MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cách mạng và khoa học, khoa học và cách mạng là hai đặc tính căn bản có mối liên
hệ thống nhất, nội tại trong học thuyết Mác - Lênin. V.I.Lênin viết: “Sức hấp dẫn không
gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những người xã hội chủ nghĩa của tất cả các nước đi theo lý
luận đó, chính là ở chỗ nó kết hợp tính chất khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh cao
nhất của khoa học xã hội) với tinh thần cách mạng... kết hợp trong chính bản thân lý
luận ấy, một sự kết hợp nội tại và khăng khít” [47, tr.421].
Tuy nhiên, quá trình giảng dạy LLCT, để đảm bảo tính cách mạng và tính khoa học vốn có
trong bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi hỏi người dạy phải chủ động ĐHCT trên cơ sở
gắn bó nhuần nhuyễn với tính khoa học. Tính chính trị và tính khoa học là hai yêu cầu căn
bản trong một bài giảng, không đạt được yêu cầu ở mặt này thì đồng thời cũng không đáp ứng
được yêu cầu ở mặt kia và ngược lại. Tính khoa học và chức năng ĐHCT trong giảng dạy
LLCT không bài trừ nhau; trái lại, chúng thống nhất và bổ sung cho nhau. Vì vậy, kết hợp
chặt chẽ tính ĐHCT với tính khoa học trong giảng dạy LLCT là trực tiếp thể hiện bản chất
cách mạng và khoa học của học thuyết Mác-Lênin, là vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa
tính Đảng với tính khoa học; giữa lý luận cách mạng với thực tiễn cuộc sống...Do đó, đây là
một yêu cầu tất yếu, là nguyên tắc bảo đảm giảng dạy LLCT vận động đúng phương hướng
chính trị trong đào tạo sĩ quan.
Giảng dạy LLCT ở các trường SQBĐH trong những năm gần đây, đội ngũ giáo viên
LLCT, thông qua nội dung và phương pháp đã thể hiện khá tốt vai trò ĐHCT của mình, giúp
người học tiếp cận nhanh hệ thống quan điểm, tư tưởng chính trị của giai cấp công nhân, xây
dựng và cũng cố BLCT vững vàng cho đối tượng đào tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt
tích cực, người dạy vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định trong nhận thức và vận dụng
nguyên tắc kết hợp tính ĐHCT với tính khoa học. Biểu hiện rõ nhất là: ĐHCT thông qua nội
dung và phương pháp giảng dạy, còn thể hiện tính chất khiên cưỡng, áp đặt, nhồi nhét tri thức,
dội một chiều. Chưa có sự quan tâm nhiều đến tính khoa học, chưa khai thác tối đa yếu tố
khoa học để hỗ trợ làm tăng sức thuyết phục và niềm tin khoa học vào những quan điểm
chính trị. Do đó, tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp công nhân chuyển hoá vào nhận thức, tư
đào tạo với công tác sử dụng cán bộ, giữa lý luận chính trị với thực tiễn cuộc sống...
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện một cách tài tình khả năng và trình độ kết hợp
tính định hướng chính trị với tính khoa học trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhờ đó,
cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo,
Đảng ta luôn chú trọng xây dựng và triển khai các quan điểm, tư tưởng lớn để định hướng và
chỉ đạo các hoạt động trên lĩnh vực này. Những quan điểm, tư tưởng đó được thể hiện xuyên
suốt trong các nghị quyết Đại hội của Đảng, đặc biệt, gần đây được thể hiện tập trung ở các
Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2, lần thứ 3 (Khóa VIII); Nghị quyết Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ IX; Luật Giáo dục Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...
