Đề cương chi tiết
A.Đặt vấn đề :
B.Nội dung :
1. Quan diểm biện chứng về mâu thuẫn.
1.1. Mâu thuẫn là nguồn gốc , là động lực của phát triển.
1.2. Tính khách quan , phổ biến của mâu thuẫn.
2. Quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ
môi trường sinh thái ở Việt Nam.
2.1. Mâu thuẫn biện chứng giữa phát triển kinh tế với bảo vệ
môi trường sinh thái.
2.1.1. Khái niệm.
2.1.1.1. Phát triển kinh tế.
2.1.1.2. Môi trường sinh thái - kinh tế môi
trường.
2.1.1.3. Phát triển bền vững.
2.1.2. Phân tích sự mâu thuẫn và sự thống nhất giữa
hai mặt phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
sinh thái.
2.1.2.1. Sự đối lập .
2.1.2.2. Sự thống nhất.
2.2. T ình trạng phát triển kinh tế và b ảo vệ môi trường sinh
thái ở n ước ta trong thời gian qua.
3. Một số giải pháp để kết hợp phát triển kinh tế và bảo vệ môi
trường sinh thái ở nước ta .
C. Kết luận :
D.Danh mục tài liệu tham khảo :
-Giáo trình triết học Mác_Lênin_NXB Chính trị quốc gia, các trang 245-
247,248-240.
-Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 231-năm 2003.
-“Bảo vệ môi trường sống”-Huy Văn, báo “Nhân dân”,số 18871 ngày
15/4/2007,trang 1.
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng bình quân hàng năm là trên 7%, công
nghiệp tăng bình quân hằng năm là 12,6%.Đó là mức tăng trưởng khá cao
so với các nước trên thế giới và trong khu vực. Mục tiêu phấn đấu đã được
Đảng và nhà nước ta xác định là : “Từ giờ đến năm 2020 ra sức phấn đấu
đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp”. Theo định hướng mục tiêu
đó, dự kiến kế hoạch trong những năm tới, tăng trưởng kinh tế ở nước ta,
mặc dù có những khó khăn do tác động của khủng hoảng tài chính thế giới
và khu vực, vẫn phải được duy trì ở mức cao, khoảng 6-8%/năm. Một tốc
độ tăng trưởng khá cao như vậy sẽ còn được tiếp tục duy trì trong một vài
thập kỷ tới.
Tuy nhiên, không thể coi tốc độ phát triển cao là mục tiêu tối thượng
của chiến lược phát triển đất nước, mà xét tổng thể, còn có các biến số
khác, thậm chí căn bản hơn về dài hạn.Đó là mục tiêu hiện đại hoá (HĐH),
bao gồm HĐH kinh tế, và phát triển bền vững với hai mục tiêu cụ thể là ổn
định – công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Sự phát triển và
tăng trưởng là một điều cần thiết nhằm làm cho đất nước nhanh chóng phát
triển, hoà nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực. Nhưng đồng thời cũng
chính sự phát triển với nhịp độ cao như vậy cũng có nghĩa là một khối
lượng tài nguyên ngày càng tăng được khai thác nhiều hơn để chế biến, một
khối lượng lớn chất thải từ sản xuất và tiêu dùng hằng ngày dược thải vào
tự nhiên. Nhầt là trong vài năm gần đây, do nền kinh tế nước ta đang đi trên
con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá đã dẫn đến tình trạng môi trường
sống ngày càng ô nhiễm nặng nề, đặc biệt là ở các khu công nghiệp, khu
chế xuất, các đô thị thành phố lớn. Sự kiện ngày 7 tháng 11 năm 2006 Việt
Nam gia nhập Tổ chức Thương Mại Thế Giới (WTO) đưa nước ta đứng
trước những thời cơ và thách thức mới trong sự vận động phát triển của
toàn xã hội. Cùng với sự giao lưu kinh tế được mở rộng, khối lượng hàng
hoá trao đổi giữa Việt Nam và các nước tăng nhanh. Tuy nhiên một điều
thật trớ trêu là: quá trình tăng trưởng kinh tế cũng đồng thời tăng sử dụng
tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễn môi trường và suy giảm sinh thái . Môi
Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im , với sự ổn định tạm thời của sự vật.
Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát
triển khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập. Sự đấu tranh gắn liền với
tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển.
- Trong sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt
đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và
làm cho mâu thuẫn phát triển. Khi mới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác
nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Khi hai mặt đối
lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu
thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể
thống nhất mới, sự vật cũ mất đi sự vật mới ra đới thay thế. V.I.Lênin
viết :”Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập “. Tuy
nhiên, không có thống nhất của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh
giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách
rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Do đó mâu thuẫn là nguồn gốc, là
động lực của sự phát triển.
1.2.Tính khách quan , phổ biến của mâu thuẫn.
- Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt
trái ngược nhau. Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến
trong tất cả các sự vật. Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua
lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Mâu thuẫn biện chứng tồn tại
một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó tồn
tại dưới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên
ngoài, mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu
và mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối
kháng. Các mâu thuẫn tồn tại phổ biến trong suốt quá trình phát triển của
chúng. Không có sự vật , hiện tượng nào lại không có mâu thuẫn và không
có giai đoạn trong sự phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng lại không tồn tại
mâu thuẫn. Mâu thuẫn hết sức phong phú và đa dạng.Tính phong phú, đa
dạng đó được quy định một cách khách quan bởi đặc điểm của các mặt đối
trong mọi thời đại.
2.1.1.2. Môi trường sinh thái – kinh tế môi trường:
- Môi trường là một khái niệm tổng hợp, phức tạp, mang tính mở và phát
triển cùng với sự phát triển của khoa học – công nghệ nói riêng, của nền
kinh tế - xã hội và nhận thức của loài người nói chung.
- Kinh tế môi trường là một ngành khoa học đa ngành và mới mẻ, lấy các
vấn đề môi trường làm đối tượng nghiên cứu chính của mình và tiếp cận
chủ yếu chúng dưới góc độ kinh tế.
- Môi trường là toàn bộ các vùng địa - vật lí và sinh học, các điều kiện về
vật chất - tự nhiên, bao gồm sinh quyển (không khí, nước, đất, ánh sáng…)
và hệ sinh thái với tư cách là sản phẩm của tạo hoá, có trước con người,
tương tác lẫn nhau, và cùng tác động đến sự hình thành và phát triển của
con người cùng các hoạt động xã hội của họ. Bản thân các hoạt động sinh
tồn của con người cũng đang ngày càng làm thay đổi môi trường một cách
mạnh mẽ.
2.1.1.3. Phát triển bền vững :
- Nguồn gốc chủ yếu của sự thay đổi về môi trường sinh thái hiện nay là
các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của con người.
- Phát triển là quy luật tất yêú của tiến hoá đã và đang diễn ra trên hành
tinh của chúng ta từ khi nó được hình thành.
2.1.2.Sự đối lập và thống nhất giữa phát triển kinh tế và môi trường sinh
thái.
2.1.2.1. Sự đối lập.
- Trong đời sống, do nhu cầu về điều kiện sống của con người ngày
càng cao nên tất yếu sẽ thúc đẩy chúng ta phải phát triển kinh tế để thoả
mãn những nhu cầu của bản thân cũng như toàn xã hội. Tuy nhiên việc phát
triển kinh tế đòi hỏi phải có nguồn nguyên vật liệu để đảm bảo quá trình
mở rộng sản xuất, mà nguồn cung cấp đó lại được lấy từ tự nhiên và điều
này tất yếu đẫn đến việc ảnh hưởng tới môi trường sinh thái: khai thác quá
mức, tàn phá tài nguyên trên phạm vi rộng lớn không những làm suy thoái
cầu tiêu dùng của năm 1995, cụ thể là từ 6,89 triệu tấn (1995) lên 12,8 triệu
tấn (2010).
- Dựa trên cơ sở nhu cầu tiêu dùng nhiên liệu hoá thạch (than,
dầu)của các năm, có thể dự báo các dạng khí độc (CO2, SO2 … ) ảnh
hưởng tới chất lượng không khí. Tài liệu dự báo của Bộ Nông Nghiệp cho
thấy tổng lượng chất thải khí CO2 vào năm 2010 từ sự tiêu dùng năng
lượng sẽ tăng gấp 3 lần năm 1999. Vì vậy, ta có thể thấy từ thực tế Việt
Nam những năm qua, chúng ta càng tập trung vào các ngành công nghiệp,
xây dựng, nền kinh tế tăng trưởng càng cao thì môi trường sinh thái ngày
càng bị ảnh hưởng một cách nghiêm trọng. Đây chính là một trong những
khía cạnh chính của sự đối lập giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
sinh thái.
Chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế của đất nước nhằm mục tiêu duy
trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian dài.
-Mục tiêu chiến lược mà các ngành, các địa phương đều hướng vào là
làm cho nền kinh tế tăng gấp đôi và hơn nữa GDP trong mỗi thập kỉ phát
triển. Điều đó có nghĩa là phải duy trì tốc độ tăng trưởng trong một thời
gian dài ngày của GDP ở mức độ cao khoảng 8 - 10% / năm. Nếu như trình
độ công nghệ của sản xuất và cơ cấu sản xuất của nền kinh tế không được
cải thiện nhiều thì sự tăng trưởng GDP của đất nước cũng có nghĩa là tăng
khối lượng tài nguyên khai thác cho sản xuất và khối lượng chất thải vào
môi trường. Kết quả là ô nhiễm môi trường chắc chắn sẽ tăng lên, nhất là
khi tốc độ tăng trưởng của sản xuất công nghiệp cao (12 - 15% / năm).
Hiện tại tốc độ đổi mới công nghệ trong nền kinh tế quốc dân mới vào
khoảng 7 - 10% / năm. Định hướng chiến lược phát triển khoa hoc – công
nghệ của Việt Nam xác định tốc độ đổi mới công nghệ hàng năm khoảng
10 -15% / năm. Điều đó có nghĩa là phải sau 7 – 10 năm nền kinh tế mới
đổi mới được công nghệ của mình. Trong khoảng thời gian đó thì môi
trường đã phải chịu những tác động hết sức nặng nề.
nhờ tiết kiệm các khoản chi phí ngân sách cho bảo vệ môi trường.
2.1.2.2. Sự thống nhất .
- Vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển kinh tế là hai mặt đối lập
trong mâu thuẫn biện chứng giữa chứng. Trong mối quan hệ này sự thống
nhất của các mặt đối lập với nhau và tác động lẫn nhau theo hai hướng
chính.
2.1.2.2.1. Chiều tiêu cực :
- Môi trường là xuất phát điểm quan trọng cho việc hình thành các chính
sách kinh tế vĩ mô của nhà nước, cũng như cho việc triển khai các hoạt
động kinh tế trên thực tế, đồng thời bất cứ nền kinh tế nào vận hành trên
các nguyên tắc và thể chế không được thiết kế nhằm khuyến khích và định
hướng hành vi, thái độ ứng xử của cá nhân và tập thể người sản xuất cũng
như người tiêu dùng, ở cả cấp vĩ mô và vi mô, cũng gây tác động xấu đến
môi trường . Hơn nữa, khi đó những lợi ích kinh tế ban đầu thu được từ
việc khai thác và sử dụng bừa bãi thiên nhiên sẽ không bù lại được những
chi phí đắt đỏ và tổn thất to lớn mà con người phải hứng chịu về sau trong
quá trình khôi phục môi trường, hay để thích hợp hơn trong một môi
trường mới đã bị biến dạng, bị xuống cấp bởi chính bàn tay con người.
- Trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì con người và sự phát
triển của con người đang bị đe doạ bởi những tác động trở lại của môi
trường như sau :
+ Các vấn đề xã hội cấp bách là nạn nghèo đói đang lan tràn tại
các nước chậm phát triển, nạn thất nghiệp đang đe doạ nhiều nước
trên thế giới kể cả những nước phát triển nhất, sự cách biệt về thu
nhập vá mức sống giữa các quốc gia, cũng như giữa các nhóm
người khác nhau trong cùng một nước suy giảm về trữ lượng và
chất lượng của tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa cơ bản đối với
cuộc sống của con người: đất, nước, rừng thuỷ sản , khoáng sản và
các dạng tài nguyên năng lượng. Điều này có khả năng dẫn tới tình
trạng thiếu thốn nghiêm trọng về lương thực cho nhân loại.
trảng cỏ ngập nước theo mùa đang bị đe doạ bởi hệ thống thủy lợi và sự
chuyển đổi thành các ruộng lúa. Hiện nay, ở nhiều khu vực dọc bờ biển
Việt Nam, đặc biệt từ Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) vào phía Nam là nơi tập
trung nhiều cồn cát, các bãi biển đang bị xé nhỏ, phân lô để xây dựng khu
nghỉ mát, chỉ riêng tại vùng Khe Gà (Bình Thuận) đã có trên 100 khu, vùng
Mũi Né cũng vào khoảng 50 khu… Ở những bãi biển bình thường, việc xây
dựng hạ tầng thường không có ảnh hưởng lớn. Song, vùng cồn cát là một
hệ thống rất nhạy cảm, nên chỉ một can thiệp nhỏ cũng có thể gây ra xói
mòn, trượt cát, sụt lở và phá hủy cảnh quan. Việt Nam gia nhập WTO sẽ
làm thay đổi nhất định về kinh tế, xã hội cộng với dân số tăng nhanh, các
mô hình tiêu thụ của người dân cũng thay đổi, mạng lưới giao thông xâm
nhập tới các vùng xa xôi hẻo lánh nhất làm cho những vùng này trở nên dễ
tiếp cận hơn đối với các thị trường bên ngoài. Những thay đổi to lớn này sẽ
dẫn tới việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên tới mức độ nguy
hiểm tại nhiều vùng trên cả nước ảnh hưởng sâu sắc tới đa dạng sinh học.
Hầu hết các thực phẩm có giá trị kinh tế, trong đó có nhiều loài được dùng
làm thức ăn, chất đốt, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng hay làm đồ thủ
công mỹ nghệ đều bị khai thác triệt để nhằm phục vụ tại chỗ hoặc buôn
bán. Chẳng hạn như việc khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ; đánh bắt thủy
hải sản theo kiểu hủy diệt; săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã
là những ví dụ rất cụ thể.
Nhu cầu phát triển kinh tế cũng sẽ kéo theo việc sử dụng tài nguyên nước
ngày càng lớn, trong khi nước ta được đánh giá là một nước dưới mức
trung bình về nước tính theo đầu người so với thế giới. Nước ta lại đang
phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nước quốc tế, đến tới 65% trong khi các
quốc gia thượng nguồn cũng đang có nhiều nhu cầu về sử dụng nước.
Trong khi đó, việc gia tăng khối lượng và phạm vi khai thác nước dưới đất
sẽ dẫn tới giảm nhanh chóng mực nước dưới đất, không những làm cạn kiệt
nguồn nước mà còn làm hoang mạc hóa ở những vùng có lượng mưa thấp
và dẫn tới những biến dạng về địa hình mà điển hình là nạn sụt lún đất. Có
- Khai thác quá mức tài nguyên thuỷ sản trong các khu vực nước ngọt và
ven biển.
- Khai thác bừa bãi các rạn san hô làm vôi, bán làm kỉ niệm.
- Thâm canh nông nghiệp theo hướng tăng thuốc trừ sâu, phân hoá học.
- Chưa thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động môi trường của các
hoạt động tưới tiêu thuỷ lợi.
- Còn bỏ sót đánh giá tác động môi trường cho các dự án phát triển kinh tế
- xã hội.
- Chưa kiểm soát được di dân tự do.
- Thực hiên chưa đầy đủ các công ước về bảo vệ môi trường đã kí.
2.2.1.3. Ô nhiễm môi trường đang gia tăng.
- Các nhà máy thiếu bộ phận xử lí chất thải chưa có công nghệ tái sử dụng
chất thải .
- Không tiết kiệm, khi khai thác quặng quy hoạch bãi thải.
- Các chất thải từ các đô thị và khu công nghiệp, đặc biệt là các chất độc
hại, không được quản lí chặt chẽ.
- Chưa kiểm soát bụi, khí thải, tiếng ồn của các phương tiện giao thông, sân
bay, cầu cảng …
- Không quản lí tốt môi trường khu du lịch, thể thao, nghỉ ngơi, giải trí.
2.2.1.4. Nhiều rủi ro và thảm hoạ xảy ra.
- Khai thác và vận chuyển dầu chưa an toàn.
- Chưa kiểm soát tốt các lưu vực.
- Sử dụng thiếu an toàn thuốc trừ sâu, thuốc chữa bệnh gia súc và phân hoá
học.
- Các chất độc hại không có quy chế quản lí.
- Chưa có kế hoạch tốt đề phòng các rủi ro và thảm hoạ môi trường.
- Cung cấp nước sạch cho nhân dân chưa đảm bảo nhu cầu tối thiểu.
- Không xử lí phân bắc ở nông thôn, đặc biệt là ở đồng bằng Nam Bộ, kể cả
phân gia súc.
- Rừng tiếp tục bị phá là nguyên nhân dẫn đến lũ quét và ngập lụt lớn.
Theo đánh giá của nhiều cơ quan và chuyên gia về nước, thì lượng nước
mặt ở nước ta không thật dồi dào, đặc biệt là trong mùa khô, khi các quốc
gia ở thượng nguồn sử dụng nhiều nước; trữ lượng nước ngầm cũng ở mức
trung bình so với các nước trên thế giới. Những năm gần đây, do việc phát
triển kinh tế đã kéo theo quá trình đô thị hoá ngày càng nhanh. Nhiều nhà
máy trước đây nằm ở ngoại thành giờ đây đã nằm lọt trong các đô thị với
lượng dân cư đông đúc, đang gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường
xung quanh. Đặc biệt là tình tràng ô nhiễm nguồn nước sạch do rất nhiều
nhà máy, công xưởng xả nước thải chưa hề được xử lí nhưng chưa đạt yêu
cầu ra sông ngòi, kênh rạch … “riêng Thành Phố Hồ Chí Minh mỗi ngày
có 550000 kg BOD bị thải ra sông rạch. Trong đó nước thải công nghiệp
chiếm 250000 kg/ ngày. Các nhà máy dệt, nhuộm gây ô nhiễm nặng nề
nhất, từ 15000 - 200000mg/l BOD”Theo số liệu thống kê tại Hà Nội, tổng
lượng nước thải từ 350000 - 450000 m3 / ngày. Trong đó lượng nước thải
trừ sản xuất công nghiệp là 100000 - 135000m3 / ngày, tổng khối lượng rác
thải sinh hoạt là 1800 - 2000m3/ ngày. Trong đó khối lượng thu gom chỉ
đạt được 850m3/ ngày, phần còn lại chủ yếu được đổ vào các khu vực ven
sông hồ, kênh mương nội thành.
-Tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa khá nhanh, sự gia tăng dân số gây
áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên và môi trường. ở nhiều đô thị,
khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải
và chất thải rắn. Tại các thành phố lớn, hàng trăm các cơ sở sản xuất công
nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường do không có công trình và thiết bị xử
lý chất thải. ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn tình
trạng nước thải sinh hoạt chưa có hệ thống xử lý tập trung mà trực tiếp xả
ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Phần lớn các bệnh viện và cơ
sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong
thành phố không thu gom hết. Mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ
của thành phố rất nặng. Ở Thành phố Thái Nguyên, nước thải từ các cơ sở
sản xuất giấy, luyện gang thép, kim màu, khai thác than chưa được xử lý đổ
còn chiếm khoảng 13% và rừng tái sinh chiếm tới 55% tổng diện tích rừng.
Đa dạng sinh học cũng đóng vai trò quan trọng đối với con người và thiên
nhiên. Từ nhiều thập kỷ nay, hoạt động của con người đã tác động mạnh tới
thế giới sinh vật, được xem là tương đương hoặc thậm chí lớn hơn nhiều so
với các đợt tuyệt chủng lớn nhất trong thời tiền sử. Việt Nam là nước có
mức độ đa dạng sinh học đứng thứ 10 thế giới nhưng tốc độ suy giảm được
xếp vào loại nhanh nhất. Nhiều hệ sinh thái tự nhiên bị xâm phạm, giảm
thiểu diện tích. Trong không đầy 50 năm, diện tích rừng ngập mặn giảm
gần 3/4.
-Tài nguyên đất đai vô giá của chúng ta cũng đang bị xâm hại nặng nề. Cả
nước ta hiện có diện tích tự nhiên khoảng 33 triệu héc-ta, trong đó diện tích
phần đất liền khoảng 31,2 triệu héc-ta. Theo kết quả điều tra gần đây nhất,
trong số 21 triệu héc-ta đất đang sử dụng trong canh tác nông, lâm nghiệp,
thì phần diện tích đáng kể lại có hàm lượng dinh dưỡng thấp. Đặc biệt có
tới 9,43 triệu héc-ta đất hoang hóa, trong đó khoảng 7,85 triệu héc-ta chịu
tác động mạnh bởi sa mạc hóa. Sự suy giảm đất canh tác, sự suy thoái chất
lượng đất và sa mạc hóa cũng đang diễn ra với tốc độ nhanh. Cùng với hiện
tượng xói mòn, rửa trôi, sạt lở, mặn hóa, phèn hóa đang xảy ra phổ biến ở
nhiều nơi đã làm cho khoảng 50% trong số 33 triệu héc-ta đất tự nhiên của
nước ta được coi là "có vấn đề suy thoái". Bên cạnh đó, do việc quy hoạch
và quản lý còn hạn chế, nhiều nơi đất đai còn chưa được sử dụng có hiệu
quả và bền vững.
- Do quá trình xây dựng, phát triển kinh tế hiện nay, các nhà máy công
nghiệp, các ngành nghề sản xuất phụ nhanh chóng phát triển. Do đó mức
độ ô nhiễm ở những nơi có nhà máy sản xuất công nghiệp, ngành nghề sản
xuất phụ đã và đang gây hậu quả nghiêm trọng cho môi trường. Các đô thị
đều bị ô nhiễm tới mức đáng báo động, đặc biệt là về nồng độ bụi trong
không khí : ”nồng độ bụi trung bình ở các thành phố là 0,4 - 0,5mg/ m3,
nồng độ bụi ở các khu dân cư bên cạnh các nhà máy, xí nghiệp hay gần
đường giao thông lớn đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 - 3 lần, nơi bị ô
trường tốt hơn. Thêm vào đó, chúng ta cần nghiêm túc nhìn lại hiện trạng
và những thách thức đặt ra đối với môi trường và phát triển bền vững ở
nước ta trong thời gian qua, để cùng nhau nỗ lực hơn nữa thực hiện có hiệu
quả các mục tiêu về tài nguyên và môi trường mà Đại hội lần thứ X của
Đảng đề ra, góp phần xây dựng đất nước ta "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn"
như lời căn dặn của Bác Hồ.
3.1. Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp
sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường, giáo dục dân số,
môi trường và xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường.
