LUẬN án TIẾN sĩ mối QUAN hệ BIỆN CHỨNG GIỮA đổi mới KINH tế với đổi mới CHÍNH TRỊ ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 38

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại thắng Mùa xuân 1975 đã mở ra trang sử mới của dân tộc; Đất nước hoà bình,
độc lập, thống nhất và cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Dưới sự lãnh đạo
của Đảng và do sự nỗ lực của toàn dân, công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta đã đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Song, do cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan,
những gì đã đạt được đó còn rất xa mới đáp ứng yêu cầu của dân tộc và thời đại. Để
nâng cao chất lượng và hiệu quả xây dựng CNXH, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước - từ đổi
mới tư duy đến đổi mới tổ chức bộ máy, đổi mới phương pháp lãnh đạo, đổi mới
phong cách hoạt động; từ đổi mới kinh tế đến đổi mới chính trị. Trong tổng thể chung
của sự nghiệp đổi mới đó, đổi mới kinh tế theo hướng chuyển từ nền kinh tế tập trung
quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xem
là trọng tâm; đồng thời cũng đã từng bước đổi mới về chính trị theo hướng từng bước
hình thành và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nội hàm cơ bản của nó
là: Toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.
Những thành tựu của quá trình đổi mới toàn diện đất nước nói chung, của quá
trình giải quyết đúng đắn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nói
riêng đã đưa đất nước ta thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế- xã hội để bước
vào giai đoạn mới - đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Đó là
cơ sở thực tiễn để khi tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VII xem: "Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới
chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị"
là một trong sáu bài học kinh nghiệm lớn được tích luỹ qua 10 năm đó.
Trong khi khẳng định những thành quả to lớn trong việc nhận thức và giải quyết
quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị cùng những biến đổi tích cực trong
thực tiễn do chúng mang lại, chúng ta cũng không thể không thấy rằng trên bình diện


nhận thức lý luận lẫn tổ chức thực tiễn còn tồn tại những khiếm khuyết, lệch lạc nhất

đổi mới đó bị tách rời nhau, gây ra hậu quả xấu cho cả đổi mới kinh tế lẫn đổi mới
chính trị.
Mặt khác, trong thực tiễn đổi mới cũng xuất hiện hai cực đoan dẫn tới giải quyết
không thật đúng mối tương quan giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Một là, có
lúc, có nơi xuất hiện sự định hướng phiến diện của chính trị đối với kinh tế, không
đánh giá đầy đủ vai trò chỉ đạo của chính trị, của quan điểm chính trị đúng đắn đối với
việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Không kịp thời ngăn chặn sai lầm đó sẽ làm cho
các trung tâm quyền lực rơi vào tình trạng thụ động, làm tăng những nhân tố tự phát
không thể kiểm soát được trong nền kinh tế thị trường . Hai là, có hiện tượng chính trị
tách rời kinh tế; đây đó có lúc xuất hiện thái độ coi thường các nhu cầu kinh tế, tuyệt
đối hoá sức mạnh của các quyết định chính trị, làm cho các quyết định đó mất cơ sở
khách quan trên nền tảng kinh tế. Sự lệch lạc như vậy sẽ đưa chúng ta rơi vào sai lầm
của chủ nghĩa chủ quan duy ý chí.
Vì vậy, hiện nay, việc tiếp tục làm rõ hơn nữa quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi
mới chính trị nhằm tìm ra giải pháp đúng đắn thúc đẩy sự đổi mới trên hai lĩnh vực này
vẫn là vấn đề cấp bách.
Từ suy nghĩ đó, tôi chọn vấn đề :" Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và
đổi mới chính trị ở nước ta hiện nay" làm đối tượng nghiên cứu trong luận án của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước yêu cầu bức xúc của công cuộc đổi mới, vấn đề quân đội giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị là một đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà lý luận, do vậy, đã
có nhiều công trình có liên quan tới đề tài này được công bố. Chẳng hạn, " Kinh tế thị
trường và định hướng XHCN" của GS Bùi Ngọc Chưởng (Tạp chí Cộng sản, 12/1994);
"NEP - Một cách tiếp cận mới mang tính nguyên tắc của V. I. Lênin về CNXH" của
PTS Nguyễn Thế Nghĩa (Tạp chí Triết Học, 2/1995); "Đổi mới và phát triển các thành
phần kinh tế" của PTS Đỗ Hoài Nam (Nxb CTQG, Hà Nội, 1993); "Bài học kinh
nghiệm về việc xử lý mối quan hệ giữa cải tổ chính trị và cải tổ kinh tế ở Liên Xô