Về định hướng và ĐHCT trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, gần đây đã có nhiều bài
viết và công trình khoa học đề cập đến, như: Trần Xuân Trường, “Một số vấn đề về định
hướng XHCN”, Nxb CTQG, Hà Nội, 2000; Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên và Nhị Lê, “Một
số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1998; Nguyễn Văn
Oánh, "Về khái niệm định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Cộng sản, Số 4, tháng 2/1996;
Hà Xuân Trường, "Định hướng xã hội chủ nghĩa - một khái niệm khoa học", Tạp chí Cộng
sản, Số 7, tháng 4/1996; Trần Xuân Trường, "Về mục tiêu của định hướng xã hội chủ nghĩa",
Tạp chí Cộng sản, Số 7, tháng 4/1996; Nguyễn Phú Trọng, “Định hướng XHCN và con
đường đi lên CNXH ở nước ta”, Tạp chí Cộng sản, Số 5, tháng 3/1996"; Lê Hữu Nghĩa, “Vai
trò của chính trị trong việc bảo đảm định hướng XHCN”, Tạp chí Cộng sản, Số 5, tháng
3/1996... Các nghiên cứu đã đưa ra quan niệm về định hướng và định hướng chính trị cơ bản
thống nhất. Khẳng định: định hướng chính trị ở nước ta hiện nay là định hướng xã hội chủ
nghĩa, định hướng con đường và mục tiêu phát triển tiến lên CNXH. Cụ thể hơn, các công
trình và bài viết đều khẳng định tính tất yếu và cấp thiết phải định hướng xã hội chủ nghĩa
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội... Từ đó các nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của chủ thể
định hướng, đưa ra các giải pháp từ nhiều phương diện khác nhau nhằm đảm bảo các lĩnh vực
vận động đúng mục tiêu của cách mạng XHCN.
Kế thừa và vận dụng các kết quả nghiên cứu trên, tác giả luận án cho rằng, ĐHCT trong
của Đảng, thu hút tâm huyết nghiên cứu của rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài quân đội
thuộc chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Liên quan đến luận án có nhiều công trình
khoa học như: “Cách mạng và khoa học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1977; “Cách mạng
và sáng tạo”, Nhà xuất bản sách giáo khoa Mác - Lênin, 1986; “Cách mạng và khoa học xã
hội” của Nguyễn Khánh Toàn; “Một số vấn đề về khoa học chính trị” Viện Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Nhà xuất bản Hà Nội; Đào Duy Tùng, “Một số vấn đề về công tác tư tưởng”, Nxb
CTQG, Hà Nội, 1999; Nguyễn Đức Bình, “Một số vấn đề về công tác lý luận, tư tưởng và văn
hóa” Nxb CTQG, Hà Nội, 2001; Trần Trọng Tân, “Góp phần đổi mới công tác lý luận, tư
tưởng hiện nay”; Đậu Thế Biểu “Phát huy bản chất cách mạng và khoa học của Đảng trong
giai đoạn cách mạng mới”, bài in trong sách "Cách mạng và sáng tạo", Nhà xuất bản Sách
giáo khoa Mác - Lênin, 1986; Trần Hữu Tiến, “Đổi mới công tác tuyên truyền chính trị trong
điều kiện hiện nay”; Đặc biệt, một số công trình khoa học, bài viết đã đi sâu đề cập đến tính
thống nhất giữa khoa học với chính trị và chỉ rõ sự đòi hỏi khách quan phải kết hợp giữa
chúng với nhau trong những lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn: Ngô Thành Dương (chủ biên), “ Sự
thống nhất giữa tính cách mạng và tính khoa học trong phương pháp lãnh đạo” Nxb Sự thật
Hà Nội, 1982; Trần Thị Anh Đào, “Mối quan hệ biện chứng giữa tính cách mạng và tính
khoa học trong họat động lãnh đạo của Đảng”, Luận án tiến sĩ Triết học (1999); Trần Hữu
Tiến, “Kết hợp tính khoa học và tính chính trị trong nghiên cứu lý luận”, Tạp chí Nghiên cứu
lý luận, số 3/1992; Lê Hữu Nghĩa “Khoa học và chính trị", Tạp chí quốc phòng toàn dân, số
11/1992.
