LUẬN án TIẾN sĩ mối QUAN hệ GIỮA CON NGƯỜI với vũ KHÍ TRONG CHIẾN TRANH bảo vệ tổ QUỐC VIỆT NAM xã hội CHỦ NGHĨA CHỐNG CUỘC TIẾN CÔNG BẰNG vũ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với cách tiếp cận nào, con người và vũ khí cũng luôn luôn là hai yếu tố cơ bản
tạo nên sức mạnh chiến đấu của quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia, cơ sở để
giành thắng lợi trong chiến tranh. Vì thế, việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ
giữa con người và vũ khí là một vấn đề lý luận và thực tiễnquan trọng của quá
trình xây dựng quân đội và sức mạnh quân sự quốc gia.
Trong thế giới ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác phát triển đan xen với đấu
tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc quyết liệt, tình hình tiếp tục diễn biến phức tạp,
khó lường. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang vẫn tồn tại với tính chất ngày
càng phức tạp. Khoa học công nghệ, trong đó có Khoa học công nghệ quân sự
ngày càng phát triển mạnh mẽ, dẫn tới sự ra đời vũ khí công nghệ cao, làm thay
đổi nhiều quan niệm về cách thức chuẩn bị và tiến hành chiến tranh truyền thống.
Cuộc chiến tranh xâm lược bằng vũ khí công nghệ cao do Mỹ và đồng minh tiến
hành ở I-rắc (1991), ở Nam Tư (1999) và ở Áp-ga-ni-xtan (từ tháng 11 năm 2001)
đã và đang đặt ra những vấn đề rất cấp thiết trong lý luận về mối quan hệ giữa con
người và vũ khí. Kết cục của tất cả các cuộc chiến tranh và xung đột nói trên đã để
lại những nhận thức và những cách lý giải khác nhau, thậm chí đối lập nhau, của
các nhà nghiên cứu quân sự. Nhận thức về mối quan hệ giữa con người và vũ khí
trong các trường hợp đó sẽ có tác động không nhỏ tới sự thành bại của các cuộc
chiến tranh bảo vệ nền độc lập của các dân tộc trong tương lai.
Việc Mỹ một lần nữa ngang nhiên tuyên bố tiến công xâm lược I-rắc, đồng thời,
tăng cường chạy đua vũ trang, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của nhiều
quốc gia, đưa quân vào một số nước trên thế giới, đã làm cho việc chuẩn bị đất
nước ta sẵn sàng đánh thắng cuộc tiến công xâm lược hằng vũ khí công nghệ cao


đã trở thành nhu cầu trực tiếp. Do vậy, một mặt cần quán triệt sâu sắc, tạo nên sự
nhất trí trong nhân dân và quân đội đối với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về mối quan hệ giữa con người và vũ khí;
mặt khác cần khắc phục tư tưởng, quan điểm cường điệu vũ khí công nghệ cao,

phòng, tháng l0/1999; "Chiến tranh Cô-xô-vô nhìn từ góc độ quân sự", Thông tin
chuyên san của Trung tâm Thông tin khoa học - công nghệ - môi trường, Bộ Quốc
phòng tháng 11/1999... đều nhằm giới thiệu và đưa ra những nhận xét bước đầu về
cuộc chiến tranh Cô-xô-vô (1999). Trên tạp chí Khoa học quân sự số 1 (19) tháng
1/2001 có bài viết của Võ Văn Bá về "Mối quan hệ giữa công nghệ và việc tiến
hành chiến tranh".
Những công trình của các tác giả Việt Nam chủ yếu nghiên cứu bản chất, vai trò
của mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong sức mạnh chiến đấu của quân đội
nhân dân Việt Nam hoặc nội dung, biện pháp xây dựng nhân tố chính trị - tinh thần
cho quân đội và nhân dân trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Tuy vậy, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách hệ thống, cơ bản và trực
tiếp về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của Iuận án:
Nghiên cứu làm rõ thực chất mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến
tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí
công nghệ cao, đề xuất yêu cầu và các giải pháp cơ bản nhằm giải quyết đúng đắn
mối quan hệ giữa con người và vũ khí nếu cuộc chiến tranh đó xảy ra.


