luận án tiến sĩ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở thành phố hồ chí minh - Pdf 25


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 62310102

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2014
i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình
khác.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2014
Tác giả ii

MỤC LỤC



CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 62
2.1. Khung phân tích 62
2.2. Phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu 62
2.2.1. Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử 63
2.2.2. Phương pháp tiếp cận liên ngành 65
2.2.3. Phương pháp tiếp cận điểm 65
2.2.4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 65
2.2.5. Phương pháp phân tích và tổng hợp 66
2.2.6. Phương pháp so sánh, đối chiếu 66
2.3. Phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng 66
2.3.1. Nghiên cứu định tính 66
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng 69
2.4. Hệ thống thông tin, dữ liệu nghiên cứu 72
2.4.1. Thông tin thứ cấp 72
2.4.2. Thông tin sơ cấp 72
2.5. Quy trình nghiên cứu 74
Tóm tắt chương 2
CHƢƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƢỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Ở
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 76
3.1. Tổng quan về sự phát triển kinh tế và tiến trình hội nhập quốc tế của TP.HCM
76
3.1.1. Tổng quan về sự phát triển kinh tế của TP.HCM 76
3.1.2. Khái quát về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của TP.HCM 78
3.2. Phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở TP.HCM 81
3.2.1. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở khía cạnh cung lao động 81
3.2.1.1. Tình hình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở TP.HCM hiện nay 81

4.1.2. Hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách
hợp lý 124
4.1.3. Cải cách giáo dục phù hợp với yêu cầu của đổi mới 125
4.1.4. Có chiến lược bồi dưỡng, sử dụng và phát triển hợp lý và đồng bộ 126
v

4.2. Phương hướng, mục tiêu phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu hội
nhập quốc tế của TP.HCM 127
4.2.1. Phương hướng cơ bản 127
4.2.2. Những mục tiêu chủ yếu 129
4.3. Một số giải pháp cấp thiết nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn TP.HCM 130
4.3.1. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khía cạnh cung
lao động trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn TP.HCM 130
4.3.1.1. Giải pháp về giáo dục đào tạo đối với phát triển NNLCLC 130
4.3.1.2. Giải pháp về khoa học công nghệ đối với phát triển NNLC 135
4.3.1.3. Giải pháp về chính sách của nhà nước đối với phát triển NNLCLC 137
4.3.2. Nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở khía cạnh cầu
lao động trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế trên địa bàn TP.HCM 139
4.3.2.1. Giải pháp về qui mô cơ cấu đối với phát triển NNLCLC 139
4.3.2.2. Giải pháp về chất lượng đối với phát triển NNLCLC 141
4.3.2.3. Giải pháp về chính sách sử dụng đối với phát triển NNLCLC 147
Tóm tắt chương 4
KẾT LUẬN 153
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC
vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Bảng 3.6. Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp về thể lực 104
Bảng 3.7. Tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo (%) 105
Bảng 3.8. Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp về trí tuệ 106
Bảng 3.9. Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp về nhân cách 108
Bảng 3.10. Thống kê mô tả điểm đánh giá của các doanh nghiệp về tính năng động
xã hội 111

Biểu đồ 3.1. Đánh giá tổng hợp chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở một số
nước châu Á 83
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ thể hiện các nhu cầu của lao động chất lượng cao tại TP.HCM .
113

Hình 2.1. Khung phân tích 62
Hình 2.2. Qui trình nghiên cứu 74

1

PHẦN MỞ ĐẦU
Sự phát triển của thế giới đang bước sang trang mới với những thành tựu có
tính đột phá, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm quyết định sự biến đổi về chất
của nền kinh tế chính là nguồn nhân lực chất lượng cao. Sự thống trị của các nhân
tố truyền thống như số lượng đất đai, lao động, hay nguồn vốn giờ đây đã được thay
đổi. Chính nguồn nhân lực chất lượng cao mới là yếu tố cơ bản nhất của mọi quá
trình, bởi lẽ những yếu tố khác vẫn có thể có được nếu có tri thức, song tri thức
không tự nhiên xuất hiện mà phải thông qua một quá trình giáo dục, đào tạo và hoạt
động thực tế. Ngày nay, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các doanh nghiệp chủ yếu
là cạnh tranh về hàm lượng chất xám, nghĩa là hàm lượng tri thức kết tinh trong sản
phẩm hàng hoá dịch vụ nhờ vào nguồn nhân lực có chất lượng. Vì vậy, để có được
tốc độ phát triển cao và bền vững, các quốc gia trên thế giới đều chú trọng đến việc
phát triển nguồn nhân lực,một vấn đề cấp bách có tầm chiến lược, có tính sống còn

lần thứ VII (2001-2005) và lần thứ VIII (2006-2010)
Đại hội Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010-2015 đã
phân tích nhiều nhu cầu cấp bách phải tái cấu trúc kinh tế của thành phố Hồ Chí
Minh trong giai đoạn đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, xác định phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao chính là một trong sáu chương trình đột phá của
thành phố Hồ Chí Minh. (Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh, 2010).
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu về nguồn nhân lực – một
yếu tố then chốt và quyết định - hiện đang đặt ra cho nền kinh tế nước ta nói chung
cũng như cho thành phố Hồ Chí Minh những vấn đề nan giải, cấp bách: Số lượng
lao động thì dư thừa, nhưng chất lượng nguồn lao động thì lại không đáp ứng, yêu
cầu lao động chất xám, lao động có trình độ chuyên môn, tay nghề luôn thiếu hụt.
Hệ thống giáo dục, đào tạo tuy đã được cải tiến, tiếp cận với hệ thống quốc tế, chất
lượng đội ngũ giáo viên đã được nâng lên một bước, tuy nhiên chất lượng giáo dục
và đào tạo vẫn còn nhiều bất cập trước yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Điều
đó sẽ hạn chế khả năng cung ứng nguồn nhân lực cho một thị trường với yêu cầu
phát triển cao về chất nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và
hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố. (Nguyễn Trần Dương, 2005).
3

Từ thực trạng và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực nêu trên, tác giả quyết
định chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc ở thành phố Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sỹ chuyên ngành kinh tế
chính trị.
1. Bối cảnh nghiên cứu và lý do chọn đề tài
1.1. Những công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất
lƣợng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả Nguyễn Bá Ngọc và Trần Văn Hoan (2002) cho rằng quá trình toàn
cầu hoá có tính chất hai mặt, vừa tạo ra cơ hội, vừa đặt ra những thách thức đối với
các nước đang phát triển. Lao động Việt Nam có trở thành nguồn lực quyết định sự
thành công trong tham gia hội nhập quốc tế hay trở thành rào cản trong tiến trình

những hạn chế của TP.HCM là cung lao động vẫn chưa đáp ứng nhu cầu cả về số
lượng và chất lượng, trong đó thiếu hụt mạnh là khu vực ngoại thành. Tác giả bài
viết cho rằng nguyên nhân chính của vấn đề là mối quan hệ giữa nhà trường và
doanh nghiệp chưa thật sự chặt chẽ, và sự đầu tư cho quá trình chuyển đổi của thành
phố chưa theo kịp nhu cầu xã hội. Từ đó tác giả các giải pháp là tái cấu trúc nhân
lực thành phố, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho trường học theo hướng hiện
đại, tăng cường liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp đồng thời nâng cao vai trò
quản lý của nhà nước về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) đưa ra những nhân tố tác động
đến nguồn lao động như vị trí địa lý của lãnh thổ, điều kiện tư nhiên và tài nguyên
thiên nhiên, dân số và nguồn lao động, lịch sử khai thác lãnh thổ, cơ sở hạ tầng,
đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, Giáo dục, y tế. Trong đó tác giả
cho rằng giáo dục có vai trò quan trọng nhất đối với sự phát triển tiềm năng của con
người. Năng suất lao động không chỉ phụ thuộc vào sức khoẻ người lao động, vào
công nghệ sản xuất mà còn phụ thuộc nhiều vào trình độ hiểu biết của người lao
động. Kết quả giáo dục là tăng lực lượng lao động
Các tác giả Francis Green, David Ashton, Donna James, Johnny Sung
(1999) đề xuất một giải thích mới về vai trò của nhà nước trong việc hình thành kỹ
năng, với ba nền kinh tế Đông Á mới công nghiệp hóa. Thay vì nhìn thấy nhà nước
5

là yếu tố bên ngoài chỉ đơn giản là khắc phục, nhóm tác giả giải thích nhà nước phù
hợp với việc cung cấp và nhu cầu cho các kỹ năng trong một nền kinh tế phát triển
nhanh chóng. Vai trò này có thể là tốt hơn một chiến lược cho phép các tổ chức giáo
dục và đào tạo được thúc đẩy bởi quá trình tự trị. Bài viết xem xét các cơ chế chính
trị giúp cho việc đảm bảo sự phát triển của giáo dục và hình thành các chính sách
đào tạo tuân theo những mệnh lệnh của sự tăng trưởng kinh tế.
Trong tác phẩm “Tư duy lại tương lai” do Rowan Gibson biên tập (2002) các
nhà nghiên cứu cho rằng: Từng ngóc ngách trong lối tư duy của kỷ nguyên công
nghiệp bây giờ đây đang được xem xét lại kỹ lưỡng và được tu chỉnh một cách

có những đặc điểm chung là nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa
được sự quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, đào tạo
thì nửa vời, nhiều người chưa được đào tạo; Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao,
dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa lượng và chất; Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa
nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự
cộng lực để cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ đất nước.
Từ đó, tác giả đã đề xuất 10 giải pháp phát triển nguồn nhân lực Việt Nam (Cần coi
nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam; nâng cao chất lượng con
người và chất lượng cuộc sống; Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn
nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi
dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực cho đúng; hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về
lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt
chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà xây dựng chính
sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân lực ở Việt Nam ) Tác giả
cũng kiến nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp
kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất
nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển
của nền kinh tế.
Tác giả Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự (2002) khẳng định con đường hội
nhập đối với Việt Nam là tất yếu. Xây dựng được cho mình những yếu tố ngày càng
mạnh của kinh tế tri thức là cách duy nhất để có được năng lực cạnh tranh, và hợp
7

tác một cách bình đẳng trong sự hội nhập đó. Đối với Việt Nam, chuyển sang thời
đại nền kinh tế tri thức là xu hướng không thể đảo ngược. Phải có tư duy của nền
kinh tế tri thức ngay cả khi đang ở trong giai đoạn phát triển nền kinh tế hữu hình
(công nghiệp hoá) để chí ít khi chưa thể bắt kịp vào nền kinh tế tri thức thì cũng tạo
ra được những tiền đề để tiếp nhận có hiệu quả các hiệu ứng tác động của nền kinh
tế tri thức trong toàn cầu hoá. Từ đó các tác giả cũng đề xuất sáu giải pháp căn bản
để tiến đến nền kinh tế tri thức là: Đẩy nhanh hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu,

ta thông qua đánh giá của các chủ doanh nghiệp Việt Nam đối với những lao động
được đào tạo qua các cơ sở đào tạo trong nước: (a) họ phải đào tạo lại hầu hết mọi
người ở mọi cấp bậc – học nghề, đại học, sau đại học - mà họ nhận vào doanh
nghiệp của mình, (b) họ không tin tưởng vào hệ thống đại học và các viện nghiên
cứu của trong nước, vì chất lượng giảng dạy thấp; nội dung thấp và lạc hậu; khả
năng nghiên cứu nghèo nàn; sách vở và thiết bị đều thiếu, không đồng bộ, cũ kỹ,
yếu về ngoại ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp.
Tác giả Đàm Nguyễn Thuỳ Dương (2004) cũng cho rằng nguồn nhân lực là
nguồn lực mạnh nhất, quan trọng nhất trong các nguồn lực của sự phát triển. Đó
không chỉ là động lực mà còn là mục tiêu của sự phát triển, là hướng vào phục vụ
lợi ích con người. Tuy nhiên, vấn đề phát huy sức mạnh của nguồn lực này như thế
nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt vào trình độ và kỹ năng sử dụng nguồn
lao động. Tác giả đã cho thấy được nguồn lao động của thành phố có qui mô lớn
nhất cả nước, chiếm 77% tổng nguồn lao động; 7,9% dân số trong độ tuổi lao động
và 6,6% dân số hoạt động kinh tế của cả nước. Chất lượng nguồn lao động đã được
nâng lên rõ rệt: về trình độ văn hoá của dân số hoạt động kinh tế chỉ có 0,5% chưa
biết chữ và 10% chưa tốt nghiệp tiểu học, 8,9% đã tốt nghiệp từ tiểu học đến trung
học phổ thông; về trình độ chuyên môn kỹ thuật 33% dân số hoạt động kinh tế có
trình độ từ công nhân kỹ thuật trở lên và gần 40% qua đào tạo nghề, đặc biệt là lao
động có trình độ cao đẳng trở lên ngày càng tăng. Về sử dụng lao động, 93,8% dân
số hoạt động tập trung ở khu vực công nghiệp và dịch vụ, chỉ có 6,7% tập trung
trong nông nghiệp. Lao động ở TP.HCM cũng phân bố không đồng đều giữa các
khu vực kinh tế. Mặc dù kinh tế thành phố phát triển cao, hàng năm giải quyết được
9

một số lượng lớn lao động nhưng tỷ lệ người thất nghiệp của TP.HCM vẫn còn khá
cao chiếm 6,53% tổng số người trong độ tuổi lao động (so với Đông Nam
Bộ:4,65%; Hà Nội:4,61%; cả nước:2,1%). Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp
về nguồn lao động và sử dụng nguồn lao động. Đối với nhóm giải pháp nguồn lao
động, chú ý việc điều tiết biến động dân số và nguồn lao động nhằm giảm sức ép

- Khi bàn về nguồn nhân lực chất lượng cao trong nền kinh tế, tinh thần cơ
bản toát lên từ những công trình kể trên là sự nhấn mạnh tới yêu cầu về việc con
người phải thay đổi tư duy để thích ứng và làm chủ những xu hướng phát triển rất
mới và đầy bất ngờ trong thời đại ngày nay.
- Bằng việc vận dụng phương pháp tiếp cận hệ thống và phương pháp tiếp
cận thị trường, các bài viết đã góp phần bổ sung và phát triển lý luận về mối quan
hệ biện chứng giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế - dịch chuyển nhu cầu nhân lực – và
điều chỉnh nhu cầu đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường.

Ý nghĩa thực tiễn
- Các tác giả đã phân tích ở những khía cạnh và góc độ khác nhau về thực
trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam. Những thực trạng đó liên quan tới
số lượng, cơ cấu và khả năng đáp ứng yêu cầu của những công việc đòi hỏi trình độ
cao. Tất cả những nghiên cứu đều khẳng định rằng nguồn nhân lực chất lượng cao
của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình CNH,HĐH và quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam hiện nay.
- Những tài liệu trên đã phát hoạ được bức tranh phát triển nguồn nhân lực
của Việt Nam nói chung, với nét chủ yếu là thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực,
cũng như hạn chế của hệ thống giáo dục và đào tạo cần được khắc phục một cách
hiệu quả để từ đó đưa ra những giải pháp về nguồn nhân lực cho Việt Nam.
- Các tác giả nghiên cứu cũng đã đề xuất một số giải pháp về giáo dục – đào
tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực như: phát triển giáo dục đào tạo đáp ứng theo
nhu cầu của thị trường, đổi mới nội dung, chương trình và cách thức giảng dạy ở
các bậc học. Có chính sách ưu đã trong việc trọng dụng nhân tài.
1.4. Những vấn đề đặt ra cho luận án
- Các tác giả nước ngoài có những cách phân tích và luận giải tương đối cuốn
hút và thuyết phục về tầm quan trọng của tri thức và trí tuệ trong quá trình hình
11

thành nền kinh tế tri thức. Từ đó các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề phải đổi

- Tất cả những công trình nói trên, ở những mức độ khác nhau, đã giúp tác
giả có một số tư liệu và kiến thức cần thiết để có thể hình thành những hiểu biết
chung, giúp tiếp cận và đi sâu nghiên cứu vấn đề.
2. Mục tiêu nghiên cứu của luận án
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao ở TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở khía cạnh cung lao động.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao ở khía cạnh cầu lao động
- Lập luận về phương pháp, mục tiêu và đề xuất quan điểm và giải pháp phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của
TP.HCM
3. Đối tƣợng phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực sản
xuất (lao động kỹ thuật) trên địa bàn TP.HCM
- Nội dung vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu HNKTQT ở TP.HCM
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao
với tư cách là một bộ phận cấu thành của lực lượng sản xuất; là đội ngũ lao động
trực tiếp sản xuất của nền kinh tếtrên địa bàn TP.HCM trong bối cảnh HNKTQT.
4. Điểm mới và những đóng góp của luận án
4.1. Về phƣơng diện học thuật
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, các tiêu chí đánh giá và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao trong thời kỳ HNKTQT hiện nay ở hai khía cạnh cung và cầu lao
động tại TP.HCM.
Góp phần xác định và chứng minh các nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến
quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong HNKTQT ở TP.HCM
13

1.1.1. Phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lƣợng cao
Khái niệm về nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa, ngoài nghĩa rộng được
hiểu như khái niệm “nguồn lực con người”, thường còn được hiểu theo nghĩa hẹp là
nguồn lao động (tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số lao
động dự phòng), thậm chí có khi còn được hiểu là lực lượng lao động (số người
trong độ tuổi lao động mà có khả năng lao động).
Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con người tích luỹ
được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Cũng
giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với
mục đích đem lại thu nhập trong tương lai (Begg et.al, 1995).
Theo Ngân hàng thế giới thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến
thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có hoặc tiềm năng để phát
triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng (WB, 2000).
Nguồn nhân lực cần được hiểu là số lượng (số dân) và chất lượng con người,
bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo
đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng
được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay
một địa phương nào đó (Phạm Minh Hạc, 2001)
Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một tổ chức, một địa
phương, một quốc gia trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội (thể lực, trí lực,
nhân cách) và tính năng động xã hội của con người thuộc các nhóm đó, nhờ tính
15

thống nhất mà nguồn lực con người biến thành nguồn vốn con người đáp ứng yêu
cầu phát triển (Đoàn Văn Khái, 2005)
Schultz (1972) giải thích thuật ngữ “nguồn nhân lực” là bao gồm nhiều thuộc
tính như thể lực, sinh học, tâm lý và văn hoá cũng như giá trị văn hoá và giá trị kinh
tếcủa nhà sản xuất và dịch vụ khách hàng.
Nguồn nhân lực, theo cách tiếp cận mới, có nội hàm rộng rãi bao gồm các

Trong khái niệm này chất lượng nguồn nhân lực được giải thích như sau:
Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần. Thể lực
là trạng thái sức khoẻ thể chất của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người
phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng được những đòi
hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực ngày càng đóng
vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực, song, sức mạnh trí tuệ của
con người chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khoẻ mạnh. Chăm sóc
sức khoẻ là một nhiệm vụ rất cơ bản để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo
tiền đề phát huy có hiệu quả tiềm năng con người.
Trí lực của nguồn nhân lực: là trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ
năng lao động thực hành của người lao động. Đó là năng lực của trí tuệ, quyết định
phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố
quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực, khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ trở
thành yêu cầu quan trọng nhất của việc phát huy nguồn lực con người. Nó bao gồm
trình độ tổng hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn
hoá, với nền tảng học vấn nhất định là cơ sở cho phát triển trình độ chuyên môn kỹ
thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật đảm bảo cho nguồn nhân lực hoạt động mang
tính chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá. Kỹ năng lao động theo từng nghành
nghề, lĩnh vực là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong phát triển nguồn nhân lực ở
xã hội công nghiệp.
Phẩm chất tâm lý xã hội: còn được gọi là tâm lực, chính là tác phong, tinh
thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ
v.v.), có ý thức tự giác cao, có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn, sáng tạo,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status