Các Nghiên cứu đã tiếp cận đi từ mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa tính cách mạng
và tính khoa học trong lý luận Mác - Lênin đến khẳng định sự thống nhất chặt chẽ giữa tính
chính trị và tính khoa học trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Đảng, của giai cấp công
nhân. Trong đó, có hoạt động giảng dạy lý luận chính trị. Đặc biệt, đi vào từng lĩnh vực hoạt
động cụ thể, sự thống nhất giữa hai tính chất cần có sự kết hợp thông qua vai trò của chủ thể
hoạt động, điều này đã được tác giả Trần Hữu Tiến chỉ rõ: trong nghiên cứu lý luận, "Vấn đề
đặt ra đối với chúng ta không chỉ là lý giải về sự "thống nhất trong bản chất" giữa cách mạng
và khoa học, mà chủ yếu là làm rõ trong những điều kiện chủ quan và khách quan cho phép
5. Những đóng góp mới của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về sự kết hợp tính ĐHCT với tính khoa học và
đặc thù của nó trong giảng dạy LLCT ở các trường SQBĐH.
- Khảo sát, phân tích thực trạng kết hợp tính ĐHCT với tính khoa học, đề xuất các
giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp tính ĐHCT với tính khoa học trong
giảng dạy LLCT ở các trường SQBĐH hiện nay.
6. Ý nghĩa của luận án
Những luận giải có tính cơ bản, hệ thống sự kết hợp tính ĐHCT với tính khoa học
trong giảng dạy LLCT có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác nghiên cứu, giảng
dạy LLCT ở các học viện, trường đại học trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án được kết cấu: Phần mở đầu; phần nội dung (gồm 3 chương, 6 tiết); phần kết
luận; danh mục các công trình của tác giả; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SỰ KẾT HỢP TÍNH ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH TRỊ VỚI TÍNH
KHOA HỌC TRONG GIẢNG DẠY LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở CÁC TRƯỜNG SĨ
QUAN BẬC ĐẠI HỌC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1. Quan niệm về sự kết hợp tính định hướng chính trị với tính khoa học trong giảng
dạy lý luận chính trị ở các trường sĩ quan bậc đại học Quân đội nhân dân Việt Nam
1.1.1. Tính định hướng chính trị và tính khoa học trong giảng dạy lý luận chính trị
* Tính định hướng chính trị và biểu hiện của nó trong giảng dạy lý luận chính trị
Chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến mối quan hệ giữa các giai cấp, các
dân tộc, các quốc gia và các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của chính trị là vấn đề giành, duy trì
và sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị còn bao hàm cả sự tham gia rộng rãi của quần
chúng nhân dân vào bộ máy nhà nước; là tổng hoà các phương châm, mục tiêu, nguyên tắc
xác định bởi những lợi ích cơ bản của các giai cấp, đảng phái, nhà nước, được họ tuân thủ
trong công việc đối nội, đối ngoại; trong hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện đường lối vạch
“phương hướng phát triển”, nhưng giữa chúng không đồng nhất với nhau. “Con đường đi lên”
hay “phương hướng phát triển” phản ánh trạng thái, xu hướng vận động, phát triển khách
quan của sự vật, hiện tượng mà chủ thể nhận thức được, còn định hướng thể hiện sâu sắc vai
trò của chủ thể trên cơ sở nhận thức quy luật khách quan, chủ động xác lập mục tiêu, tích cực
tìm tòi các biện pháp để thúc đẩy sự vật vận động hướng đích, phù hợp với thực tiễn lịch sử,
đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Việc nắm chắc thực tiễn, phân tích đánh giá đúng đắn những
điều kiện cụ thể, dự báo những ảnh hưởng tốt, xấu có thể xảy ra, vừa là yêu cầu nội tại, vừa là
điều kiện cơ bản bảo đảm định hướng đúng đắn và có tính khả thi trong hiện thực.