tới quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, do đó, chúng tôi tập trung chú
ý vào vấn đề quan hệ giữa đổi mới quan hệ lợi ích kinh tế và đổi mới quan hệ quyền
lực chính trị.
5. Cái mới về mặt khoa học của luận án
- Góp phần làm sáng tỏ sự biểu hiện có tính đặc thù của luận điểm về quan hệ
giữa kinh tế và chính trị do chủ nghĩa Mác-Lênin nêu ra trong sự vận dụng cụ thể
vào việc xem xét quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở
nước ta hiện nay.
- Đề xuất được một số phương hướng và giải pháp có giá trị nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả vận dụng mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta
trong những năm trước mắt.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
6.1. Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài
ra, luận án còn kế thừa một cách chọn lọc các công trình nghiên cứu của các nhà khoa
học trong và ngoài nước ở thời kỳ đổi mới, cải cách và cải tổ ở các nước XHCN hay
vốn là XHCN. Đặc biệt, người làm luận án coi trọng việc kết hợp giữa lý luận đổi mới
và thực tiễn đang đổi mới hiện nay để rút ra những vấn đề cần thiết.
6.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng tổng hợp
các quan điểm phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, đặc biệt là phương pháp
luận về mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị. Các phương pháp lôgíc và
lịch sử, phân tích và tổng hợp, trừu tượng hoá và khái quát hoá, phương pháp thống
kê… được đặc biệt chú ý khi giải quyết các vấn đề của luận án.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án


- Luận án đã góp phần làm rõ hơn quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị; những kinh nghiệm thành công cũng như những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện
cùng những phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức và hiệu
quả thực tiễn giải quyết quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay.

Trong "kinh tế", nhân tố có vai trò to lớn nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản
xuất; ngoài ra, còn phải kể đến quan hệ giữa người với người trong quá trình tổ chức,
quản lý sản xuất và tái sản xuất, trong phân phối và tiêu dùng sản phẩn được làm ra
trên cơ sở tính chất của chế độ sở hữu đó.
Những ý niệm sơ khai liên quan tới vấn đề vừa nêu đã được manh nha ở châu
Âu từ thời cổ đại và trung cổ, đặc biệt từ khi xuất hiện môn kinh tế chính trị. Thuật
ngữ "kinh tế chính trị" lần đầu tiên được nhà kinh tế học người Pháp là môngcrèxchiên
(M……..hrestien) sử dụng vào năm 1615 [70,tr.54]. Các quan điểm trên, ở mức này
hay mức khác, được Petti (W.Petty), D.Ricácđô (D.Ricardo) ở Anh và Boagmbe
(Boisguibert), Xixmônđi (Sismondi) ở Pháp phát triển.
Kế thừa có chọn lọc thành quả của những người đi trước, dựa trên những cứ liệu
được rút ra từ thực tiễn lịch sử nói chung, thực tiễn của chủ nghĩa tư bản đương thời
nói riêng, từ những năm 40 của thế kỷ XIX, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác đã
vạch ra những bí mật của các quá trình kinh tế, giải thích bản chất và động lực phát
triển của kinh tế một cách khoa học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong Hệ tư tưởng Đức, C. Mác và Ph. Ăngghen đã xác
định rằng, tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, do đó, cũng là của lịch sử,
là người ta phải sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử. Nhưng, như C. Mác và Ph.
Ăngghen đã chỉ ra, muốn sống được, trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở,
quần áo và một vài thứ khác. Muốn có những thứ đó, người ta phải tiến hành sản xuất.
Đời sống sẽ chấm dứt, xã hội sẽ tiêu tan, nếu hoạt động đó ngưng lại.
Việc sản xuất ra của cải vật chất luôn luôn được lặp đi, lặp lại không ngừng hoặc ở trình độ tái sản xuất giản đơn, hoặc ở trình độ tái sản xuất mở rộng. Trong mỗi
quá trình sản xuất như vậy đều có sự kết hợp của hai yếu tố cơ bản cấu thành lực lượng
sản xuất: Người lao động (sức lao động), tư liệu sản xuất (bao gồm tư liệu lao động và
đối tượng lao động). Sức lao động được vận dụng trong quá trình lao động - một loại
hình hoạt động có mục đích, có ý thức diễn ra trong mỗi quá trình giữa con người với
tự nhiên và giữa con người với nhau nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho
phù hợp với yêu cầu của con người. Trong quá trình lao động, người ta, một mặt, tác
động vào tự nhiên, mặt khác, lại tác động lẫn nhau, có quan hệ với nhau để sản xuất ra
của cải vật chất. Vì thế, quá trình sản xuất ra của cải vật chất sẽ làm nảy sinh "quan hệ

chính trị tương ứng; ngược lại, thượng tầng chính trị, pháp lý đó cũng có tác động
mạnh tới sự vận động và phát triển của kinh tế. Sự tác động lại đó có hai khả năng
cơ bản: Thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, khi đó là thứ chính trị đúng đắn, khoa
học; kìm hãm sự phát triển của kinh tế, khi đó là thứ chính trị sai lầm (bao gồm cả
thứ chính trị "tả" khuynh lẫn hữu khuynh).
Từ việc nghiên cứu sâu sắc quan hệ biện chứng giữa chính trị và kinh tế đã từng
diễn ra trong lịch sử, chủ nghĩa Mác-Lênin nêu lên hai luận điểm nền tảng: Một
là, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế; hai là, chính trị không thể không
chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế.
"Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế" [76,tr.9]. Điều đó có nghĩa là, so
với kinh tế, chính trị là sự phản ánh, là "tính thứ hai"; không có những quan hệ chính
trị và quy luật chính trị độc lập tuyệt đối với các quan hệ và qui luật kinh tế. Tuy
nhiên, từ luận điểm trên cũng cần lưu ý rằng chính trị không phải là cái gương soi đối
với đời sống kinh tế, mà là sự biểu hiện tập trung của kinh tế. Nó phản ánh mang tầm
khái quát, làm bộc lộ cái bản chất nhất của đời sống kinh tế, cái cơ bản nhất, cái mang
tính chi phối trong đời sống kinh tế. Chính loại yếu tố đó quy định nội dung căn bản
nhất của chính trị thuộc chủ thể cầm quyền. Cho nên, không phải kinh tế có kết cấu đa
dạng như thế nào thì chính trị cũng có sự đa dạng tương ứng như thế. Chẳng hạn, nền
kinh tế trong xã hội đang ở bước chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội TBCN mang
trong mình cả những yếu tố kinh tế phong kiến - gia trưởng thậm chí cả một số yếu tố
của nền kinh tế tiền phong kiến, bên cạnh đó là những yếu tố của nền kinh tế mới kinh tế TBCN. Chính trị của giai cấp cầm quyền đương thời (giai cấp tư sản) trước hết
là sự phản ánh những yêu cầu bức xúc của các nhân tố kinh tế TBCN, làm cho kinh tế
này từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, chi phối mọi yếu tố kinh tế khác. Trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay cũng đang tồn tại nhiều thành
phần kinh tế khác nhau. Chính trị của chúng ta hiện nay là sự biểu hiện tập trung của
nền kinh tế đó, trong đó, việc làm cho kinh tế Nhà nước từng bước vươn lên nắm được
vai trò chủ đạo được xem là một nội dung vô cùng quan trọng của nó.


"Chính trị không thể không chiếm vị trí ưu tiên so với kinh tế" (V. I. Lênin) là

thuẫn; đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội (trong xã hội có giai cấp); nhu cầu và lợi
ích… Tất cả các yếu tố đó đều gắn bó chặt chẽ với con người, chúng được thể hiện
thông qua hoạt động của con người. Trong số các động lực đó, nhu cầu và lợi ích là
nhân tố gắn bó chặt nhất với con người. Do vậy, chúng đóng vai trò là động lực đặc
biệt nhất, thúc đẩy con người làm ra lịch sử của mình, vô luận là lịch sử này diễn ra
như thế nào. Lợi ích kinh tế là nhân tố cuối cùng tạo nên các động lực làm chuyển
động quảng đại quần chúng, những giai cấp và dân tộc trọn vẹn… và đó là sự chuyển
động lâu dài đưa đến những biến đổi lịch sử vĩ đại.
Trong xã hội có giai cấp, quan hệ giữa các giai cấp (thuộc lĩnh vực chính trị)
trước hết và chủ yếu biểu hiện quan hệ giữa các lợi ích mà các giai cấp đó đang theo
đuổi. Quan hệ lợi ích giữa các giai cấp cũng hết sức đa dạng, bởi vì, lợi ích mà các giai
cấp theo đuổi có nhiều loại khác nhau: Có lợi ích vật chất- kinh tế, có lợi ích chính trị,
có lợi ích văn hoá… Trong tính đa dạng, muôn vẻ của các lợi ích đó, quan điểm duy
vật về lịch sử đòi hỏi phải khẳng định vị trí ưu trội, vai trò chi phối của lợi ích vật chất
- kinh tế so với các loại lợi ích khác. Thực tế lịch sử loài người từ khi phân chia thành
giai cấp đến nay mang lại nhiều bằng chứng để khẳng định rằng, giai cấp nào nắm
được hầu hết tư liệu sản xuất trong tay thì đó cũng là giai cấp nắm vị trí chi phối trong
việc tổ chức xã hội về lao động, chiếm hầu hết sản phẩm do xã hội làm ra - tức là lợi
ích kinh tế cơ bản của giai cấp đó được thực hiện. Nhờ vậy, nó cũng là giai cấp chi
phối quyền lực chính trị, chi phối đời sống tinh thần. Tư tưởng thống trị trong mọi xã
hội có giai cấp là tư tưởng của giai cấp chi phối tư liệu sản xuất vật chất. Quan điểm
duy vật lịch sử đó của chủ nghĩa Mác-Lênin là sự tổng kết, là sự khái quát trung thực
từ toàn bộ lịch sử xã hội có giai cấp và được chứng minh bởi toàn bộ thực tiễn lịch sử
đó. Hiện thực của chủ nghĩa tư bản hiện đại mang lại cho chúng ta bằng chứng sống
động cho phép khẳng định một lần nữa tính đúng đắn của quan điểm mác - xít nêu
trên. Theo tờ Diễn đàn thông tin quốc tế ngày 4-7-2000, hiện nay tài sản của ba người
giàu nhất thế giới lớn hơn tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của 48 nước kém phát triển
nhất với trên 600 triệu dân; năm 1997, các nước giàu nhất chiếm 20% dân số thế giới
lại nắm 86% GDP, 82% xuất khẩu hàng hoá, 93% người sử dụng Internet; trong khi
đó, các nước nghèo nhất với 20% dân số thế giới thì chỉ nắm có 1%GNP và 0,2%

(không tuỳ thuộc vào cá nhân) đem lại. Đến lượt mình, chúng sẽ góp phần thúc đẩy
(hoặc kìm hãm) sự phát triển của xã hội như một quá trình lịch sử - tự nhiên. Chính
điều đó quy định tính khách quan trong mối quan hệ qua lại giữa chính trị và kinh tế,
giữa quyền lực chính trị và lợi ích kinh tế.
Thứ hai, nó mang tính giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, con người cá nhân và
con người giai cấp không tách biệt nhau. Điều đó được quy định trước hết bởi điều
kiện kinh tế, điều kiện sở hữu về tư liệu sản xuất, điều kiện sản xuất vật chất và hưởng
thụ thành quả của quá trình sản xuất vật chất. Điều kiện kinh tế- xã hội khác nhau sẽ
qui định lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị khác nhau. Trong xã hội có giai cấp, theo
C. Mác và Ph. Ăngghen cần tìm nguồn gốc của các nhu cầu và lợi ích xã hội ở trong
những quan hệ sản xuất và phải quy những hiện tượng ấy vào lợi ích của những giai
cấp nhất định; cần tìm lời giải thích cho các quá trình kinh tế trong lợi ích của các
nhóm xã hội khác nhau. Đấu tranh giai cấp, suy cho cùng, cũng nhằm thoả mãn lợi ích
giai cấp và lợi ích của mỗi thành viên giai cấp nhất định nào đó. V. I. Lênin cũng đã
cảnh tỉnh là: Chừng nào người ta chưa phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay giai
cấp khác qua những câu nói, những lời hứa hẹn cho tính chất đạo đức, tôn giáo, chính
trị và xã hội, thì trước sau bao giờ cũng là kẻ ngốc nghếch, bị người khác lừa bịp mình
về chính trị.
Các nhà kinh điển mác - xít cũng đã dự báo sự chuyển hoá từ tính giai cấp nhỏ
hẹp của lợi ích sang tính chung, giá trị phổ biến của nó. Theo c. Mác, sự phụ thuộc của
những cá nhân vào những giai cấp nhất định sẽ bị xoá bỏ, khi hình thành một giai cấp
không phải bảo vệ một lợi ích giai cấp riêng biệt chống lại giai cấp thống trị. Sự ra đời
của giai cấp vô sản cầm quyền sẽ tạo ra điều kiện cho sự chuyển hoá đó. Bởi vì, để giải
phóng mình và toàn xã hội nói chung, sau khi trở thành giai cấp cầm quyền, nó phải
biểu hiện lợi ích của bản thân mình như là lợi ích phổ biến. Trong quá trình đi đến thủ
tiêu Nhà nước, thủ tiêu giai cấp và, cùng với nó, là lợi ích giai cấp, thì lợi ích kinh tế
và quyền lực chính trị luôn mang dấu ấn giai cấp, luôn in đậm nét quan hệ giữa các
giai cấp trên cơ sở các quan hệ sản xuất cụ thể và kiến trúc thượng tầng tương ứng.
Thứ ba, quan hệ đó mang tính chất lịch sử - xã hội. Đây là hệ quả của hai tính
chất trên. Tình chất này được xác định bởi chỗ, mức độ thoả mãn và đáp ứng đối với

Nội dung và tính chất cụ thể của quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực
chính trị bị quy định bởi cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội - giai cấp được nảy sinh từ
cơ cấu kinh tế đó, bởi các mâu thuẫn kinh tế - xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp…
Trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, mối quan hệ đó có nội dung và
hình thức biểu hiện không như nhau.
Trong xã hội cộng sản nguyên tuỷ không có chế độ chiếm hữu tư nhân đối với
tư liệu sản xuất, không có tính trạng phân chia thành giai cấp, không có quan hệ giai
cấp và, do đó, không có chính trị, không có quyền lực chính trị, đương nhiên
cũng không có quan hệ lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị. Trong xã hội này chỉ có
thể ra đời và tồn tại quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực xã hội phi chính
trị. Ở đây, lợi ích kinh tế thể hiện ở sở hữu chung đối với tư liệu sản xuất và tiêu dùng
chung đối với sản phẩm mà công xã làm ra. Phù hợp với phân công lao động còn rất
hạn chế, cơ cấu xã hội chỉ giới hạn ở sự mở rộng của đại gia đình thị tộc. Nhiều thị tộc
hợp thành bộ lạc. Bộ lạc có cơ cấu: Dưới tù trưởng là những thành viên bộ lạc và cuối
cùng là những người lao động. Thoạt đầu, đứng đầu thị tộc là phữn (nên gọi thị tộc
mẫu hệ), về sau, gần cuối chế độ cộng sản nguyên thuỷ, do trồng trọt và chăn nuôi phát


triển, người đàn ông dần dần đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh tế và , do đó,
giữ địa vị chi phối thị tộc.
Về mặt tổ chức quyền lực xã hội: Mỗi thị tốc có hội nghị toàn thị tộc do tộc
trưởng xếp đặt. Các thị tộc bầu ra tộc trưởng đứng đầu thị tộc và tham gia vào hội
đồng bộ lạc. Khi có chiến tranh, bộ lạc bầu ra thủ lĩnh quân sự. Tù trưởng và thủ lĩnh
quân sự không được ưu đãi về vật chất hơn những người khác. Quyền uy của những
người có cương vị trong công xã chỉ nặng về tinh thần và họ có thể bị hội nghị toàn thị
tộc bãi miễn. Ở đây mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực xã hội phi chính trị,
nhìn chung, là hài hoà và thống nhất.
Cuối chế độ cộng sản nguyên thuỷ, sự thống nhất này bị phá vỡ từng bước và
xuất hiện mâu thuẫn giữa lợi ích kinh tế của người lao động và bộ phận nắm giữ hệ
thống quyền lực xã hội. Mâu thuẫn đó xuất hiện là do sự phát triển của công cụ sản

sự, một bộ phận người lao động tự do. Chế độ tư hữu đã thúc đẩy mối quan hệ tương
tác giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị không phải theo chiều hướng thống nhất,
hài hoà đối với mọi thành viên xã hội, đối với mọi giai cấp, mà theo chiều gia tăng của
sự đối kháng giữa các giai cấp. Sự gia tăng đó được quy định bởi sự gia tăng của đối
lập trong quan hệ lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị giữa giai cấp thống trị (chủ nô)
và giai cấp bị trị (nô lệ). Đối với từng giai cấp trong hai giai cấp đó luôn có sự thống
nhất: Giai cấp chủ nô là chủ thể của hầu hết tư liệu sản xuất, do vậy, là chủ thể của hầu
hết lợi ích kinh tế thì họ cũng là chủ thể của quyền lực chính trị; ngược lại, nô lệ, về cơ
bản, không có lợi ích kinh tế nên cũng không có lợi ích chính trị và quyền lực chính trị
nói chung.
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, lợi ích kinh tế lớn nhất của chủ nô là quyền
chiếm hữu cả về tư liệu sản xuất và nô lệ. Lợi ích kinh tế lớn nhất mà người nô lệ đấu
tranh để thoát khỏi tình trạng nô lệ của mình là trở thành chủ nhân của một mảnh
ruộng nhỏ bé hay đàn gia súc. Mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị
thể hiện ở việc chiếm hữu và đấu tranh thoát khỏi nạn chiếm hữu nô lệ, ruộng đất; ở
việc tăng cường Nhà nước quân sự chủ nô hay chống lại nó.
Nhìn nhận vấn đề từ sự tiến bộ lịch sử, sự tác động qua lại giữa lợi ích kinh tế và
quyền lực chính trị khi ra đời chế độ chiếm hữu nô lệ đã mang lại những tiến bộ nhất
định. Chẳng hạn, Nhà nước chủ nô tập trung số lượng lớn tư liệu sản xuất và nô lệ
(bằng những biện pháp cưỡng bức, bóc lột tàn bạo) để tổ chức việc hiệp tác lao động
giản đơn trên quy mô lớn và lẻ tẻ có sự phân công trong nội bộ từng ngành sản xuất,
tức là, ở mức độ nhất định, có chuyên môn hoá thành những nghề khác nhau. Thật vậy,
trong nông nghiệp, bên cạnh trồng lúa, dần dần có nghề vườn, chăn nuôi súc vật, chế
biến sản phẩm nông nghiệp.v.v. Trong thủ công nghiệp và công nghiệp, có khai
khoáng, luyện kim, rèn mộc, làm đồ trang sức, dệt vải… "Nhờ đó tạo ra được khối
lượng lớn sản phẩm thặng dư và các công trình xây dựng (kiến trúc, thuỷ lợi) to lớn từ
sự tập trung số lượng lớn lao động nô lệ" [79, tr. 54-58].
Sự áp bức, bóc lột dã man của chủ nô đã đưa đến hậu quả chính trị là tăng cường
cuộc đấu tranh giai cấp giữa nô lệ và chủ nô. Quyền lực chính trị tàn bạo của chủ nô đã
mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho giai cấp chủ nô trong điều kiện trình độ lực lượng

và sở hữu theo những cộng đồng nhỏ hẹp như hộ gia đình, phường hội thủ công… Sự
tách rời hoàn toàn giữa lao động và quyền sở hữu tư liệu sản xuất được thực hiện triệt
để, giữa công nhân và tư bản đối lập nhau như là người bán và người mua hàng hoá
[80, tr.22-23]. Động cơ chủ yếu của lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị thuộc giai
cấp tư sản là bóc lột giá trị thặng dư, tư do mua bán hàng hoá (đặc biệt là hàng hoá sức
lao động), cạnh tranh và thao túng bộ máy Nhà nước vì mục đích tìm kiếm lợi nhuận
siêu ngạch. Trái lại, lợi ích kinh tế cơ bản và yêu cầu quyền lực chính trị tương ứng
của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động là xoá bỏ tình trạng lao động trở thành
hàng hoá, họ phải trở thành chủ thể thực sự của mọi tư liệu sản xuất, loại bỏ tình trạng
bóc lột giá trị thặng dư- mang lại những tiến bộ nhất định. Chẳng hạn, Nhà nước chủ
nô tập trung số lượng lớn tư liệu sản xuất và nô lệ (bằng những biện pháp cưỡng bức,
bóc lột tàn bạo) để tổ chức việc hiệp tác lao động giản đơn trên quy mô lớn và lẻ tẻ có
sự phân công trong nội bộ từng ngành sản xuất, tức là, ở mức độ nhất định, có chuyên
môn hoá thành những nghề khác nhau. Thật vậy, trong nông nghiệp, bên cạnh trồng
lúa, dần dần có nghề vườn, chăn nuôi súc vật, chế biến sản phẩm nông nghiệp, v.v.
Trong thủ công nghiệp và công nghiệp, có khai hoang, luyện kim, rèn, mộc, làm đồ
trang sức, dệt vải, … "Nhờ đó tạo ra được khối lượng lớn sản phẩm thặng dư và các
công trình xây dựng (kiến trúc, thủy lợi) to lớn từ sự tập trung số lượng lớn lao động
nô lệ"[79, tr. 54-58].
Sự áp bức, bóc lột dã man của chủ nô đã đưa đến hậu quả chính trị là tăng cường
cuộc đấu tranh giai cấp giữa nô lệ và chủ nô. Quyền lực chính trị tàn bạo của chủ nô đã


mang lại lợi ích kinh tế khá lớn cho giai cấp chủ nô trong điều kiện trình độ lực lượng
sản xuất còn rất thấp kém, hơn nữa, quyền lực chính trị đó đã được tổ chức thành bộ
máy chà đạp người lao động và dùng chiến tranh để duy trì, mở rộng quyền lực chính
trị.
Dưới chế độ phong kiến, lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của giai cấp cầm
quyền (gia cấp địa chủ, phong kiến) được nhằm vào việc chiếm hữu ruộng đất, cống
nạp địa tô của nông dân và duy trì Nhà nước tập quyền với sự cát cứ của các lãnh chúa

cấp công nhân, của nhân dân lao động là xoá bỏ tình trạng lao động trở thành hàng
hoá, họ phải trở thành chủ thể thực sự của mọi tư liệu sản xuất, loại bỏ tình trạng bóc
lột giá trị thặng dư - hình thức bóc lột cuối cùng trong lịch sử, do đó, cũng là loại bỏ


mọi hình thức bóc lột nói chung; quyền lực chính trị - Nhà nước phải thuộc về nhân
dân, vì nhân dân… Tính đối kháng của lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị giữa hai
giai cấp cơ bản của xã hội tư bản chủ nghĩa quy định tính đối kháng đặc trưng của mối
quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị thuộc hai giai cấp đó. Sự đối kháng
này mang tính trực tiếp nhất, rõ ràng nhất; việc khắc phục nó đòi hỏi một sự thay đổi
triệt để nhất theo xu hướng thông qua cách mạng xã hội chủ nghĩa mà chuyển quan hệ
đối kháng thành không đối kháng, tiến tới sự tiêu vong của bản thân mối quan hệ giữa
lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị (khi không còn chính trị).
Trong quá trình phát triển của lịch sử, sự chuyển hoá từ quan hệ lợi ích kinh tế
và quyền lực chính trị dựa trên chế độ chiếm hữu ruộng đất là chính sang quan hệ giữa
lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị dựa trên chiếm hữu sức lao động là chính là một
bước tiến mang tính lịch sử vĩ đại, nó gắn liền với sự ra đời và củng cố chế độ tư bản
chủ nghĩa. Đánh giá tiến bộ của kinh tế, chính trị, xã hội do sự ra đời của chủ nghĩa tư
bản mang lại, V. I. Lênin khẳng định: "Vai trò tiến bộ của chủ nghĩa tư bản về mặt lịch
sử có thể tóm tắt bằng hai luận điểm: tăng cường sản xuất của lao động xã hội và xã
hội hoá lao động"[37, tr.753-754].
Từ việc nghiên cứu quá trình chuyển biến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn tư
bản chủ nghĩa, chúng ta có thể thấy rằng, trước yêu cầu mang tính tất yếu là xoá bỏ
nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc với một thị trường hạn hẹp để mở đường cho những
quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển, những nhà tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư
sản đã đưa ra học thuyết kinh tế theo xu hướng trọng thương. Theo đó, tiền tệ, ngoại
thương là nội dung căn bản của cải, là thước đo sự hưng thịnh của quốc gia. Vì thế, vai
trò của Nhà nước (thuộc về chính trị là phải đặt trọng tâm vào việc tạo ra các điều kiện
cho sự phát triển thương nghiệp, đẩy mạnh giao lưu hàng hoá nội địa và quốc tế, tăng
khối lượng tiền tệ. Về mặt xã hội, Nhà nước nêu cao vai trò của tầng lớp nhân dân.

các ông đòi hỏi phải thủ tiêu sự tha hoá của con người do chế độ chiếm hữu tư nhân
TBCN gây ra, phải làm cho nhân dân lao động trở thành chủ sở hữu thực tế đối với tư
liệu sản xuất để, từ đó, xây dựng một xã hội thực sự công bằng, bình đẳng. Muốn vậy,
nền chính trị phải là nền chính trị của nhân dân và vì nhân dân; nhân dân phải trở
thành chủ thể duy nhất của mọi quyền lực chính trị.
Kế thừa những tư tưởng đó, các nhà sáng lập của chủ nghĩa Mác-Lênin đã bóc
trần bản chất và động cơ làm quay guồng máy và cũng gây ra mâu thuẫn đối kháng
trong quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của giai cấp vô sản và giai cấp
tư sản trong chủ nghĩa tư bản. Cốt lõi tạo thành sự đối kháng đó là: tính chất xã hội
hoá của lực lượng sản xuất trong chủ nghĩa tư bản càng cao bao nhiêu, mâu thuẫn giữa
lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá đó với tính chất chiếm hữu tư nhân tư bản chủ
nghĩa đối với tư liệu sản xuất càng gay gắt bấy nhiêu. Mâu thuẫn cơ bản trên lĩnh vực
kinh tế làm gay gắt mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong xã hội đó- mâu thuẫn
giữa tư sản và vô sản. Mâu thuẫn đối kháng trong kết cấu kinh tế, xã hội- chính trị của
chủ nghĩa tư bản không chỉ được biểu hiện trong mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và giai
cấp vô sản, mà còn được biểu hiện trong mâu thuẫn giữa Nhà nước (thuộc chính trị)
của nhóm đầu sỏ tư bản công nghiệp và tư bản tài chính với quá trình xã hội hoá lực
lượng sản xuất của xã hội. Các mâu thuẫn đó làm tăng cường cuộc đấu tranh của giai
cấp vô sản trong lòng chủ nghĩa tư bản, đẩy mạnh sự phát triển của các cuộc cách
mạng xã hội chủ nghĩa tại nhiều nước trên thế giới; đưa phong trào giải phóng của các
dân tộc thuộc địa ở giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền cuối thế kỷ XIX tiến lên và
thành cao trào vào giữa thế kỷ XX. Mặc dù có những giai đoạn thoái trào và khủng
hoảng, đổ vỡ (như sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vừa
qua), nhưng các tiền đề kinh tế và chính trị để khắc phục vòng quay phi nhân tính của
guồng máy lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị tư bản chủ nghĩa đã và đang được tạo
ra.


Như vậy, trong sự phát triển kế tục của các hình thái kinh tế- xã hội trong lịch
sử, lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị luôn có sự thống nhất đối với một giai cấp cụ

tư liệu sản xuất, các quy luật xã hội, trong giai đoạn có quy luật kinh tế, vận hành
thông qua hoạt động của con người một cách tự phát là cơ bản, tựa như những lực
lượng tự nhiên tác động một cách mù quáng sau lưng người sản xuất. Trái lại, trong xã
hội XHCN,các quy luật kinh tế và chính trị, về cơ bản, được phát huy thông qua sự
hoạt động tự giác của con người; con người có thể và cần thiết tạo điều kiện cho chúng
tác động, vận dụng chúng trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Do vậy, sự
thống nhất biện chứng giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị trong chủ nghĩa xã


hội được thực hiện thông qua việc vận dụng có ý thức mối quan hệ biện chứng giữa
các quy luật kinh tế và quy luật chính trị.
Hai điểm mới mang tính nguyên tắc trên dẫn đến các điểm mới căn bản sau
đây trong việc giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị
trong chế độ XHCN:
Một là, trong quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp công
nhân, nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi những quan hệ tư sản (hoặc tiền
tư sản) làm tha hoá con người, trước hết họ phải giành lấy quyền lực chính trị.
Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi phác hoạ những giai đoạn
lớn của cách mạng XHCN nhằm đem lại dân chủ thực sự, cụ thể là dân chủ trong việc
thực hiện và thoả mãn lợi ích kinh tế cũng như thực hiện quyền lực chính trị của nhân
dân. C. Mác và Ph. Ăngghen cho rằng, trước hết giai cấp công nhân phải tự tổ chức
thành giai cấp thống trị và giành lấy dân chủ (với ý nghĩa trực tiếp của nó là giành lấy
quyền lực Nhà nước, tức là giành lấy quyền dân chủ trên lĩnh vực chính trị), rồi sử
dụng quyền lực đó để phát triển kinh tế và mang lại lợi ích kinh tế cho quảng đại quần
chúng nhân dân.
Hai là, trong xã hội XHCN, Nhà nước đóng vai trò là thiết chế cơ bản để thực
hiện lợi ích kinh tế và quyền lực chính trị của quảng đại quần chúng nhân dân.
Học thuyết đấu tranh giai cấp mà C. Mác vận dụng vào vấn đề quan hệ sản xuất,
Nhà nước và cách mạng tất nhiên phải đi đến chỗ thừa nhận sự thống trị về chính trị
của giai cấp vô sản. Chuyên chính vô sản là công cụ chuyên chính của giai cấp công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status