Nhiệm vụ của luận án:
- Luận giải mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh và những
đặc điểm của nó trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
chống cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
- Phân tích sự tác động của cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao đến mối
quan hệ giữa con người và vũ khí và những yêu cầu mới đối với việc giải quyết
mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa chống cuộc tiến công bằng vũ khí công nghệ cao.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ

7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, ba chương (7 tiết), kết luận, danh mục công trình
khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục.
Chương 1
THỰC CHẤT MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VÀ VŨ KHÍ TRONG
CHIẾN TRANH BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHỐNG CUỘC TIẾN CÔNG BẰNG VŨ KHÍ CÔNG NGHỆ CAO
1.1 Mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh và những nét
mới của nó trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao


1.1.1. Khái niệm về mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh
Chiến tranh là một hiện tượng xã hội - chính trị có nhiều mối quan hệ phức hợp,
trong đó mối quan hệ giữa con người và vũ khí là một trong các mối quan hệ cơ
bản. Có nhiều cách khái quát về mối quan hệ này. Theo chúng tôi, mối quan hệ
giữa con người và vũ khí trong chiến tranh cần được tiếp cận từ sự thống nhất,
tương tác giữa con người với vũ khí nhằm tạo nên sức mạnh chiến thắng kẻ
thù, bảo vệ lợi ích của một giai cấp, nhà nước, dân tộc nhất định.
Con người trong mối quan hệ với vũ khí trước hết là những cá nhân hiện thực,
những thực thể xã hội sinh động thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội, giữa
nhân tố vật chất và nhân tố tinh thần cùng toàn bộ hoạt động và ý nghĩa của các
hoạt động ấy. Trong chiến tranh, con người tác động vào vũ khí bằng tất cả phẩm
chất, năng lực, sở trường và sở đoản vốn có của yếu tố người trong mối quan hệ
với yếu tố vũ khí. Con người trong mối quan hệ với vũ khí còn là những tập thể
quân sự gồm các thành viên quan hệ với nhau theo một cơ chế tổ chức quân sự
nhất định, nhằm tạo nên sự thống nhất về nhận thức và hành động trong quá trình
sử dụng vũ khí để đạt được mục đích hoạt động của cả tập thể. Song, dù là cá nhân
hay tập thể với những cách thực thực hiện chức năng nhiệm vụ khác nhau, thì toàn
bộ hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người trong mối quan hệ

thức, biện pháp sử dụng con người, vũ khí trong sự kết hợp theo một phương thức
nào đó để đánh địch phù hợp với những nguyên tắc tác chiến nhất định; còn nói


đến phương thức kết hợp con người và vũ khí chủ yếu là đề cập đến tổng thể các
hình thức, cách thức biện pháp để tạo ra những điều kiện và động lực nhằm duy trì,
gia tăng sự liên kết, tương tác giữa con người và vũ khí, từ đó phát huy cao nhất
sức mạnh của chúng trong chiến tranh.
Sự ra đời, vận động, biến đổi của phương thức tác chiến cũng như phương thức
kết hợp con người và vũ khí phụ thuộc có tính quyết định vào số lượng, chất lượng
con người, vũ khí. Sự biến đổi của số lượng, chất lượng con người, vũ khí đến một
mức độ nào đó buộc phương thức tác chiến phải thay đổi theo. Song đến lượt nói
phương thức tác chiến cũng tác động trở lại rất lớn đến số lượng, chất lượng con
người, vũ khí. Phương thức tác chiến phù hợp sẽ thúc đẩy số lượng, chất lượng con
người, vũ khí phát triển, theo đó kết quả đấu tranh vũ trang được củng cố, tăng
cường và ngược lại. Xét dưới góc độ phương pháp luận, đây là sự phù hợp trong sự
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, giữa xu hướng có tính ổn định tương
đối của phương thức tác chiến với xu hướng thường xuyên biến đổi của số lượng,
chất lượng con người, vũ khí trong chiến tranh, và do đó, với phương thức kết hợp
con người và vũ khí. Sự phù hợp luôn có xu hướng bị phá vỡ, và bản thân nó cũng
là quá trình thường xuyên vận động biện chứng từ phù hợp đến không phù hợp và
đến phù hợp cao hơn.
Có nhiều phạm vi và cấp độ phù hợp khác nhau của phương thức tác chiến với
phương thức kết hợp con người và vũ khí - lý luận và thực tiễn đã chỉ rõ: ngoài
phạm vi và cấp độ chung, sự phù hợp giữa phương thức tác chiến với phương thức
kết hợp con người và vũ khí còn được thể hiện một cách độc lập tương đối ở các
cấp độ chiến lược, chiến dịch và chiến thuật. Có thể có phương thức tác chiến
chiến lược phù hợp, nhưng phương thức tác chiến chiến dịch, chiến thuật lại không
phù hợp và ngược lại. Ngoài ra, một phương thức tác chiến được coi là phù hợp
với phương thức kết hợp con người và vũ khí còn phải được xem xét trong mối