Trong xã hội còn có giai cấp và nhà nước, giai cấp nắm chính quyền sử dụng quyền
lực nhà nước, chủ động xác lập hệ thống mục tiêu, phương hướng, tiến hành tổ chức,
điều khiển mọi hoạt động của đời sống xã hội, đặt ra và không ngừng bổ sung các quy
phạm pháp luật, các nguyên tắc, luật lệ, quy chế nhằm tạo ra một khuôn khổ hành lang
pháp lý, buộc mọi cá nhân, mọi tổ chức chính trị- xã hội và mọi lĩnh vực hoạt động khác
nhau phải tuân theo phương hướng chính trị - xã hội của giai cấp nắm chính quyền, phù
hợp với ý chí, lợi ích của giai cấp nắm quyền lực nhà nước, đó chính là những hoạt động
định hướng mang tính chính trị, tính giai cấp sâu sắc.
ĐHCT là quá trình hoạt động của chủ thể chính trị trong xác lập mục tiêu, phương hướng,
xây dựng những điều kiện, lực lượng, biện pháp nhằm tổ chức, điều tiết, duy trì sự phát triển ổn
định nhất định của chế độ - xã hội cụ thể.
Nội dung cốt lõi của ĐHCT là định hướng về quan điểm, lập trường, tư tưởng, làm cho hệ
tư tưởng của giai cấp thống trị chiếm vị trí ưu thế, giữ vai trò chủ đạo trong đời sống chính
trị - xã hội. Do đó, ĐHCT phản ánh tính giai cấp, tính lịch sử sâu sắc, gắn với điều kiện kinh
tế - xã hội xác định. Chế độ xã hội khác nhau, ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể, thì tính chất,
nội dung, đặc điểm của ĐHCT cũng không giống nhau.
Hiện nay, tình hình chính trị thế giới có những biến động to lớn, nhưng nội dung cơ bản của
thời đại không thay đổi, loài người vẫn trong xu hướng vận động phát triển tiến lên CNXH bỏ
qua chế độ TBCN. Do đó, ĐHCT theo quan điểm, lập trường giai cấp công nhân là định hướng
về mục tiêu và con đường đi lên XHCN; là đấu tranh loại bỏ sự xác lập địa vị thống trị của quan
đường TBCN hoặc chủ quan, nóng vội, duy ý chí... mà còn do kẻ thù chủ động tìm mọi thủ
đoạn làm chệch hướng chính trị của cách mạng. Điều đó nói lên tính chất phức tạp, lâu dài, gian
khổ của cuộc đấu tranh giữa tự giác ĐHCT theo con đường XHCN và tự phát theo con đường
TBCN. Vì vậy, định hướng XHCN hiện nay là một nguyên tắc bất di bất dịch trong cuộc đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc nhằm bảo đảm cho các lĩnh vực của cuộc sống vận động theo
đúng mục tiêu xác định. Nhận thức sâu sắc về tính tất yếu, vai trò, tầm quan trọng của định
hướng XHCN, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII tiếp tục khẳng định: “Phải giữ vững định
hướng XHCN trong quá trình đổi mới kết hợp sự kiên định về nguyên tắc và chiến lược cách
mạng với linh hoạt trong sách lược, nhạy cảm nắm bắt cái mới, đi lên CNXH là tất yếu ở nước
ta”[17, tr.52-53].
Chính trị và ĐHCT có vai trò to lớn chi phối đến các lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời
sống xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Hoạt động giáo dục và đào tạo phải đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chịu sự quy định của điều kiện kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội. Giảng dạy LLCT là một bộ phận hữu cơ trong chiến lược giáo dục
và đào tạo của Đảng và Nhà nước, tất yếu phải tuân thủ phương châm, nguyên tắc giáo dục,
huấn luyện theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan
điểm của Đảng. Kết quả giáo dục - đào tạo, giảng dạy LLCT phải nhằm phục vụ sự nghiệp
cách mạng của Đảng và dân tộc. V.I.Lênin cho rằng: “Mục đích của văn hoá chính trị, của
nền giáo dục chính trị là đào tạo nên những người cộng sản chân chính”[57, tr.479]. Đây là vấn đề
có tính quy luật trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở nước ta.