3.2. Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, khẩn
trương ban hành các chính sách về phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi
trường, xây dựng và củng cố pháp lí về thể chế bảo vệ môi trường.
-Cần nhanh chóng đồng bộ hoá và hoàn thiện không ngừng hệ thống
pháp luật bảo vệ môi trường quốc gia ( gồm Luật bảo vệ môi trường và các
bộ luật khác về thành phần hay khu vực môi trường quốc gia như: luật
rừng, luật biển, luật khoáng sản, luật đất đai … ). Hệ thống luật và các thể
chế càng đầy đủ, cụ thể, đồng bộ, tiên tiến và được thực thí nghiệm túc, thì
chắc chắn sẽ trở thành công cụ hữu hiệu bảo vệ môi trường. Đa dạng hoá
các thể chế bảo vệ môi trương ( bao gồm các tổ chức, cơ quan, hiệp hội,
nhà nước hay phi nhà nước, các ngành và chuyên trách trong các lĩnh vực
nghiên cứu và quản lí và bảo vệ môi trường chung.
3.3. Đánh giá tác động môi trường và quản lí tai biến môi trường, chủ
động phòng chống ô nhiễm và củng cố môi trường, khắc phục suy thoái
môi trường.
- Để quản lí tai biến môi trường cần xác định đặc trưng, khả năng gây
hại môi trường của nó. Vì vậy, cần tiến hành điều tra cơ bản môi trường và
thu nhập các dữ liệu quan trong liên quan để xây dựng hệ thống dự trữ môi
trường của quốc gia. Cần khẩn trương xây dựng đồng bộ và hệ thống hoá
hệ thống quan trắc môi trường quốc gia.
- Cán bộ các tỉnh thành phó tổ chức phân loại các cơ sở gây ô nhiễm
người cũng có những bước đi cụ thể, tham gia đầy đủ trong nỗ lực này.
Chúng ta đã và đang tàn phá môi trường tự nhiên một cách bừa bãi, khai
thác tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí mà không hề lo lắng gì cho
tương lai, cho thế hệ con cháu của chúng ta, không sợ sự tác động trở lại
của thiên nhiên.
Theo triết học duy vật biện chứng, mối quan hệ đặc thù của con người
với môi trường xung quanh là ở chỗ con người không thụ động tiếp nhận
sự tác động từ bên ngoài mà tích cực cải biến tự nhiên và chính bản thân
mình.Chúng ta đang sống trong xã hội phát triển với nền khoa học kỹ thuật
cao, sự phát triển nhanh chóng làm cho môi trường sống ngày càng bị ô
nhiễm trầm trọng. Tuy chúng ta có nhận thức được vấn đề nhưng sự thật là
chúng ta dường như đã lãng quên đi tầm quan trọng của thiên nhiên, môi
trường để chạy theo sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật Vì
vậy nhận thức được đầy đủ mức độ nghiêm trọng của vấn đề nhưng không
phải lúc nào con người cũng có những bước đi đúng đắn kịp thời để ngăn
chặn sự phá huỷ môi trường đang diễn ra hằng ngày hằng giờ. Nhận thức
nhưng cũng cần phải có hành động cần thiết kịp thời mới có thể giải quyết
đựơc vấn đề. Do đó Nhà nước phải đóng vai trò chủ lực và chủ động giải
quyết các vấn đề môi trường. Nếu không thị trường và cạnh tranh kinh tế sẽ
dẫn đến thất bại, không thể tạo ra môi trường thiên nhiên phục vụ tốt cho
cuộc sống con người và xã hội nước ta.
D.Tài liệu tham khảo
-Giáo trình triết học Mác_Lênin_NXB Chính trị quốc gia, các trang 245-
247,248-240.
-Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 231-năm 2003.
-“Bảo vệ môi trường sống”-Huy Văn, báo “Nhân dân”,số 18871 ngày
15/4/2007,trang 1.
-Thông báo về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 của
Bộ Kế hoạch Đầu tư.