Trước hết, con người điều khiển, định hướng, kiểm soát mọi quá trình sử dụng vũ
khí như một quá trình thống nhất giữa mặt kỹ thuật - quân sự và mặt chính trị - xã
hội, ở góc độ kỹ thuật - quân sự, trình độ, tính chất của quá trình điều khiển, sử
dụng vũ khí trong chiến tranh phụ thuộc trực tiếp vào trình độ KHCN, nên mỗi
trình độ KHCN sẽ có phương thức điều khiển vũ khí riêng. Về mặt xã hội, điều
khiển vũ khí thực chất là quá trình định hướng việc sử dụng vũ khí cho mục đích
chiến thắng kẻ thù, là mặt thể hiện tập trung nhất vai trò của con người đối với vũ
khí trong chiến tranh. Như vậy, nếu như về mặt kỹ thuật, việc điều khiển trực tiếp
vũ khí ngày càng được chuyển giao cho các phương tiện kỹ thuật và vai trò con
người ngày càng trở nên gián tiếp, thì về mặt chính trị - xã hội, chỉ có con người
mới xác định được mục đích sử dụng vũ khí mà không thể có bất cứ một phương
tiện kỹ thuật nào thay thế được.
Vai trò của con người đối với vũ khí trong chiến tranh còn được thể hiện như
một trung tâm điều phối, tiếp nhận, xử lý các Thông tin, hình thành mối liên hệ
giữa vũ khí với các yếu tố khác, duy trì sự cân bằng, ổn định của sức mạnh chiến
đấu, tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy vũ khí phát triển. Điều đó khẳng định một
trong những nội dung quan trọng nhất thể hiện vai trò của con người đối với vũ khí
là con người quyết định hiệu quả thực tế của vũ khí. Trước hết, môi trường sử
dụng vũ khí trong chiến tranh là môi trường nguy hiểm, mang tính đối kháng quyết
liệt. Đối tượng mà vũ khí hướng tới huỷ diệt là con người và các phương tiện kỹ
thuật của đối phương. Tất nhiên, đối phương cũng luôn luôn sẵn sàng tìm mọi cách
phòng tránh, đánh trả, làm giảm thiểu, thậm chí triệt tiêu sức mạnh của vũ khí. Đó
là đặc điểm lớn nhất, chi phối hiệu quả sử dụng vũ khí trong chiến tranh. Thứ
hai, môi trường sử dụng vũ khí trong chiến tranh là tổng hoà sự tương tác bên
trong và những tác động bên ngoài khá đặc biệt mà kết cục của chiến tranh trực
tiếp phụ thuộc vào đó. Hơn nữa, các yếu tố bảo đảm, phụ trợ duy trì hoạt động của


vũ khí như thiết bị bảo dưỡng, phụ tùng thay thế thường ở trạng thái không đầy đủ
hoặc hoàn toàn không có.Thứ ba, khó khăn, phức tạp vốn có của môi trường quân