LLCT là những tri thức khoa học trong chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
đường lối, quan điểm của Đảng; là khoa học về chính trị, phản ánh quan điểm, tư tưởng, mục
đích chính trị- thực tiễn của giai cấp công nhân. Vì vậy, bản thân LLCT vốn đã chứa đựng
tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp công nhân sâu sắc. Tuy nhiên, trong giảng dạy LLCT,
người học thấm nhuần tính Đảng, tính giai cấp công nhân ở mức độ nào, sự trưởng thành về
mặt chính trị đến đâu còn phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động ĐHCT của người dạy. Như vậy,
tính đảng, tính giai cấp vốn có trong bản thân LLCT không đồng nhất với tính đảng, tính giai
cấp trong giảng dạy LLCT. Tuy có sự thống nhất, nhưng không phải cứ giảng dạy LLCT là tự
đào tạo đã xác định.
Từ những vấn đề nêu trên, có thể đi đến quan niệm về ĐHCT trong giảng dạy LLCT như
sau:
ĐHCT trong giảng dạy LLCT là hoạt động của giáo viên trong quán triệt, thực hiện mục
tiêu, yêu cầu đào tạo, trong thiết kế nội dung, lựa chọn các hình thức, phương pháp, phương
tiện giảng dạy phù hợp nhiệm vụ, đối tượng đào tạo, nhằm định hướng xây dựng những phẩm
chất chính trị - xã hội phù hợp mục tiêu, yêu cầu đào tạo
Nhìn chung, chất lượng và hiệu quả của ĐHCT phụ thuộc chủ yếu vào nhân tố chủ quan vai trò người dạy. Song, ĐHCT lại chứa đựng bên trong nội dung khách quan, phản ánh tính
tất yếu của nhiệm vụ chính trị trong giáo dục và đào tạo sĩ quan; phản ánh đặc điểm cụ thể về
mục tiêu, đối tượng đào tạo và điều kiện sư phạm cụ thể. Nội dung khách quan của ĐHCT qui
định trở lại đối với các mặt hoạt động của chủ thể giảng dạy, đòi hỏi chủ thể giảng dạy phải
tôn trọng quy luật khách quan, nắm vững đặc điểm cụ thể trong thực hiện ĐHCT. Truyền đạt
nội dung mang tính áp đặt, chủ quan, bất chất quy luật sẽ không đem lại kết quả tích cực trong
ĐHCT. Như vậy, ĐHCT trong giảng dạy là sự thống nhất chặt chẽ giữa yêu cầu tự thân của
họat động giảng dạy LLCT với vai trò năng động, tự giác, sáng tạo của chủ thể giảng dạy.
ĐHCT và tính ĐHCT trong giảng dạy LLCT là hai khái niệm gần gũi nhau nhưng không đồng
nhất. Giữa chúng có mối quan hệ thống nhất, biện chứng tác động qua lại, quy định lẫn nhau,
chuyển hoá cho nhau trong những điều kiện sư phạm xác định. Tính ĐHCT luôn gắn liền và phụ
thuộc tất yếu vào các hoạt động định hướng của chủ thể giảng dạy. Nghĩa là, ĐHCT được tổ chức,
thực hiện như thế nào thì tính ĐHCT cũng được phản ánh trên các mặt hoạt động sư phạm một
cách tương ứng. Ngược lại, tính ĐHCT trong giảng dạy luôn phản ánh một cách trung thực và
trực tiếp các hoạt động ĐHCT của chủ thể. Tính ĐHCT càng sâu sắc bao nhiêu thì càng chứng
minh chủ thể đã thể hiện được khả năng, trình độ ĐHCT tốt bấy nhiêu. Chẳng hạn, nếu chủ thể
giảng dạy chủ động, tự giác ĐHCT một cách vững chắc, mang tính khoa học cao, tính thực tiễn,
tính chiến đấu sâu sắc ở cả mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy thì tính
chất chính trị của định hướng đó được thể hiện ở sự chuyển biến tích cực về nhận thức, tư tưởng,
về trình độ giác ngộ, thái độ, quan điểm niềm tin chính trị ở người học. Do vậy, muốn tăng cường
tính ĐHCT theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy LLCT, nhất thiết phải bắt đầu từ
Tính ĐHCT trong giảng dạy LLCT được thể hiện rất phong phú, đa dạng trên nhiều nội
dung và hình thức khác nhau, ở đây luận án tập trung bàn về một số nội dung biểu hiện
chủ yếu trong giảng dạy LLCT ở các trường SQBĐH
Một là, quán triệt nguyên tắc tính Đảng cộng sản, tính giai cấp công nhân trong toàn bộ
quá trình giảng dạy LLCT.
Tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp công nhân trong giảng dạy LLCT là những khái niệm có
mối quan hệ thống nhất biện chứng, đan xen vào nhau, chứa đựng trong nhau, trong mối quan
hệ xác định giữa chúng có thể chuyển hóa cho nhau. Tuy nhiên, thống nhất nhưng không đồng
nhất. Mỗi tính chất có tính độc lập tương đối, phản ánh một khía cạnh nhất định của tính chính
trị trong giảng dạy. Trong đó, tính Đảng Cộng sản là hạt nhân cốt lõi, linh hồn sống của tính
giai cấp công nhân; đồng thời, tính Đảng phản ánh sự thống nhất chặt chẽ giữa tính cách mạng,
tính khoa học, tính sáng tạo; giữa lý luận với thực tiễn; giữa lý thuyết với thực hành; giữa mục
tiêu đào tạo với phương pháp đào tạo. Ngược lại, tính giai cấp công nhân có nội hàm rộng hơn,
phạm vi bao quát lớn hơn tính Đảng Cộng sản. Chẳng hạn, khi giảng dạy, người dạy có thể
trình bày nhiều quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng chưa hẳn đã đạt được
tính Đảng Cộng sản vì những quan điểm, tư tưởng đó thiếu sự gắn bó với tính khoa học, xa rời
thực tiễn, lý luận suông, chung chung...
Tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp công nhân là nguyên tắc lớn chỉ đạo mọi hoạt động
giảng dạy LLCT, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung và bản chất của ĐHCT. V.I.Lênin
đã nhận xét: Không có nội dung tư tưởng rõ ràng và được cân nhắc kỹ lưỡng thì công tác cổ
động sẽ rỗng tuếch. Biểu hiện tập trung nhất của việc vận dụng nguyên tắc này trong giảng
dạy LLCT là hướng toàn bộ nội dung và phương pháp vào đào tạo đội ngũ cán bộ, sĩ quan có
đầy đủ phẩm chất chính trị và năng lực công tác, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm
vụ chính trị được giao. Quán triệt tính Đảng cộng sản, tính giai cấp công nhân là xuất phát từ
bản chất, mục đích chính trị- thực tiễn của lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
lối quan điểm của Đảng. Nguyên tắc này đã được C.Mác và Ph.Ăngghen đề cập trong tác
phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”. Các ông cho rằng: trong xã hội có giai cấp, mọi hệ tư
tưởng đều mang bản chất giai cấp, phản ánh quan điểm lập trường, thái độ, lợi ích của một
giải làm sáng tỏ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, làm rõ sự phát triển mới về
chức năng nhiệm vụ của quân đội nhằm xây dựng phương hướng chính trị- giai cấp đúng đắn,
nâng cao năng lực nhận thức thực tiễn liên quan đến chức trách, nhiệm vụ trong tương lai của
đối tượng đào tạo.
