TRƯỜNG
KHOA……………………
Tiểu luận Đề tài
Mối quan hệ biện chứng giữa hội
nhập kinh tế với xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ
MỤC LỤC:
TT Trang
I Mở đầu 1
II Nội dung 3
Chương 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong phép biện
chứng duy vật
3
1.1 Các định nghĩa 3
1.2 Tính tất yếu phải hội nhập kinh tế 6
Chương 2: Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
với hội nhập kinh tế quốc tế
6
2.1 Một số đặc trưng của nền kinh tế độc lập tự chủ
6
các loại hàng hoá trên thị trường thế giới thấp trong khi đó các nước đi trước có
lợi thế hơn hẳn về mọi mặt, việc mở rộng quan hệ với các nước đó sẽ dẫn đến
tình trạng các nước kém phát triển khó tránh khỏi bị lệ thuộc về kinh tế và từ chỗ
bị lệ thuộc về kinh tế có thể bị lệ thuộc về chính trị dẫn tới không giữ vững được
chủ quyền. Thực tế ngày nay cho thấy có rất nhiều nước trên thế giới đã bị lệ
thuộc quá nhiều vào các nước tư bản nên mọi đường lối, chính sách phát triển
kinh tế đều bị các nước tư bản này chi phối và nắm giữ. Điển hình như nước
Cuba có một thời gian đã bi phụ thuộc quá nhiều vào Mĩ. Vốn là một nước trồng
rất nhiếu mía song khoa học kĩ thuật của nước này lại thấp kém cho nên để sản
xuất đường Cuba phải nhập khẩu trang thiết bị của Mĩ. Lợi dụng thời cơ này Mĩ
đã tìm mọi cách để gây áp lực về kinh tế đối với Cuba và buộc Cuba phải lệ
thuộc vào Mĩ. Dựa vào đó Mĩ đã nắm được quyền chi phối về kinh tế cũng như
chính trị ở Cuba.
Hiện nay nước Việt Nam ta cũng đang tham gia vào các tổ chức, hiệp hội
trên thế giới. Nước ta cũng là một nước nghèo nàn, lạc hậu hơn rất nhiều so với
2
các nước khác vì vậy chúng ta phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế gắn liền
với việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Đảng và nhà nước ta đã xác định
độc lập tự chủ kinh tế là nền tảng vật chất cơ bản bảo đảm sự bền vững của đất
nước ta về chính trị .
Chính vì việc hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đang là một vấn đề nóng
bỏng, cấp bách và cần thiết đối với tất cả các quốc gia trên thế giới trong đó có
cả nước ta. Vì vậy đề tài này có một ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng đối với
các nước trên thế giới trong việc đề ra các đường lối, chính sách trong quan hệ
giao lưu, buôn bán với nước ngoài. Vì lí do nay tôi đã quyết định chọn đề tài
"Mối quan hệ biện chứng giữa hội nhập kinh tế với xây dựng nền kinh tế
độc lập tự chủ" với hy vọng bài tiểu luận này sẽ góp một phần nhỏ vào công việc
xây dựng nền kinh tế nước ta ngày càng giàu mạnh .
Trong quá trình viết bài tiểu luận tôi đã nhận được sự chỉ dẫn nhiệt tình của TS
Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến, nó chẳng qua là bộ
môn khoa học nghiên cứu những quy luật vận động phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy. Như vậy phép biện chứng đã thừa nhận sự vật, hiện tượng của thế
giới khách quan tồn tại theo mối quan hệ phổ biến, chúng vận động, phát triển
theo quy luật nhất định. Phép biện chứng có nhiệm vụ phải chỉ ra những quy luật
đó để định hướng cho con người trong nhiệm vụ thực tiễn. Phép biện chứng có
ba hình thức cơ bản trong quá trình phát triển của triết học đó là: Phép biện chứng
chất phác, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật .
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển
nên các nhà triết học chỉ dựa vào cảm giác, vào cái nhìn trực tiếp để xem xét mọi
vật. Phép biện chứng này còn thiếu nhiều căn cứ khoa học do vậy mà nó đã bị
phép siêu hình, xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế. Phép biện chứng duy
tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học của Hêghen.
Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen được thể hiện ở chỗ: Ông
coi ý niệm tuyệt đối có trước và trong quá trình vận động phát triển cuối cùng nó
lại trở về với chính mình trong tinh thần. Kế thừa có chọn lọc những thành tựu
của các nhà triết học trước đó Mác và Anghen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật
biện chứng và phép biện chứng. Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ
sở một hệ thống những nguyên lí, những phạm trù cơ sở, những quy luật phổ
biến phản ánh đúng đắn hiện thực. Trong hệ thống đó nguyên lí về mối liên hệ
phổ biến là một trong những nguyên lí khái quát nhất. Mối liên hệ phổ biến là
khái niệm đúng để chỉ sự ràng buộc, nương tựa, tác động qui định lẫn nhau của
4
các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan. Trong thực tế người ta luôn đặt
ra các câu hỏi các sự vật hiện tượng có mối quan hệ tác động qua lại với nhau
hay không? Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện
tượng tồn tại trong trạng thái độc lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái
kia. Nếu giữa chúng có mối quan hệ thì cũng chỉ là mối liên hệ bên ngoài. Còn
những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật, hiện tượng, các
giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời
sống xã hội. Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo,
bệnh tật
Thứ hai, mối liên hệ biểu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể tuỳ
theo điều kiện nhất định. Song, dù dưới những hình thức nào chúng cũng chỉ là
biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất. Nghiên cứu mối liên hệ của
các sự vật, hiện tượng trên thế giới ta còn thấy rõ tính đa dạng, nhiều vẻ của nó.
Dựa vào tính đa dạng đó có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng
cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ
yếu Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại và phát triển bản thân sự vật,
hiện tượng qui định tính đa dạng của mối liên hệ. Vì vậy trong một sự vật có thể
bao gồm rất nhiều mối liên hệ chứ không phải chỉ có một mối liên hệ xác định.
Song mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng tuy theo từng điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể các mối liên hệ tương ứng sẽ giữ vai trò quyết định. Sự phân chia
từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối vì mỗi loại mối liên hệ chỉ là một
hình thức, một bộ phận của mối liên hệ phổ biến. Mỗi loại mối liên hệ trong từng
cặp có thể chuyển hoá lẫn nhau tuỳ theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc
do kết quả của sự vận động và phát triển của chính các sự vật. Tuy sự phân chia
thành các loại mối liên hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất
cần thiết bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận
động và phát triển của sự vật. Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó
để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của
mình. Từ nội dung của mối liên hệ phổ biến bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong
thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên
hệ rất đa dạng phong phú do đó trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt
động thực tiễn chúng ta phải có quan điểm toàn diện tránh quan điểm phiến diện,
chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay
về tính qui luật của chúng. Quan điểm toàn diện đòi hỏi khi ngiên cứu phải xem
6
7
Chương 2:
Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
với hội nhập kinh tế quốc tế
2.1 Một số đặc trưng của nền kinh tế độc lập tự chủ:
Khác với trước đây khi nói tới độc lập tự chủ về kinh tế, nhiều người
thường hình dung tới một nền kinh tế khép kín, tự cung, tự cấp. Trong điều kiện
hiện nay đọc lập tự chủ về kinh tế phải là độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế
thị trường và tự chủ mở cửa, hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới, tích
cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động quốc tế trên cơ sở
phát huy tốt nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên
thương trường quốc tế. Do vậy độc lập tự chủ trong điều kiện hiện nay có các
đặc trưng sau: trước hết và quan trọng nhất là phải đảm bảo lợi ích phát triển của
quốc gia ở mức cao nhất có thể được. Có thể có một nền kinh tế không phụ thuộc
hoàn toàn vào bên ngoài, tự đảm bảo được các nhu cầu chủ yếu trong nước. Các
mối quan hệ giữa nước đó với các nước trên thế giới phải được xem xét đánh giá
trên tiêu chuẩn có đảm bảo được lợi ích phát triển của đất nước không? Đó mới
là mục tiêu cho mọi chiến lược phát trển. Trong điều kiện hội nhập quốc tế tiến
triển như hiện nay mọi nền kinh tế ngày càng có sự ràng buộc, phụ thuộc vào các
nước khác. Nếu sự ràng buộc đó đảm bảo tốt hơn cho lợi ích phát triển quốc gia
thì đó là một điều nên làm. Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ đổi mới đã ngày
càng mở rộng, giao lưu với các nước khác; kim ngạch xuất khẩu của ta năm
1999 chiếm tới trên 90% GDP, vốn đầu tư nước ngoài chiếm 28% tổng đầu tư xã
hội. Đặc trưng thứ hai của nền kinh tế độc lập tự chủ đó là sức cạnh tranh của
8
như giấy phép xuất khẩu,… Về thương mại dịch vụ, các nước mở cửa thị trường
9
cho nhau với 4 phương thức: cung cấp qua biên giới, sử dụng dịch vụ ngoài lãnh
thổ, thông qua doanh nhâ, hiện diện thể nhân,…
Về thị trường đầu tư: không áp dụng đối với đầu tư nước ngoài các yêu
cầu về tỷ lệ nội địa hoá cân bằng xuất nhập khẩu, hạn chế tiếp cận nguồn ngoại
tệ… Các nguyên tắc này được tất cả các nước thành viên WTO và các nước đang
gia nhập WTO thừa nhận và thực hiện.