những phương thức độc đáo kết hợp giữa con người và vũ khí, phù hợp với con
người, vũ khí và môi trường tác chiến của Việt Nam.
Chúng ta đã tạo ra phương thức kết hợp giữa con người Việt Nam với vũ khí ở
nhiều trình độ khác nhau, từ thô sơ, tương đối hiện đại tới hiện đại; thực hiện kết
hợp giữa con người và vũ khí ở nhiều quy mô và không gian khác nhau. Con người
và vũ khí được kết hợp trong các trận đánh nhỏ, đánh vừa và đánh lớn; kết hợp ở
trên bộ, trên biển và trên không; ở cả rừng núi, đồng bằng và thành thị; ở tiền
tuyến, hậu phương của ta và cả trong vùng tạm chiếm, hậu phương của địch. Hình
thức kết hợp đa dạng, nội dung kết hợp phong phú đã giúp chúng ta huy động được
mọi lực lượng của toàn dân tộc với tất cả các phương tiện VKTBKT của đất nước,
thực hiện chiến lược tiến công, làm cho địch ở đâu cũng bị đánh, đến đâu cũng bị
diệt, luôn luôn lâm vào thế bị động và buộc phải chấp nhận thất bại hoàn toàn.
Đặc biệt, sự kết hợp chặt chẽ giữa con người Việt Nam với VKTBKT ở nhiều
trình độ khác nhau là một sáng tạo lớn, tạo nên khả năng mới, chất lượng mới của
mối quan hệ. Thứ nhất, trong một đội hình tác chiến, sự kết hợp đó cho phép huy
động được lực lượng chiến đấu đông đảo, bao gồm : dân quân du kích, bộ đội địa
phương, bộ đội chủ lực để hình thành một thế trận liên hoàn, hiểm hóc, vừa có
chiều rộng vừa có chiều sâu; có khả năng đánh địch ở mọi hướng, mọi tầm...; vừa
có khả năng phòng ngự kiên cường, vừa bảo đảm hiệu quả cơ động tiến công địch,
tạo nên lưới lửa vô hình luôn bủa vây quân thù.Thứ hai, việc sáng tạo phương thức
kết hợp vũ khí thô sơ “có nguyên lý hoạt động và cấu tạo đơn giản, thường được
chế tạo bằng các phương pháp thủ công, tận dụng những nguyên liệu sẵn có, khai


thác dễ dàng”[76, tr. 927] với những con người có bản lĩnh chính trị vững vàng,
được trang bị kiến thức KHCN hiện đại sẽ đem lại sức mạnh mới, hiệu quả to lớn
đủ khả năng đánh bại cuộc tiến công bằng VKTBKT hiện đại của CNĐQ. Trong
cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ(1964- 1972), chúng ta
đã dùng dụng cụ phá bom mìn thông thường và thô sơ gồm khung dây phóng từ
đơn giản, kéo tôn, thép và vật kim khí để kích nổ 8287/12664 quả bom, mìn địch

và nghị lực. Thực tiễn của các cuộc chiến tranh gần đây như ở Trung Đông đã
chứng minh rằng, nếu vũ khí ở trong tay những con người hèn nhát nhu nhược
thiếu thông minh sáng tạo thì nhất định hiệu lực của vũ khí sẽ suy giảm, thất bại là
khó tránh khỏi.
Xét đến cùng, con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng vũ khí. Song, trong
chiến tranh, vũ khí tác động trở lại rất lớn đến con người. Trước hết, vũ khí là
phương tiện vật chất chủ yếu nhất để đấu tranh vũ trang, để tiến hành hoạt động
quân sự. Không có vũ khí, con người không thể tiêu diệt được kẻ thù, không thể tự
bảo vệ được mình. V.I.Lê nin chỉ rõ: “Một quân đội giỏi nhất, những người trung
thành nhất cũng đều lập tức bị kẻ thù tiêu diệt nếu họ không được vũ trang đầy đủ”
[39, tr. 497]. Mặt khác, con người, với tư cách là nhân tố trung tâm điều khiển, xử
lý, liên kết, duy trì các mối liên hệ trong sức mạnh chiến đấu, cũng chỉ có thể điều
khiển, định hướng, kiểm soát được vũ khí trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ
về nó, đặc biệt là nhận thức về vai trò tác động trở lại của vũ khí đối với chính con
người.
Sự tác động của vũ khí đối với con người trong chiến tranh biểu hiện trên nhiều
góc độ khác nhau. Vũ khí trở thành một trong những tiền đề khách quan cơ bản để
xác lập phương thức tư duy và hành động chiến đấu của con người. Số lượng, chất


lượng của vũ khí là căn cứ của tư duy lý luận chiến lược, chiến dịch, chiến thuật và
các hoạt động chiến đấu, bồi kỹ thuật quân sự bao giờ cũng là cơ sở của nghệ thuật
quân sự. Việc hoạch định phương thức tiến hành chiến tranh, xác định nội dung và
hình thức của chiến dịch, của một trận chiến đấu đều có cơ sở khách quan từ thực
trạng số lượng, chất lượng và xu thế vận động, biến đổi của VKTBKT. Vũ khí
không chỉ tác động đến nhận thức và hoạt động tổng hợp của con người trong
chiến tranh, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến trạng thái tinh thần của nhân dân và
quân đội. Nhận thức, đánh giá đúng về số lượng, chất lượng, tìm đúng điểm mạnh,
điểm yếu của vũ khí là cơ sở để hình thành, phát triển lý tưởng, quyết tâm chiến
đấu, điều chỉnh biên chế tổ chức, phát triển KHNTQS, đồng thời là cơ sở để con

khả năng giải phóng con người ở mức cao nhất, triệt để nhất, cách mạng vô sản sau
khi giành được thắng lợi sẽ giúp giai cấp vô sản có một phương thức tiến hành
chiến tranh ưu việt hơn hẳn giai cấp tư sản. Thực tiễn của cuộc nội chiến cách
mạng ở nước Nga xô-viết ( 1918 - 1922) diễn ra sau Cách mạng Tháng Mười
(1917) cũng như cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của nhân dân ta diễn
ra sau Cách mạng Tháng Tám (1945) đã chứng minh điều đó.
1.1.2. Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự vận động của mối quan hệ con
người và vũ khí trong chiến tranh
Như mọi sự vật, hiện tượng khác mối quan hệ giữa con người và vũ khí cũng
luôn luôn vận động, phát triển. Sự vận động đó khởi đầu từ nhu cầu của con người
dẫn đến sự phát triển, hoàn thiện của VKTBKT. Và từ sự phát triển của VKTBKT
lại làm bộc lộ sự hạn chế, bất cập về phẩm chất, năng lực của con người, buộc con
người phải hoàn thiện phẩm, chất năng lực chiến đấu của mình. Sự phát triển của
hai nhân tố này tới một giới hạn nhất định sẽ mâu thuẫn với phương thức kết hợp


giữa con người và vũ khí về phương thức tác chiến hiện có. Sự vận động của mâu
thuẫn đó chính là nguồn gốc, động lực của sự phát triển của mối quan hệ giữa con
người và vũ khí trong chiến tranh.
Tuy nhiên, sự vận động, phát triển của mối quan hệ giữa con người và vũ khí
không chỉ phụ thuộc vào mâu thuẫn ấy, mà còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác.
Những nhân tố thường xuyên tác động tới con người, vũ khí, và phương thức kết
hợp chúng từ đó chi phối sự vận động, phát triển của mối quan hệ giữa con người
và vũ khí. Vì thế, việc nghiên cứu những nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến sự vận
động, phát triển của mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh có ý
nghĩa rất lớn trong quá trình nhận thức và vận dụng nhằm xử lý đúng đắn và phát
huy tốt nhất tính ưu việt của nó trong chiến tranh .
Trong chiến tranh số lượng, chất lượng của con người, vũ khí cũng như phương
thức kết hợp giữa con người và vũ khí bị quy định trước hết bởi sức mạnh quân sự
quốc gia, bao gồm tổng thể các lực lượng vật chất và tinh thần của một nước và

phát, nhất thời mà là động lực cơ bản thường xuyên thúc đẩy mọi hoạt động của
các giai cấp trong cả thời bình và thời chiến, trong đó có hoạt động nhằm giải
quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Với ý nghĩa này, mục đích tiến hành
chiến tranh như “một quy luật”, “quyết định phương thức hành động” của các bên
tham chiến và “bắt ý chí của họ phải phục tùng nó”[42, tr. 267].
Mục đích tiến hành chiến tranh tác động đến mối quan hệ giữa con người và vũ
khí chủ yếu được thể hiện dưới hai hình thức. Thứ nhất, mục đích tiến hành chiến
tranh là động lực thúc đẩy chính chủ thể đã sinh ra nó, tức là giai cấp thống trị,
phải nhận thức và xử lý đúng về mối quan hệ giữa con người và vũ khí. Thứ


hai, mục đích tiến hành chiến tranh của giai cấp, nhà nước khi được chuyển hoá
thành mục đích của cả quốc gia, dân tộc sẽ là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy
toàn thể quần chúng nhân dân tham gia chiến tranh, từ đó làm chuyển hoá vai trò
của con người và vũ khí trong chiến tranh. Cho nên, khả năng tác động của mục
đích tiến hành chiến tranh đến mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến
tranh phụ thuộc trực tiếp vào tính chất xã hội của cuộc chiến tranh, cũng như hiệu
quả các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trong quân đội và nhân dân về mục đích
đó. Song, tính chất tiến bộ hay phản động của mục đích tiến hành chiến tranh bao
giờ cũng ảnh hưởng lớn nhất đến sự tương tác giữa con người và vũ khí trong
chiến tranh.
Mục đích tiến hành chiến tranh tiến bộ luôn luôn phù hợp với quy luật phát triển
tất yếu của lịch sử, với xu thế của thời đại và với nguyện vọng chính đáng của
nhân dân lao động. Cho nên, nó không chỉ đáp ứng lợi ích của những người lãnh
đạo chiến tranh mà còn đáp ứng nhu cầu, lợi ích của tuyệt đại bộ phận quần chúng
nhân dân, nhu cầu tồn tại của quốc gia, dân tộc. Khi mỗi cộng đồng người trong
quốc gia, dân tộc đều tìm thấy trong mục đích tiến hành chiến tranh trên bộ sự phù
hợp với lợi ích trước mắt và lợi ích cơ bản lâu dài của mình thì mối quan hệ giữa
con người và vũ khí sẽ có điều kiện giải quyết một cách tối ưu và phát huy cao
nhất sức mạnh quân sự tổng hợp của đất nước. Đó là cơ sở khách quan làm nảy

của nhân dân thế giới, thậm chí không nhận được sự ủng hộ, giúp dỡ của nhân dân
trong nước. Ngược lại, có những giai cấp tiến hành chiến tranh phi nghĩa, nhưng
do thủ đoạn tuyên truyền xảo quyệt nên đã lừa gạt được khá đông quần chúng, kích
động cả một dân tộc, một khối liên minh lao vào vòng chiến, gây nên những thảm
họa khôn lường.


Sự lãmh đạo của giai cấp thống trị cũng là một trong những nhân tố quyết định
thúc đẩy sự biến đổi mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh. Giai
cấp thống trị lãnh đạo chiến tranh thông qua chính đảng và toàn bộ hệ thống tổ
chức chính trị của mình. Đó là quá trình liên tục từ việc định ra đường lối, tổ chức
thực hiện đường lối, đến kiểm tra thực hiện đường lối nhằm khơi dậy, phát huy
mọi tiềm năng của quốc gia, dân tộc, khối liên minh, tạo nên sức mạnh giành chiến
thắng. Như vậy, quá trình lãnh đạo chiến tranh thực chất là quá trình giai cấp thống
trị phát huy vai trò năng động chủ quan để tác động vào tiến trình và kết cục chiến
tranh, thông qua việc trực tiếp can thiệp vào mối quan hệ giữa con người và vũ khí.
Vì thế, có thể xem sự lãnh đạo của giai cấp thống trị tác động tới mối quan hệ giữa
con người và vũ khí là sự tác động của chủ quan đến khách quan. Đó là quá trình
diễn ra thường xuyên, liên tục, nhưng chủ yếu thông qua con đường xây dựng
LLVT về chính trị và xây dựng các tiềm lực để tạo nên sức mạnh quân sự quốc gia,
cho nên các giai cấp khác nhau sẽ có cách nhận thức và giải quyết mối quan hệ
giữa con người và vũ khí không giống nhau. Mặt khác, hiệu quả của sự tác động
này còn phụ thuộc vào toàn bộ quá trình lãnh đạo và chất lượng của từng mắt khâu
trong quá trình đó.
Với tư cách nhân tố thúc đẩy sự biến đổi mối quan hệ giữa con người và vũ khí,
sự lãnh đạo của giai cấp thống trị mà trước hết là việc định ra đường lối tiến hành
chiến tranh luôn tác động đến mối quan hệ giữa con người và vũ khí theo hai
phương thức cơ bản. Thứ nhất, bằng hệ thống chính sách, pháp luật, nó trực tiếp
định hướng cho tất cả các hoạt động chuẩn bị và tiến hành chiến tranh, trong đó có
con người, vũ khí và phương thức kết hợp các thành tố ấy nhằm xác lập, củng cố,

sát việc tổ chức thực hiện đường lối ấy. Đây thực chất là quá trình tiếp tục điều


chỉnh nhằm phát triển, hoàn thiện và thực hiện đường lối chính trị, thông qua phát
hiện và giải quyết mâu thuẫn, khắc phục sai lầm, phát huy nhân tố tích cực. Điều
đó tác động rất lớn đến mối quan hệ giữa con người và vũ khí, không chỉ thể hiện ở
việc nhân rộng, phát huy những thành tựu, những mặt tích cực những thắng lợi nhờ
giải quyết đúng đắn mối quan hệ đó, mà còn thể hiện ở khả năng phát hiện, kiềm
chế, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm trong quá trình tổ chức thực hiện, vừa làm giảm
thiểu sự tổn thất con người, vũ khí vừa củng cố niềm tin cho quần chúng và khẳng
định sức mạnh của giai cấp thống trị trong quá trình lãnh đạo chiến tranh. Ngược
lại, kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối không tốt thì không chỉ làm thui chột
những nhân tố tích cực, những điều kiện thuận lợi, mà còn nhân thêm tổn thất, làm
cho tổn thất từ cục bộ trở thành toàn cục, từ chiến thuật thành chiến lược.
Tiềm lực khoa học quân sự là nhân tố thúc đẩy sự vận động biến đổi của mối
quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh, qua đó làm cho mối quan hệ
ấy ngày càng hoàn thiện. Với trung tâm là KHNTQS, tiềm lực khoa học quân sự là
cơ sở lý luận cho đường lối tiến hành chiến tranh của một chính đảng, một giai
cấp, định hướng toàn bộ quá trình chuẩn bị và huy động các lực lượng, phương
tiện phục vụ nhu cầu chiến tranh, cho nên không thể không tác động trực tiếp đến
mối quan hệ giữa con người và vũ khí trong chiến tranh. Phần lớn các nhà nghiên
cứu đều thống nhất rằng, khoa học quân sự là một hệ thống tri thức về tính chất,
quy luật của chiến tranh và khởi nghĩa vũ trang, về chuẩn bị LLVT, xây dựng quốc
phòng và chuẩn bị đất nước cho chiến tranh, về phương thức tiến hành chiến tranh
và các hoạt động quân sự khác của LLVT và nhân dân trong thời chiến cũng như
thời bình... Hệ thống tri thức phong phú này phản ánh trình độ và trạng thái tiềm
lực khoa học của một quốc gia về lĩnh vực quân sự ở một thời điểm nhất định,
đồng thời phản ánh tốc độ, xu hướng, khả năng phát triển và hiệu quả của nó thông
qua việc góp phần giải quyết những nhiệm vụ quân sự. Vì thế, trong chiến tranh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status