tóm tắt luận án tiến sĩ Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc ở thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 26


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

VÕ THỊ KIM LOAN

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 62310102

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. BCHTW : Ban chấp hành Trung ương.
2. CHND : Cộng hoà nhân dân.
3. CMKT : Chuyên môn kỹ thuật.
4. CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
5. CNKT : Công nhân kỹ thuật.
6. CSDN : Cơ sở dạy nghề
7. ĐH : Đại học.
8. GD-ĐT : Giáo dục đào tạo
9. HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế
10. KCX-KCN : Khu chế xuất, khu công nghiệp
11. NCKH : Nghiên cứu khoa học
12. NNLCLC : Nguồn nhân lực chất lượng cao
13. TCCN : Trung cấp chuyên nghiệp.
14. THCS : Trung học cơ sở.
15. THPT : Trung học phổ thông.
16. TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh.
17. TW : Trung ương

1

PHẦN MỞ ĐẦU
Sự phát triển của thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu có tính đột
phá, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm quyết định sự biến đổi về chất của nền kinh tế
chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các
doanh nghiệp chủ yếu là cạnh tranh về hàm lượng chất xám, nghĩa là hàm lượng tri thức kết

quan về môi trường kinh doanh của Việt Nam 2007, phân tích các hoạt động sản xuất kinh
2

doanh của doanh nghiệp trên 4 khía cạnh: lao động, tài chính, công nghệ và tiếp cận thị
trường trong 6 ngành (dệt may, xây dựng, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm, sản xuất chế biến
thực phẩm) bị ảnh hưởng nhiều nhất của việc Việt Nam gia nhập WTO từ các vấn đề lao
động và phát triển nguồn nhân lực. Các tác giả nhận định thị trường lao động Việt Nam sẽ
tiếp tục thiếu hụt và khan hiếm nguồn nhân lực cao cấp quản lý trở lên.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2011) xác định nguyên nhân chính của vấn đề là
mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ, và sự đầu tư cho quá
trình chuyển đổi của thành phố chưa theo kịp nhu cầu xã hội. Từ đó tác giả các giải pháp là
tái cấu trúc nhân lực thành phố, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho trường học theo
hướng hiện đại, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp đồng thời nâng cao
vai trò quản lý của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) cho rằng giáo dục có vai trò quan trọng
nhất đối với sự phát triển tiềm năng của con người. Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc
vào sức khoẻ người lao động, vào công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ
hiểu biết của người lao động. Kết quả giáo dục là tăng lực lượng lao động
Các tác giả Francis Green, David Ashton, Donna James, Johnny Sung (1999) đề
xuất một giải thích mới về vai trò của nhà nước trong việc hình thành kỹ năng, với ba nền
kinh tế Đông Á mới công nghiệp hóa. Bài viết xem xét các cơ chế chính trị giúp cho việc
đảm bảo sự phát triển của giáo dục và hình thành các chính sách đào tạo tuân theo những
mệnh lệnh của sự tăng trưởng kinh tế.
Trong tác phẩm “Tư duy lại tương lai” do Rowan Gibson biên tập (2002) các nhà
nghiên cứu cho rằng: Từng ngóc ngách trong lối tư duy của kỷ nguyên công nghiệp bây giờ
đây đang được xem xét lại kỹ lưỡng và được tu chỉnh một cách mạnh mẽ. Thông qua quan
điểm các nhà nghiên cứu, đã có 6 tổng kết đặc biệt quan trọng để thực hiện những bước tư
duy lại tương lai: (1) Tư duy lại các nguyên tắc, (2) Tư duy lại vấn đề cạnh tranh, (3) Tư
duy lại sự kiểm soát và tính phức tạp, (4) Tư duy lại vai trò lãnh đạo, (5) Tư duy lại thị
trường, (6) Tư duy lại thế giới.

Nhìn nhận NNLCLC thông qua giáo dục – đào tạo, tác giả Nguyễn Trung (2012)
cung cấp cho người đọc thông tin đáng chú ý về chất lượng đào tạo ở nước ta thông qua
đánh giá của các chủ doanh nghiệp Việt Nam đối với những lao động được đào tạo qua các
cơ sở đào tạo trong nước: (a) họ phải đào tạo lại hầu hết mọi người ở mọi cấp bậc – học
nghề, đại học, sau đại học - mà họ nhận vào doanh nghiệp của mình, (b) họ không tin
tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên cứu của trong nước, vì chất lượng giảng dạy
thấp; nội dung thấp và lạc hậu; khả năng nghiên cứu nghèo nàn; sách vở và thiết bị đều
thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ, yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp.
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) chứng minh lao động ở TP.HCM phân bố
không đồng đều giữa các khu vực kinh tế. Mặc dù kinh tế thành phố phát triển cao, hàng
năm giải quyết được một số lượng lớn lao động nhưng tỷ lệ người thất nghiệp của TP.HCM
vẫn còn khá cao chiếm 6,53% tổng số người trong độ tuổi lao động (so với Đông Nam
Bộ:4,65%; Hà Nội:4,61%; cả nước:2,1%).
1.3. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu

Ý nghĩa lý luận
- Các công trình nghiên cứu trong nước đều khẳng định vai trò to lớn của NNLCLC
đối với quá trình CNH, HĐH và HNKTQT của Việt Nam; Khi bàn về NNLCLC trong nền
kinh tế, tinh thần cơ bản toát lên từ những công trình kể trên là sự nhấn mạnh tới yêu cầu về
4

việc con người phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất
mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay.

Ý nghĩa thực tiễn
Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao của
Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH,HĐH và quá trình HNKTQT ở
Việt Nam hiện nay. Những tài liệu trên đã phát họa được bức tranh phát triển nguồn nhân
lực của Việt Nam nói chung, với nét chủ yếu là thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực, cũng
như hạn chế của hệ thống giáo dục và đào tạo cần được khắc phục một cách hiệu quả để từ


4. Điểm mới và những đóng góp của luận án
4.1. Về phƣơng diện học thuật: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ HNKTQT hiện nay ở hai khía cạnh cung và
cầu lao động tại TP.HCM; Góp phần xác định và chứng minh các nguyên nhân ảnh hưởng
trực tiếp đến quá trình phát triển NNLCLC trong HNKTQT ở TP.HCM
4.2 Về phƣơng diện thực tiễn: Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà
hoạch định chính sách có cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về cách thức tiếp cận đối với
NNLCLC với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất; Nhận thức đầy đủ,
rõ ràng hơn về thực trạng phát triển NNLCLC trong bối cảnh HNKTQT ở TP.HCM. Từ đó
đề xuất các giải pháp làm cơ sở cho việc hoạch định và nâng cao chất lượng phát triển
NNLCLC ở TP.HCM hiện nay.
5. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các
bảng, phụ lục và tài liệu tham khảo; luận án được bố cục theo 4 chương như sau: Chương 1:
Cơ sở lý luận; Chương 2: Phương pháp nghiên cứu; Chương 3: Thực trạng phát triển;
Chương 4: Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp phát triển NNLCLC trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở TP.HCM.

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HNKTQT
1.1. Khái niệm và các tiêu chí đánh giá NNLCLC trong bối cảnh HNKTQT
1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao
 Khái niệm về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức
- tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động
vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
 Phát triển nguồn nhân lực: Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể
lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức

HNKTQT là sự phối hợp mang tính chất liên quốc gia giữa hai hay nhiều nhà nước độc lập,
có chủ quyền trong một hay nhiều hiệp định kinh tế - thương mại; Thứ ba, hội nhập kinh tế
khu vực và song phương được xem như một giải pháp trung hoà giữa hai xu hướng đối lập
nhau trên thị trường thế giới: xu hướng tự do hoá mậu dịch và bảo hộ mậu dịch; Thứ tư, hội
nhập kinh tế khu vực và song phương luôn là một hành động tự giác, tích cực của các thành
viên nhằm phối hợp và điều chỉnh các chương trình phát triển kinh tế với những thỏa thuận
có đi có lại của các nước thành viên.
 Yêu cầu đối với phát triển nhân lực chất lƣợng cao trong HNKTQT
Trong điều kiện HNKTQT, sự ra đời và phát triển nhanh chóng công nghệ kỹ thuật
hiện đại đã nảy sinh cách phân chia mới về các ngành kinh tế. Sự phân chia mới về các
ngành kinh tế, trong đó có sự xuất hiện ngành công nghệ kỹ thuật cao đã đặt ra nhu cầu rất
lớn về tri thức và trí lực, hay nói một cách chính xác hơn là nhu cầu về nguồn nhân lực chất
lượng cao (lao động kỹ thuật, chuyên môn giỏi).
HNKTQT kéo theo sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và sự phát
triển vượt bậc về trình độ áp dụng khoa học – công nghệ hiện đại của các ngành truyền
7

thống trong nền kinh tế hội nhập sẽ làm tăng nhu cầu lao động trong khu vực công nghệ kỹ
thuật cao. Do vậy, cần phải có một đội ngũ lao động có chất lượng cao nhằm đáp ứng kịp
thời những yêu cầu của thị trường trong quá trình chuyển dịch này.
HNKTQT sẽ thu hút nhiều dòng vốn đầu tư vào các nước đang phát triển như Việt
Nam, đòi hỏi của các nhà tuyển dụng, các công ty đa quốc gia cũng rất khắc khe, nhất là đối
với những ngành thâm dụng chất xám hay những lao động kỹ thuật cao. Để đáp ứng được
yêu cầu của nền kinh tế hội nhập, đội ngũ nhân lực của một quốc gia phải cung cấp đầy đủ
về số lượng và đảm bảo về chất lượng cho nhà đầu tư.
Do quá trình sáng tạo và ứng dụng tri thức được khuếch đại bởi sức mạnh to lớn của
công nghệ thông tin, nên những nội dung tri thức nghề nghiệp của lao động biến đổi không
ngừng và với tốc độ rất nhanh. Điều đó đòi hỏi người lao động phải thường xuyên cập nhật,
bổ sung tri thức nghề nghiệp để có khả năng thích ứng cao với công việc.
Trong nền kinh tế hội nhập, sản phẩm là kết quả hợp tác của nhiều nước, nghĩa là

triển khai, áp dụng vào thực tế, thì cũng cần phải có một đội ngũ nhân lực được đưa đi đào
tạo ở các nước phát triển để quay về phát triển khoa học công nghệ của nước nhà.
+ Tác động của văn hoá và xã hội đối với lao động chất lƣợng cao: Truyền thống
văn hoá, phong tục tập quán lối sống là nguồn gốc cơ bản hình thành lên năng lực phẩm
chất của người lao động. Phong tục tập quán tốt đẹp, lối sống lành mạnh sẽ tạo cho người
lao động một năng lực tinh thần khoẻ mạnh thuần khiết. Người lao động có nhận thức sâu
sắc về lao động, ý thức làm việc cao. Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng tới tác phong làm việc
của người lao động.
+ Tác động của chính sách nhà nƣớc đối với lao động chất lƣợng cao: Chính
sách vĩ mô của nhà nước có tác động không nhỏ đến việc phát triển NNLCLC, trong đó đặc
biệt là các chính sách kinh tế - xã hội như: chính sách giáo dục-đào tạo, chính sách sử dụng,
tuyển dụng lao động, chính sách tiền lương, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm lao động
và các chính sách phát triển kinh tế khác. Khi các chính sách vĩ mô của nhà nước phù hợp
với điều kiện phát triển kinh tế xã hội sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực và ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của NNLCLC.
 Những yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển NNLCLC trong thời kỳ HNKTQT ở
khía cạnh cầu lao động
+ Qui mô số lƣợng NNLCLC: Chính là đội ngũ nhân lực chất lượng cao được đào
tạo hằng năm để cung ứng cho thị trường lao động. Và cũng xét đến sự gia tăng tỷ lệ lao
động trình độ đại học trên tổng số lực lượng lao động, lực lượng lao động có trình độ trên
đại học trong tổng số lực lượng lao động, các chuyên gia trong tổng số lực lượng lao động.
+ Chất lƣợng NNLCLC được thể hiện qua 4 tiêu chí: Thể lực; Trí lực; Nhân cách
và Năng động xã hội. Trong thời kỳ hội nhập quốc tế, khoa học – công nghệ, tri thức càng
được đề cao bao nhiêu thì vai trò của trí tuệ con người cũng được đề cao bấy nhiêu. Song tri
thức chỉ trở thành sức mạnh bởi con người. Tuy nhiên, con người phải nắm được đặc điểm
tri thức trong thế kỷ XXI, đó là tốc độ gia tăng nhanh chóng, đổi mới diễn ra liên tục, khả
năng lan truyền và phổ biến rộng rãi, trực tiếp gắn với hoạt động sản xuất và đời sống xã
hội. Nắm được bốn đặc điểm này chỉ bước đầu, vấn đề quyết định là khả năng con người
ứng dụng tri thức vào cuộc sống.
9

lượng dạng Cobb Douglas Y = AK
a
L
b
trong đó K là vốn, L là lao động, A = TFP là yếu tố
thể hiện năng suất, hiệu quả của việc sử dụng K và L, do vậy nếu dùng quá nhiều vốn (K)
có nghĩa là nền kinh tế dựa phần lớn vào yếu tố vốn vật chất để tăng trưởng, hàm ý là năng
suất biên của vốn thấp, và do vậy sự tăng trưởng không thể bền vững, còn yếu tố L có thể
chỉ là lao động giản đơn như trong các mô hình cổ điển, đến lao động có kỹ thuật, có tri
thức, hàm chứa công nghệ như trong các mô hình tân cổ điển, mô hình tăng trưởng nội sinh.
Mô hình của Mankiw và cộng sự (1992) Y = K
a
H
b
(AL)
1-a-b
(với H là vốn con người), có
10

hàm chứa nhân tố vốn con người (human capital), yếu tố A = TFP là do các cải tiến của
nguồn vốn con người tác động trên công việc, quản lý, thể hiện yếu tố hiệu suất để duy trì
tăng trưởng kinh tế dài hạn.
Theo Solow (1956), con người không thể giải thích tăng trưởng kinh tế mà chỉ dựa
trên sự gia tăng vốn vật chất và lao động. Yếu tố “số dư” hàm chứa vô vàn nhân tố không
xác định, một trong số đó (và có thể là nhân tố quan trọng nhất) là sự nâng cao chất lượng
của các yếu tố đầu vào. Ngay từ cách đây hơn 50 năm, Schultz (1961) đã dự báo “đầu tư
vào vốn con người có lẽ là lời giải thích cơ bản cho sự chênh lệch” giữa tăng trưởng ñầu ra
và tăng trưởng các đầu vào vốn vật chất và lao động.
1.2.3. Lý thuyết về ích lợi của việc đầu tƣ vào vốn nhân lực
Adam Smith chú ý tới tầm quan trọng của giáo dục theo hai phương diện: “Giáo dục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status