2.3 Mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ
và hội nhập kinh tế.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự tuỳ thuộc lẫn nhau về
kinh tế ngày càng gia tăng, các nước trên thế giới đều rất coi trọn đến khả năng
độc lập tự chủ về kinh tế nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc
mình trong cuộc cạnh tranh kinh tế gay gắt và để xác lập một vị thế chính trị nhất
định trên trường quốc tế.
Độc lập tự chủ về kinh tế phải được đặt trong mối quan hệ biện chứng với
độc lập tự chủ về chính trị và các mặt khác để tạo thành sức mạnh tổng hợp của
một quốc gia. Độc lập tự chủ vè kinh tế trước hết là không bị chi phối lệ thuộc
vào bên ngoài về đường lối, chính sách phát triển kinh tế vào những điều kiện
kinh tế chính trị mà họ muốn áp đặt cho ta trong trợ giúp, hợp tác song phương,
đa phương, mà những điều kiện ấy sẽ gây tổn hại cho chủ quyền quốc gia và lợi
ích cơ bản của dân tộc. Độc lập tự chủ về kinh tế cũng có nghĩa là trước những
chấn động của thị trường, của khủng hoảng kinh tế - tài chính, cũng như trước sự
bao vây, cô lập từ bên ngoài vẫn giữ được sự ổn định và phát triển cần thiết,
không bị sụp đổ về kinh tế, chính trị. Khác với trước đây khi nói đến độc lập tự
chủ về kinh tế, nhiều người thường hình dung tới một nền kinh tế khép kín, tự
cung tự cấp. Trong điều kiện hiện nay độc lập tự chủ về kinh tế phải là độc lập tự
chủ trong phát triển kinh tế thị trường và chủ động hội nhập có hiệu quả với nền
kinh tế thế giới, tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động
xe hơn vốn là ngành trụ cột của kinh tế Mỹ lại giảm chỉ còn 14% và 4%. Lợi
nhuận của hãng Intel, Microsoft đạt mức 24% doanh thu kéo dài trong khi các
ngành công nghiệp truyền thống chỉ đạt ở mức trên 10%.