Tính Đảng cộng sản, tính giai cấp công nhân cũng thể hiện ở sự tuân thủ và vận dụng nguyên
tắc khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển. Trình bày những quan điểm của chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, người giáo viên phải phân
tích, giải thích đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, phải đặt những quan điểm đó vào trong những
mối liên hệ xác định, trong điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Có như vậy, người học mới hiểu hết
những giá trị lịch sử, ý nghĩa lý luận, thực tiễn của vấn đề học tập cũng như xây dựng nhận thức,
niềm tin khoa học về học thuyết Mác - Lênin về sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong đường lối,
chiến lược, sách lược của Đảng ta qua các thời kỳ lịch sử. Giáo viên càng nhận thức và vận dụng
triệt để nguyên tắc tính Đảng thì càng có khả năng sử dụng được nhiều tri thức khoa học một cách
khách quan hơn, chính xác hơn trong huấn luyện và giáo dục học viên; đồng thời, nhận thức và tôn
trọng quy luật khách quan, vận dụng linh hoạt nguyên tắc khoa học là điều kiện tốt nhất để thực
hiện tính ĐHCT trong giảng dạy.
Tính Đảng, tính giai cấp công nhân trong giảng dạy LLCT còn thể hiện ở việc đấu tranh phê
phán những quan điểm sai trái, phản động, phản khoa học. Đấu tranh vạch trần bản chất chính trị
của quan điểm, tư tưởng phản động, phản khoa học, thù địch với chủ nghĩa Mác-Lênin và CNXH là
một nguyên tắc cơ bản trong giảng dạy LLCT. Do đó, cùng với việc luận giải làm sáng tỏ tính cách
mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác- Lênin, người dạy phải làm rõ cơ sở giai cấp-xã hội, nguồn
gốc, bản chất chính trị của các quan điểm phản diện; phải lập luận, chứng minh có sức thuyết phục,
tránh tình trạng nêu ra rồi phê phán một cách chung chung, vô căn cứ; phải có sự chuẩn bị kỹ càng
và gắn chặt với nội dung học tập cụ thể, bài giảng cụ thể, lồng ghép vào nội dung giảng dạy để đấu
tranh phê phán nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng, quan điểm đúng đắn cho người học về nội
dung học tập. Qua đó, củng cố quan điểm lập trường giai cấp công nhân, xây dựng BLCT, nâng cao
khả năng và phương pháp đấu tranh tư tưởng, lý luận, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trên
mặt trận chính trị, tư tưởng, nhất là trong điều kiện hiện nay.
khác, người học phải có thái độ, động cơ, phương pháp học tập đúng đắn, khoa học. “Phải tự
nguyện, tự giác xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ chuyên môn
phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao
tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”[75,
tr.499].
Một nội dung quan trọng biểu hiện về hiệu quả tính ĐHCT trong giảng dạy LLCT là năng
lực vận dụng lý luận vào thực tiễn cuộc sống của người học. Năng lực vận dụng lý luận vào
thực tiễn là tiêu chuẩn quan trọng nhất cần phải chiếm lĩnh trong giảng dạy LLCT, đây được
coi là khâu cuối cùng của quá trình giảng dạy LLCT. Nắm vững bản chất cách mạng, khoa
học của chủ nghĩa Mác- Lênin đã khó, việc vận dụng kiến thức vào hoạt động thực tiễn còn
khó khăn hơn nhiều. Bởi vậy, trong giảng dạy, giáo viên vừa phải định hướng người học nắm
thực chất các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa phải chỉ ra cách thức vận dụng lý luận
vào điều kiện cụ thể, đặc biệt, sự vận dụng lý luận của Đảng ta vào thực tiễn cách mạng Việt
Nam. Dùng lý luận để soi sáng thực tiễn lịch sử, nhất là thực tiễn liên quan trực tiếp đến hoạt
động nghề nghiệp của họ, kể cả thực tiễn của chính bản thân họ trên các mặt nhận thức, tư
tưởng, quan điểm, lập trường và hành vi hàng ngày của họ. Cùng với việc giúp người học
nắm thực chất lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, trong giảng dạy cần chú trọng trang bị cho họ
phương pháp luận mác-xít để phân tích sâu sắc các vấn đề, các tình huống, nhất là tình huống
chính trị- xã hội liên quan đến hoạt động nghề nghiệp của họ. Calinin cho rằng: “một người
mác xít chỉ có giá trị khi nào họ biết vận dụng phương pháp mácxít để giải quyết các vấn đề
cụ thể”[13, tr.493]. Do đó, trên cơ sở trang bị tri thức LLCT, người dạy giúp người học biết
dựa vào quy luật khách quan, nhận thức và giải quyết đúng đắn mâu thuẫn, định hướng đúng
đắn công việc, ra quyết định chính xác, giải quyết vấn đề có chủ đích, có mục tiêu cụ thể.
* Tính khoa học và biểu hiện của nó trong giảng dạy LLCT
Từ điển tiếng Việt (Nxb Đà Nẵng, 1997) định nghĩa: Khoa học với tính cách là một danh
từ dùng để chỉ hệ thống tri thức phản ánh đúng đắn qui luật tự nhiên, xã hội và tư duy con
người, giúp con người có khả năng vận dụng để cải tạo hiện thực. Với tính cách là một tính
động của chủ thể giảng dạy tác động đến đối tượng đào tạo, nhằm xây dựng, phát triển
những phẩm chất, năng lực cần thiết cho người học, phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào
tạo.
Biểu hiện tính khoa học trong giảng dạy LLCT ở các trường SQBĐH.
Học thuyết Mác- Lênin là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng, ra đời từ nhu cầu cuộc
đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân và trở thành hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.
Học thuyết Mác- Lênin là vũ khí lý luận sắc bén của giai cấp công nhân và nhân dân lao động
trong cuộc đấu tranh chống lại CNTB- chế độ bóc lột cuối cùng trong lịch sử, nhằm giải
phóng giai cấp, dân tộc, nhân loại và con người khỏi ách áp bức, bóc lột, bất công, khỏi nghèo
nàn, lạc hậu. Học thuyết Mác- Lênin tự thân đã mang tính khoa học sâu sắc, bởi nó được xây
dựng không phải từ những mong muốn chủ quan hay những suy nghĩ tư biện của C.Mác và
Ph.Ăngghen mà trên cơ sở phân tích đúng đắn các quy luật vận động khách quan và những
mâu thuẫn nội tại của lịch sử xã hội đã phát triển đến một mức độ nhất định.
Cùng với tính cách mạng, tính khoa học là đặc trưng bản chất, vốn có trong lý luận MácLênin, nhưng không phải cứ giảng dạy LLCT là tính khoa học ở các quan điểm trong học
thuyết này được đem lại cho người học một cách trọn vẹn và tự nhiên, vì nó còn phụ thuộc
vào khả năng truyền đạt của chủ thể và khả năng tiếp nhận của người học như thế nào. Thực
tế, có những giáo viên truyền thụ nội dung đã làm sáng rõ tính khoa học trong các quan điểm
lý luận, nhưng cũng có những giáo viên giảng dạy chưa đem lại cho người học sự hiểu biết
đúng, đủ về bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi giáo viên nhận
thức và vận dụng đúng đắn những vấn đề có tính quy luật trong những điều kiện sư phạm cụ
thể thì tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác- Lênin được thể hiện tốt, chất lượng
giảng dạy LLCT được nâng cao. Ngược lại, nếu chủ thể không tôn trọng quy luật khách quan,
vận dụng không linh hoạt, sáng tạo thì tính khoa học và tính cách mạng bị giảm sút, thậm chí
bị triệt tiêu. Vì vậy, khi nói tính khoa học trong giảng dạy LLCT là nói đến những đòi hỏi
khách quan từ thực tiễn giảng dạy mà giáo viên cần phải đáp ứng. Song, tính khoa học có mối
quan hệ chặt chẽ với hoạt động của chủ thể và phụ thuộc trực tiếp vào trình độ, năng lực sư
phạm của chủ thể giảng dạy. Tính khoa học trong giảng dạy LLCT được biểu hiện cụ thể ở
những khía cạnh chủ yếu sau: