LUẬN án TIẾN sĩ mối QUAN hệ GIỮA điều KIỆN KHÁCH QUAN và NHÂN tố CHỦ QUAN TRONG PHÁT TRIỂN lý TƯỞNG xã hội CHỦ NGHĨA ở THANH NIÊN QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 40

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết đầy đủ

Chữ viết tắt

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Chủ nghĩa cộng sản

CNCS

Chủ nghĩa tư bản

CNTB

Chủ nghĩa đế quốc

CNĐQ

Chính trị quốc gia

CTQG

Quân đội nhân dân

QĐND

Quốc phòng toàn dân

quả cho hoạt động thực tiễn.
Tri thức khoa học là một thành tố rất quan trọng của lý tưởng XHCN, là cơ sở để
xây dựng niềm tin khoa học của con người.
Tri thức khoa học giúp cho những người cách mạng nắm vững những quy luật vận
động và phát triển khách quan của lịch sử; trên cơ sở đó mà quyết tâm hành động
theo những quy luật đó, tiến hành thắng lợi cách mạng XHCN, xoá bỏ CNTB và xây
dựng thành công CNCS văn minh. Tri thức khoa học cũng giúp cho những người cách
mạng biết hành động như thế nào để có thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản và xây dựng


thành công xã hội CSCN văn minh một cách có hiệu quả nhất, ít tổn thất nhất; biết
phát hiện ra những mâu thuẫn và cách giải quyết các mâu thuẫn đó; biết dự báo khoa
học về tương lai để định hướng đúng đắn những hành động của mình.
Niềm tin khoa học là sự tin tưởng trước hết vào những lý luận khoa học đã được
kiểm nghiệm trong thực tiễn và sau đó là cả những lý thuyết được đề xuất có căn cứ
khoa học vững chắc tuy chưa có điều kiện kiểm nghiệm hoàn toàn trong thực tiễn.
Trường hợp sau, thường xảy ra đối với các tư tưởng, các học thuyết khoa học xã hội.
Vì khác với các nghiên cứu trong lĩnh vực tự nhiên, trong lĩnh vực nghiên cứu xã hội,
như C.Mác đã nhận xét: Người ta không thể dùng kính hiển vi hay những chất phản
ứng hoá học được. Sức trừu tượng hoá phải thay thế cho cả hai cái đó.
Niềm tin khoa học của lý tưởng XHCN là nhận thức của người cách mạng về khả
năng thắng lợi tất yếu của CNXH và CNCS; về tính hiện thực của những khát vọng
vươn tới tự do, bình đẳng; về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; về sức mạnh của quần
chúng nhân dân và khả năng của chính bản thân mình. Đó là sự hoà quyện giữa tri
thức khoa học và tình cảm cách mạng. Niềm tin đó được tạo lập trên cơ sở thế giới
quan duy vật, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cộng sản. Đặc trưng quan
trọng nhất của niềm tin khoa học là sự thấm nhuần chân lý các nguyên lý lý luận, sẵn
sàng chứng minh, bảo vệ chân lý trong bất luận hoàn cảnh nào; là thái độ nhất quán
giữa nhận thức chân lý và hành động theo chân lý, dù có phải hy sinh cả tính mạng
của mình. Niềm tin khoa học là động lực mạnh mẽ nhất thôi thúc người cách mạng

để con người phá triển toàn diện, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản
thân mình.
Để đạt được mục tiêu đó phải kết hợp bốn sự nghiệp giải phóng: giải phóng giai
cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại, giải phóng cá nhân con người. Trước
hết phải giải phóng con người ra khỏi xiềng xích áp bức, bóc lột, xoá bỏ chế độ
chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với tư cách là “phương tiện” để áp bức, bóc
lột, “công cụ” để nô dịch con người, chiếm đoạt lao động của người khác; là làm cho
lao động mang tính tự do, sáng tạo và nhân đạo hơn, biến lao động thành nhu cầu bậc
nhất trong đời sống nội tâm con người. Chỉ thông qua lao động một cách tích cực, tự
giác, sáng tạo, con người mới thực sự có điều kiện phát triển toàn diện.
Lý tưởng XHCN mang tính khách quan, khoa học, nó phản ánh xu thế phát triển tất
yếu của xã hội loài người. Đó là ước vọng của quần chúng nhân dân lao động được
đặt trên cơ sở lý luận khoa học và khả năng hiện thực hoá. Sự ra đời của chủ nghĩa
Mác đã đặt những tư tưởng, những ước nguyện của giai cấp công nhân và nhân dân


lao động trên cơ sở khoa học. Bằng hai phát hiện vĩ đại: quan niệm duy vật về lịch sử
mà nền tảng của nó là học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội và học thuyết về giá trị
thặng dư, C.Mác - Ph.Ăng ghen đã chứng minh sự diệt vong của CNTB và sự thắng lợi
của CNXH, CNCS đều là tất yếu như nhau. Với việc làm sáng tỏ sứ mệnh lịch sử
toàn thế giới của giai cấp công nhân (được coi là phát hiện vĩ đại thứ 3) C.Mác Ph.Ăng ghen đã chứng minh tính tất yếu đó được đảm bảo bởi một lực lượng xã hội
có thật nằm ngay trong kết cấu của xã hội tư bản, mà do địa vị kinh tế - xã hội của nó
không những có khả năng thủ tiêu xã hội cũ, còn sáng tạo nên xã hội mới.
Tất cả những điều đó đã đập tan mọi quan niệm sai lầm cho rằng xã hội loài người
là do thần linh, thượng đế sinh ra, đã có sự sắp đặt an bài; rằng CNTB là thiên
đường, là vĩnh hằng; và do đó mọi ý tưởng về một chế độ xã hội tốt đẹp hơn CNTB
là ảo tưởng viển vông (!).
Lý tưởng XHCN có mặt bất biến được in đậm trong tư duy, lẽ sống, nếp sống của
con người như tính cộng đồng, tính tập thể, tính nhân dạo, nhân văn cao cả. Nhưng
cũng có mặt khả biến, phản ánh quá trình vận động phát triển không ngừng của thực

Nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới, mang bản chất giai cấp công nhân, đại
diện cho lợi ích, quyền lực và ý chí của nhân dân lao động. Thực chất của nhà nước
XHCN là nhằm xác lập, bảo vệ và phát triển nền dân chủ XHCN, để đem lại quyền


làm chủ cho đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Do đó tất yếu phải trấn áp đối
với các thế lực phản cách mạng, đi ngược lại lợi ích của quần chúng nhân dân lao
động và của cả xã hội.
Nhà nước XHCN còn là công cụ để quần chúng nhân dân lao động thực hiện sức
mạnh sáng tạo của mình trong xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc . Nhân dân làm
chủ thông qua nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng là thể hiện sự tập trung thống
nhất, có tổ chức, có lãnh đạo, tạo nên sức mạnh đoàn kết của toàn xã hội.
Về kinh tế: Đó là lý tưởng về một chế độ xã hội có lực lượng sản xuất phát triển
cao với năng suất lao động tăng không ngừng, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu
sản xuất.
Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lê nin, mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở
vật chất - kỹ thuật tương ứng. Chủ nghĩa xã hội là xã hội phát triển cao hơn CNTB.
Quan hệ sản xuất TBCN dựa trên sở hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất - cái hình
thức chật hẹp đó đã trở thành xiềng xích đối với sự phát triển của lực lượng sản
xuất đã xã hội hoá cao. Do đó, xoá bỏ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, xác lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất của
xã hội trở thành một yêu cầu khách quan. Mọi cuộc cách mạng xã hội lật đổ chế độ
cũ, thiết lập chế độ mới bao giờ cũng phải coi vấn đề chế độ sở hữu là vấn đề hết
sức quan trọng và rất cơ bản của phong trào. Nhưng các cuộc cách mạng trước kia chỉ
nhằm hoàn thiện chế độ sở hữu tư nhân. Trái lại, mục tiêu lý tưởng XHCN là “xoá
bỏ chế độ tư hữu”. Tuy nhiên, không phải là xoá bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là
xoá bỏ chế độ sở hữu tư sản, và quá trình đó diễn ra dần dần, chứ không phải ngay
lập tức. Đúng như Ph.Ăng ghen khẳng định : “... chỉ khi nào đã tạo nên được một khối



bỏ chế độ tư hữu sẽ góp phần giải phóng con người khỏi các tai hoạ khác như nô dịch,
áp bức dân tộc, góp phần tạo ra sự bình đẳng, hữu nghị, hợp tác giữa các dân tộc.
Mục đích của CNXH chẳng những giải phóng con người mà còn tạo mọi điều kiện
đề con người phát triển toàn diện, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình
và thực hiện sự công bằng, bình đẳng xã hội.
Về văn hoá: Quan niệm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như tư
tưởng Hồ Chí Minh về CNXH là sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hoá của một thể chế xã hội phát triển hoàn chỉnh. Trong đó, nhân
tố văn hoá có vai trò hết sức to lớn.
Văn hoá là hệ thống những chuẩn mực giá trị tinh thần của dân tộc, thể hiện dưới
những sắc thái muôn hình, muôn vẻ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống và hoạt
động xã hội, trong sinh hoạt cá nhân, gia đình, tập thể tạo nên sự gắn kết về mặt tinh
thần của xã hội, bảo đảm cho sự trường tồn của quốc gia, sự phát triển của cộng đồng
dân tộc. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không thể có sự phát triển
kinh tế bền vững và dù đời sống vật chất cao, xã hội cũng không tránh khỏi khả năng
biến chất. Hồ Chí Minh khẳng định “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” [59, 76]. Vì
vậy, “Học! Học nữa! Học mãi” là phương châm sống của những người cộng sản.


Nền văn hoá mà chúng ta đã và đang xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc mang nội dung cốt lõi là độc lập dân tộc và CNXH, kết tinh truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa văn hoá nhân loại. Để đảm bảo tính chất
tiên tiến và giữ gìn được bản sắc dân tộc của nền văn hoá nước ta, cần phải giải
quyết đúng đắn các mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, kế thừa và phát triển,
dân tộc và quốc tế. Đó là quá trình tạo nên động lực tinh thần, xây dựng con người
đạt tới trình độ phát triển cao về trí tuệ, đạo đức, nhân cách vươn lên làm chủ khoa
học kỹ thuật tiên tiến và cuộc sống bản thân, đủ sức chiến thắng chủ nghĩa cá nhân.
Do đó, chăm lo giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài, là
quốc sách hàng đầu của nhà nước XHCN. Vì “muốn xây dựng CNXH, trước hết cần
có con người XHCN” [59, 13]. Coi con người là động lực quan trọng bậc nhất, Hồ

Trước khi xuất hiện CNXH khoa học đã từng tồn tại chủ nghĩa xã hội không tưởng,
thể hiện nguyện vọng mong muốn thiết lập một xã hội kiểu mới, trong đó không còn
tình trạng người bóc lột người và tất cả các hình thức bất bình đẳng khác về xã hội.
Tiêu biểu cho trào lưu đó là những nhà không tưởng Tô mát Morơ (1478-1535), Hăng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status