Xu hướng thứ ba là xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế phát
triển nhanh chóng. Trong điều kiện nền kinh tế thế giới phát triển và những đặc
trưng chủ yếu trên mô hình phát triển kinh tế theo hướng hội nhập kinh tế quốc
tế là căn cứ để phát triển các ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh cao. Đương
11
nhiên, việc phát triển kinh tế này phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc
lập tự chủ. Độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế
chấp nhận sự phụ thuộc lẫn nhau trên cơ sở cùng có lợi trong quan hệ giữa các
quốc gia. Sự phụ thuộc này diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực từ hoạch định chính
sách phát triển,… ví dụ như trong Liên minh Châu Âu, hiện đã có đồng tiền
chung, các quốc gia thành viên phải bảo đảm duy trì một mức thâm hụt ngân
sách và lạm phát chung. Trong mô hình kinh tế này các quốc gia tuy vẫn có
quyền tự chủ, quyền tự chọn các ngành kinh tế có lợi cho mình. Thực tế cho thấy
ngay các quốc gia có nhiều ngành công nghiệp nền tảng khá phát triển như Nhật
Bản mà vẫn phụ thuộc bên ngoài một cách đáng sợ. Nhật phải nhập 100% dầu
mỏ để có ngành hoá dầu và năng lượng điện, nhập khẩu phần quặng sắt để có
ngành luyện kim, nhập khẩu phần lớn bằng phát minh sáng chế để có ngành
công nghiệp chế tạo,… Nếu có chiến tranh xảy ra, các hoạt động nhập khẩu này
chỉ bị ngừng trệ một thời gian ngắn thôi thì các ngành công nghiệp sẽ hoàn toàn
bị tê liệt và nền kinh tế Nhật khó tránh khỏi tổn thất. Nếu sợ sự phụ thuộc này,
nước Nhật sẽ không thể phát triển được. Nhưng bù lại, Nhật lại xuất khẩu ô tô,
hàng điện tử và những loại hàng chất lượng cao khác buộc các quốc gia khác
phải lệ thuộc vào Nhật những mặt hàng nay. Chính mối quan hệ lệ thuộc lẫn
nhau làm cho kinh tế Nhật có thể đứng vững ngay cả trong cuộc khủng hoảng
dầu lửa những năm 70.
Song cũng cần phải nói rằng trong qúa trình hội nhập kinh tế cần phải
cải cách sâu rộng để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế, phát huy lợi
thế của mình và hạn chế những rủi ro trong cuộc cạnh tranh quốc tế.
Tuy vậy, tự do hoá thương mại không đưa lại những kết qủa như nhau đối
với các nước lớn. Nhìn chung các nước phát triển có lợi thế là nền kinh tế họ đã
phát triển cao, khả năng cạnh tranh lớn. Mặt khác, hội nhập kinh tế làm gia tăng
các luồng chuyển giao vốn và công nghệ. Nó củng cố và tăng cường các thể chế
quốc tế, thúc đẩy sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc. Bên cạnh đó ta cũng
không thể không nói đến mặt trái của việc hội nhập kinh tế gây ra. Song song với
việc hội nhập kinh tế thì khoảng cách giầu nghèo giữa các nước ngày càng tăng.
Các mối lợi thu được từ toàn cầu hoá kinh tế được phân phối không đều và
không công bằng. Các quốc gia phát triển có lợi thế thường thu lợi nhiều trong
kinh tế. Sự bất bình đẳng ngày càng tăng. Dân số ở một số nơi còn có mức sống
13
thấp hơn trước. Toàn thế giới hiện nay vẫn còn hơn 1 tỷ người nghèo. Các nước
phát triển với 1/5 dân số thế giới chiếm 86% GDP toàn cầu, 4/5 thị trường xuất
khẩu, 1/3 vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong khi đó các nước nghèo nhất với
1/5 dân số thế giới chỉ tạo ra được 1% GDP thế giới. Mặt khác, hội nhập kinh tế
còn tạo nên sự thách thức mới đối với nền độc lập chủ quyền quốc gia, làm xói
mòn quyền lực Nhà nước, dân tộc. Chủ quyền quốc gia bị hạn chế một cách
tương đối, tính độc lập của các quốc gia bị giảm dần,… Hội nhập còn làm cho
nhiều hoạt động và đời sống của con người trở nên kém an toàn, từ an toàn kinh
tế, tài chính, văn hoá, xã hội, môi trường đến an toàn chính trị. Cuộc khủng
hoảng tài chính ở Đông á 1997 - 1998 đã ảnh hưởng nghiêm trọng, kéo dài và
toàn diện đến các nước này. Lạm phát và thất nghiệp gia tăng, nền sản xuất phải
cơ cấu lại, tệ nạn xã hội ngày càng tràn lan: nghiện hút, mại dâm… Tuy trong
quá trình hội nhập kinh tế ta đã tiếp thu được nhiều tinh hoa văn hoá trên thế giới
song cũng chính trong quá trình thâm nhập văn hoá ngày càng làm cho những
giá trị văn hoá riêng, truyền thống của mỗi nước bị xói mòn, huỷ hoại, bởi vậy
vấn đề cần đặt ra là hội nhập nhưng không để hoà tan, không để đánh mất đi bản
hướng tới tương lai, thiết lập quan hệ bình thường với các nước trên nguyên tắc
tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào
công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, vì sự nghiệp phát triển của
mỗi nước. Hiện nay Việt Nam đã có quan hệ đối ngoại với 168 nước trên thế
giới, quan hệ với gần 500 tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong đó có 380 tổ
chức có dự án hoạt động ở Việt Nam. Đảng và nhà nước ta đã đề ra một số quan
điểm, đường lối trong quá trình hội nhập :
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân, trong quá trình hội
nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của
toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa có
nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt
trong việc xử lý hai mặt của hội nhập, tuỳ theo đối tượng, vừa đề phòng tư tưởng
trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng.
Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó Đảng và Nhà nước
ta đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất
nước, vừa đáp ứng các quy định của tổ chức kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia;
15
tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển và các nước có nền
kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường.
Kết hợp chặt chẽ quá trình Hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững
an ninh, quốc phòng, thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của
quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những
mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ “diễn biến hoà bình” đối với
nước ta.
Từ mục tiêu và quan điểm chỉ đạo quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,
nhiệm vụ cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là :
Phải tiến hành rộng rãi công tác tư tương, tuyên truyền, giải thích trong
các tổ chức Đảng, chính quyền đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp
đó bao gồm cả các nền kinh tế phát triển, đang phát triển và chuyển đổi (từ kinh
tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường). Mục tiêu của APEC cũng là phát
triển bền vững thông qua các chương trình thúc đẩy mở cửa và thuận lợi hoá
thương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế – kỹ thậut theo các nguyên tắc bình đẳng,
cùng có lợi, tự nguyện, công khai và không phân biệt đối xử giữa các nước thành
viên cũng như các đối tác không là thành viên. Các cam kết mang tính tự nguyện
nhưng việc thực hiện là bắt buộc, do tuyên bố ở cấp cao và hàng năm được đưa
ra kiểm điểm. Các vấn đề chính trị, tuy được quan tâm nhưng thường được bàn
một cách không chính thức.
2.5.3. Những kết quả đạt được :
Những kết quả của công cuộc đổi mới đạt được trong 10 năm qua có thể
nói là chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. ở phần trên cũng đã nói đến một
phần nào đó thành tựu mà Việt Nam đã đạt được thông qua các giải pháp được
áp dụng trong công cuộc đổi mới kinh tế, phần này muốn tập trung phân tích các
kết quả của công cuộc đổi mới trên ba lĩnh vực : tốc độ tăng trưởng, chuyển đổi
cơ cấu kinh tế và các vấn đề xã hội.
Trước hết phải kể đến mức tăng trưởng cao.
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) trong thời kỳ 1991 – 2000 đã tăng bình
quân hàng năm là 7,4%, theo đó tổng giá trị GDP đạt gấp đôi năm 1990. GDP
theo đầu người tăng 1,8 lần.
Nông nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng khá và toàn diện trên nhiều lĩnh vực.
Giá trị sản lượng toàn ngành tăng bình quân hàng năm 5,6%. Trong đó nông
nghiệp tăng 5,4%, thuỷ sản tăng 9,1%, lâm nghiệp tăng 2,1%.
Nổi bật nhất là sản lượng lương thực tăng bình quân mỗi năm 1,1, triệu
tấn. Sản lượng lương thực năm 2000 đạt 34 triệu tấn, đưa mức lương thực bình
17
quân đầu người từ 294,9 kg năm 1990 lên trên 436 kg năm 2000. Việt Nam từ nước
nhập khẩu lương thực hàng năm, trở thành nước xuất khẩu gạo thứ hai thế giới.
