khoa học mới.
Tính hệ thống là đặc trưng quan trọng để phân biệt nhận thức khoa học với
nhận thức thông thường cũng như các loại hình nhận thức khác. Khách thể nhận
thức luôn tồn tại trong tính hệ thống, nên hoạt động nhận thức của chủ thể chỉ đạt
tới chân lý khi không những tôn trọng tính hệ thống của khách thể mà còn phải thể
hiện ra với tính cách là một hệ thống. Nói cách khác, tính hệ thống của nhận thức
khoa học, tức là tính hệ thống - chủ thể, suy đến cùng là hình ảnh chủ quan của tính
hệ thống - khách thể. Nó được thể hiện trong tất cả các giai đoạn, các thành phần
cấu trúc của nhận thức như mục đích (mục đích trước mắt, lâu dài; mục đích chiến
lược, chiến thuật...), phương pháp (phương pháp phổ biến, đặc thù, đơn nhất...),
phương tiện (phương tiện vật thể, phi vật thể...). Sản phẩm của nhận thức khoa học
gồm hệ thống khái niệm, phạm trù, nguyên lý, quy luật cùng phản ánh hiện thực
khách quan trong một hệ thống toàn vẹn, chuyển hoá, không bất biến. Tính hệ
thống của nhận thức khoa học còn được thể hiện trong mọi thành phần cấu trúc của
Trừu tượng hoá được thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với khái quát hoá.
Khi trừu tượng hoá một vài thuộc tính, hay các mối liên hệ trong một loạt khách
thể, thì nhất định sẽ tạo ra điều kiện để khái quát hoá nhằm xác định liên hợp các
thuộc tính vào một lớp chung, thể hiện ra như cái chung trong một loạt khách thể
riêng. Trừu tượng hoá không những có mối quan hệ chặt chẽ với khái quát hoá, mà
còn có mối quan hệ chặt chẽ với cụ thể hoá. Bởi vì, quá trình nghiên cứu lý luận
trước hết phải tách ra từ khách thể các mối liên hệ dưới dạng trừu tượng khoa học.
Song, chỉ dừng ở các trừu tượng khoa học sẽ không thể cho ta một quan niệm toàn
vẹn về bản chất của khách thể nghiên cứu; do vậy, cần phải tái tạo lại khách thể
trong tính toàn vẹn và phức tạp của các mối quan hệ, liên hệ. Quá trình này trong
nghiên cứu được gọi là phương pháp đi từ trừu tượng tới cụ thể.
Trừu tượng hoá, khái quát hoá và cụ thể hoá có mối quan hệ chặt chẽ và được
áp dụng cả trong khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Đồng thời, đây là những
phương thức đặc trưng cho tính biện chứng phức tạp của quá trình nhận thức khoa
học, và có thể phân biệt với nhận thức thông thường và một số loại hình nhận thức
khác.
Đặc trưng thứ tư: Nhận thức khoa học đòi hỏi yêu cầu cao trong sử dụng
ngôn ngữ, chuyên môn hoá về sử dụng phương pháp và phương tiện.
Để nghiên cứu, mô tả khách thể, nhận thức khoa học không chỉ sử dụng
ngôn ngữ tự nhiên (hệ thống ký hiệu âm thanh và sau đó là chữ viết), mà còn
phải sử dụng và không ngừng phát triển ngôn ngữ chuyên biệt (là hệ thống ký
hiệu bổ trợ được tạo ra bằng cách riêng trên cơ sở của ngôn ngữ tự nhiên được
chuyên hoá). Đặc biệt nhận thức ở trình độ lý luận, chủ thể nghiên cứu khách thể
một cách gián tiếp thông qua “thực nghiệm tư tưởng”, nên tất yếu phải có hệ
thống ngôn ngữ khoa học. Hệ thống ngôn ngữ này được xây dựng chặt chẽ, rõ
ràng và được sử dụng tương đối nhất quán, có tính chuyên môn hoá cao giúp
nhận thức khoa học phản ánh ngày càng chính xác và đầy đủ đối tượng nghiên
cứu của từng ngành khoa học, đồng thời làm cho nhận thức khoa học được biểu
động đến khách thể, giúp quá trình nhận thức khoa học trở nên hiệu quả hơn trong
việc khám phá những thuộc tính mới của khách thể, kể cả trong điều kiện khó
khăn, phức tạp. Xã hội và khoa học càng phát triển thì càng có sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa nhận thức khoa học với phương tiện kỹ thuật hiện đại. Các phương tiện
vật chất ngày càng tham gia trực tiếp và đóng vai trò đắc lực đối với quá trình tiếp
nhận tri thức khoa học. Cách mạng KH - CN hiện đại phát triển đòi hỏi phải quan
tâm đặc biệt tới việc sử dụng phương tiện kỹ thuật theo hướng chuyên môn hoá
trong nhận thức khoa học. Máy móc, phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong
nhận thức khoa học ngày càng trở nên hiện đại như: máy tính điện tử, máy gia tốc,
các thiết bị quan sát và đo đạc... Tuy nhiên, xét đến cùng, con người làm ra máy
móc không phải để máy móc thống trị trở lại, mà để hỗ trợ đắc lực cho trí tuệ của
mình, nâng trí tuệ lên tầm cao mới.
Đặc trưng thứ năm: Nhận thức khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với thực tiễn
và thực nghiệm.
Nhận thức khoa học luôn gắn với thực tiễn, đây là đặc trưng căn bản để phân
định giữa nhận thức luận duy vật với nhận thức luận duy tâm. Hơn thế, nếu như
giữa nhận thức thông thường với thực tiễn có sự liên hệ “gần gũi”, trực tiếp với đời
sống hiện thực, thì sự gắn bó giữa nhận thức khoa học với thực tiễn bao giờ cũng
mang tính khái quát sâu sắc hơn. Kết quả phản ánh thực tiễn của nó không những
nhất thiết phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn mà còn đạt trình độ lý luận khoa
học cao hơn nhận thức thông thường, nhằm định hướng khoa học cho thực tiễn
phát triển.
Thực nghiệm khoa học là một trong những hình thức cơ bản của hoạt động
thực tiễn, một trong các tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Ở trình độ kinh nghiệm của
nhận thức khoa học, thực nghiệm khoa học còn là phương tiện chính và cơ bản,
đồng thời còn là phương pháp có vai trò đặc biệt quan trọng, vì: “Kiểu nhận thức
khoa học có ưu điểm lớn là dựa vào lý trí và phương pháp thực nghiệm nên có khả
năng to lớn nhận thức thế giới và cải tạo thế giới”[80, tr.119]. Phương pháp thực
xuất phát của triết học mácxít, cho ta tiền đề xuất phát có ý nghĩa quyết định để giải
quyết mối liên hệ giữa lý luận quân sự và thực tiễn quân sự. Khác với các trường
phái triết học khác, triết học mácxít đã chỉ ra sự thống nhất biện chứng giữa lý luận
và thực tiễn, đồng thời chỉ ra vai trò của lý luận và thực tiễn trong sự thống nhất đó.
Về mặt thực tiễn, V.I.Lênin nhấn mạnh: "Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì
nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của hiện thực trực tiếp"[55,
tr.230]. Thực tiễn quyết định quá trình nhận thức (lý luận), là mục đích của nhận
thức, là cơ sở, động lực của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Thực
tiễn còn tạo ra những điều kiện biến lý luận từ sức mạnh tinh thần thành sức
mạnh vật chất, hiện thực hoá tinh thần - lý luận. Các nhà kinh điển mácxít đã chỉ
rõ vai trò kim chỉ nam của lý luận đối với hoạt động thực tiễn, "không có lý luận
cách mạng sẽ không có phong trào cách mạng". Theo Hồ Chí Minh, thực tiễn
không có lý luận là thực tiễn mù quáng, lý luận không có thực tiễn là lý luận
suông. Người cho rằng; "trong lúc học tập lý luận, chúng ta cần nhấn mạnh: lý
luận phải liên hệ với thực tế. Thống nhất giữa lý luận với thực tiễn là một
nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin"[70, tr.496].
Tiếp cận mối liên hệ giữa lý luận quân sự với thực tiễn quân sự phải dựa trên
cơ sở những nguyên tắc lý luận nói trên. Với ý nghĩa là toàn bộ hoạt động vật chất
diễn ra ngoài đầu óc của chủ thể, thực tiễn quân sự gắn với thời gian, không gian,
điều kiện hoàn cảnh quân sự cụ thể, bao gồm thực tiễn chiến đấu, bảo đảm chiến
đấu, sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật quân sự, thực
tiễn công tác chính trị, tư tưởng...; trong đó, thực tiễn chiến đấu và sẵn sàng chiến
đấu là những hình thức cơ bản nhất. Các hoạt động đó với tư cách là hoạt động
thực tiễn quân sự khi được lý luận, tư tưởng quân sự dẫn dắt. Còn lý luận quân sự,
với ý nghĩa là giai đoạn cao của nhận thức khoa học trong lĩnh vực quân sự, luôn
mang tính khái quát, trừu tượng, nhằm vạch ra bản chất, quy luật của các sự vật,
hiện tượng, quá trình quân sự; trên cơ sở đó xây dựng các giả thuyết, lý thuyết khoa
học, dự báo khoa học về sự vận động trong lĩnh vực quân sự. Chính vì vậy, lý luận
chuẩn khách quan cao nhất để kiểm nghiệm lý luận quân sự, vừa có tính tương đối
(tính không xác định) vì nó luôn vận động, phát triển và là quá trình in đậm dấu ấn
chủ quan của con người. Việc quán triệt quan điểm thực tiễn giúp chúng ta tránh
những sai lầm cực đoan như chủ nghĩa giáo điều, bảo thủ hoặc chủ nghĩa chủ quan,
chủ nghĩa tương đối trong lĩnh vực quân sự.
Trong khi khẳng định “thực tiễn cao hơn lý luận”, không thể không tính đến
vai trò của lý luận quân sự đối với thực tiễn quân sự. Lý luận quân sự chỉ ra
phương hướng, mục tiêu, cách thức, biện pháp khoa học cho hoạt động thực tiễn
quân sự trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Các quan điểm, học thuyết quân sự
khoa học luôn luôn là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn quân sự. Đường lối
chiến lược quân sự, hệ thống nguyên tắc nghệ thuật quân sự là căn cứ khoa học để
cụ thể hoá trong tác chiến, huấn luyện kỹ, chiến thuật, điều lệnh, điều lệ, tổ chức
xây dựng lực lượng, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, hạ quyết tâm trận đánh, lựa chọn
hình thức, phương pháp, phương tiện phù hợp... Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ
của vũ khí, trang bị quân sự dẫn đến những bước phát triển mới của khoa học nghệ
thuật quân sự, đồng thời đòi hỏi vai trò ngày càng tăng của lý luận quân sự. Cho
nên, các chủ thể quân sự cần thường xuyên tích cực tổng kết kinh nghiệm, phát
triển lý luận quân sự, nâng cao trình độ tri thức tổng hợp, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Trong mối liên hệ hữu cơ giữa lý luận và thực tiễn quân sự thì thực tiễn quân
sự bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, đặt ra cho lý luận quân sự những nhiệm vụ
phải nhận thức. Điều đó làm cho quá trình nhận thức khoa học trong lĩnh vực quân
sự luôn vận động, biến đổi liên tục từ trình độ này lên trình độ khác cao hơn, có sự
kế tiếp liên tục các vòng khâu mới theo "vòng xoáy ốc", làm năng động hoá sự
thống nhất giữa lý luận với thực tiễn quân sự. Mặt khác, thực tiễn quân sự cũng làm
nảy sinh sự không tương ứng giữa lý luận đã có với nhu cầu mới trong nhận thức
và hoạt động. Vì thế, vấn đề đặt ra là phải thường xuyên phát hiện mâu thuẫn, giải
quyết mâu thuẫn bằng con đường phủ định biện chứng, qua đó làm cho lý luận
thể hiện tính đặc thù của nhận thức khoa học trong lĩnh vực này, nhằm luận giải
đúng đắn vai trò của nhận thức khoa học trong hoạt động quân sự của sĩ quan phân
đội.
Thứ nhất, đặc thù nhận thức khoa học trong lĩnh vực quân sự thể hiện ở trí
tưởng tượng cao gắn với tư duy cụ thể.
Trí tưởng tượng có sự thống nhất với quá trình nhận thức chân lý và phản ánh
thực tại khách quan, song khác biệt ở chỗ nó dựa trên sự sáng tạo những biểu tượng