Sản lượng của một số cây công nghiệp trong thời kỳ 1999 – 2000 đã tăng
dưới 10%. Thực hiện so với dự kiến kế hoạch thời kì 1996-
2000
Chỉ tiêu chủ yếu Dự
kiến
Đạt Tỉ
lệ
(%)
Tốc đọ tăng sản lượng nông nghiệp ( %/ năm ) 4,5-5 5,1-5,2 104
Sản lượng lương thực (qui thóc )năm 1999( Triệu tấn) 30-32 33 106
Tốc độ tăng GDP (%/ năm ) 9-10 6,8 70
Tốc độ tăng giá trị sản lượng công nghiệp 14-15 12 85
Tổng kim nghạch xuất khẩu ( Tir USD) 58-60 50 86
Vốn đầu tư nước ngoài (Tỉ USD) 13-15 11 80
Vốn ODA( Tỉ USD) 7-8 5 70
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong năm 2000
Triệu lượt người
3,5-4 2 51
Tuy vậy bên cạnh những thành tựu mà ta đã đạt được ,chúng ta cũng còn một số
hạn chế . Chính trong quá trình mở rộng thị trường xuất khẩu ,nâng cao sức cạnh
tranh của hàng hoá đã làm cho sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét .Những
người có khả năng buôn bán , có đầu óc kinh doanh thì giàu lên nhanh chóng còn
nhưng người không biết cách buôn bán thì bị phá sản . Hố ngăn cách giàu nghèo
ngày càng sâu . Đời sống của người dân tuy đã được cải thiện song sự phân bố
này lại không đều .
ởthành thị thì hầu hết mức sống của người dân là cao trong
khi đó ở nông thôn một số nơi người dân còn nghèo khổ , chỉ tính riêng trong
19
thời kỳ từ năm 1993-1998 số lượng người ngèo đói chiếm 58% Đi kèm với hiện
tượng đói ngèo là sự bất bình đẳng trong tất cả các lĩnh vực :Văn hoá - Kinh tế –
nông nghiệp, nông thôn để nâng cao năng suất lao động của khu vực có số người
nghèo đông đúc này.
Thứ tư, Nhà nước có hình thức bảo trợ xã hội điều chỉnh phù hợp với thị
trường lao động trong điều kiện nền ninh tể mở và hội nhập quốc tế. Hội nhập
quốc tế sẽ tạo ra kẻ thắng, người thua và người nghèo sẽ chịu nhiều thua thiệt
nhất. Để giúp đỡ người bị rủi ro khi mới tham gia hội nhập, đồng thời xây dựng
một nền tảng vững chắc cho các hộ gia đình - đặc biệt là người nghèo - cảm thấy
thoải mái chấp nhận các rủi ro trước mắt có thể xảy đến do hội nhập, Nhà nước
phải thực hiện tốt việc phân phối lại, thông qua chính sách thuế, trợ cấp làm
giảm sự bất bình đẳng trong xã hội.
Đồng thời phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức
sở hửutong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo -là lực lượng vật chất quan
trọng và là công cụ để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế . Tạo
lập đồng bộ các yếu tố của thị trường , đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lí của
Nhà nước .,phát triển các loại thị trường :Vốn,tiền tệ, chứng khoán ,…………
Đi kèm theo đó là đỏi mới chính sách và kiện toàn hệ thống tài chính,tiền
tệ . Thực hiện công tác công bằng, hiệu quả trong chính sách phân phối bảo đảm
sự phát triển an toàn lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ .Tiếp tục cải cách
hệ thống thuế phù hợp với tình hình đất nước và cam kết quốc tế .tiếp tục cơ cấu
lại ngân sách Nhà nước ,tăng dần tích luỹ cho đầu tư phát triển, tinh giản biên
chế bộ máy Nhà nước .Thực hiện chính sách tiền tệ bảo đảm ổn định kinh tế vĩ
mô. Sử dụng linh hoạt có hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ như tỉ giá ,lãi
suất … Nâng dần và tiến tới thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đồng tiền
Việt Nam. Giải quyết nợ tồn đọng với các nước trên thế giới. Đồng thời phát
triển giáo dục và đào tạo , khoa học và công nghệ .Tăng cường tiềm lực và đổi
mới cơ chế quản lí khoa học và công nghệ .Coi trọng phát triển ứng dụng công
nghệ thông tin ,công nghệ tự động hoá .
Trên đây là một số giải pháp chính mà theo tôi đó là những giải pháp hợp
lí đối với việc phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay .