Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGÔ THỊ QUÝ

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014

Lời cảm ơn!
Trong quá trình thực hiện luận văn, em đã nhận được sự quan tâm
giúp đỡ của các thầy cô giáo trong Khoa Triết học - Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn. Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã
tạo điều kiện để em hoàn thành luận văn này.
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Thanh
Huyền – người đã trực tiếp giúp đỡ, tận tình hướng dẫn và động viên để
em có thể hoàn thành luận văn này.
Em xin chân thành cảm ơn!

Người thực hiện đề tài
Ngô Thị Quý LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 12
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY 12
1.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng
cao 12
1.1.1. Khái niệm "nguồn nhân lực chất lượng cao". 12
1.1.2. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. 23
1.2. Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam và vai trò của đào tạo
NNLCLC trong quá trình hội nhập quốc tế. 29
1.2.1. Khái quát quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 29
1.2.2. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình hội
nhập quốc tế 36
Chương 2 48
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY-THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 48
2.1. Khái quát thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong bối
cảnh hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 48
2.1.1. Thành tựu: 48
2.1.2. Hạn chế. 64
2.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong đào tạo NNLCLC: 74
2.2. Những yêu cầu đặt ra của hội nhập quốc tế đối với đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: 78
2.3. Phương hướng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở nước ta hiện
nay. 85


tranh sẽ thuộc về quốc gia nào có NNLCLC phát triển. Do đó, có thể khẳng
định NNLCLC là yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu của nguồn nhân lực,
vì vậy cần coi trọng và phát huy tiềm năng của NNLCLC qua đào tạo.
Theo đánh giá của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Việt Nam đã
trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trong khu vực
châu Á. Việt Nam lại là một nước nhỏ, nguồn tài nguyên tự nhiên không
nhiều nên nguồn nhân lực càng có tầm quan trọng đặc biệt. Nhưng nguồn
nhân lực phát huy được vai trò của nó không phải ở ưu thế về số lượng mà là
2

ở chất lượng. Khi nguồn nhân lực có quy mô lớn nhưng chất lượng và năng
suất lao động thấp thì lại trở thành nhân tố hạn chế sự phát triển. Thực tiễn
đào tạo ở nước ta cho thấy, NNLCLC không đáp ứng đủ được cả về số lượng
và chất lượng. Hàng năm chúng ta phải thuê một số lượng lớn chuyên gia từ
nước ngoài. Chất lượng đào tạo yếu kém dẫn đến nguy cơ mất sức cạnh tranh
trên thị trường toàn cầu, là rào cản, là thách thức lớn đối với nền kinh tế đang
trong quá trình hội nhập quốc tế. Cùng với tiến trình mở cửa hội nhập quốc
tế, nhu cầu cấp thiết về lực lượng lao động có kỹ năng ngày càng cao, trong
khi hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được.
Để đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu về nhân lực trong tiến trình hội
nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh mạnh mẽ của lực lượng lao động trên thị
trường lao động khu vực và quốc tế, nhà nước cần đề ra một chiến lược mang
tính cấp bách, lâu dài về đào tạo và phát triển NNLCLC. Đào tạo NNLCLC
là phát huy nguồn lực nội sinh, phát huy yếu tố trí tuệ con người Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới. Vai trò quyết định
của NNLCLC chỉ trở thành hiện thực khi người lao động được đào tạo để có
năng lực và phẩm chất cần thiết, đáp ứng được những yêu cầu mà quá trình
hội nhập quốc tế đặt ra hiện nay. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng Cộng sản Việt Nam để khẳng định sự hiện diện của một bộ phận
nhân lực đầu tàu trong quá trình phát triển của đất nước: “Thông qua việc đổi

cơ sở đánh giá thực trạng NNLCLC và những vấn đề đặt ra trong việc phát
triển NNLCLC, tác giả đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp
chủ yếu góp phần phát triển NNLCLC ở Việt Nam.
Tiếp theo là các bài viết: "Tìm hiểu khái niệm “nguồn nhân lực chất
lượng cao” trong văn kiện Đại hội X của Đảng cộng sản Việt Nam", trong
Kỷ yếu hội thảo khoa học : Vai trò lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Trung tâm Đào tạo – Bồi
dưỡng giảng viên Lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội và bài "Các
tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam", đăng trên Tạp
4

chí Lý luận chính trị, 2008, số 8, của Lê Thị Hồng Điệp. Trong các bài viết
trên, tác giả đã đề cập đến khái niệm NNLCLC nêu ra trong văn kiện Đại hội
X của Đảng, đưa ra các cách định nghĩa khác nhau về NNLCLC và các tiêu
chí xác định riêng về nguồn nhân lực này.
Trong bài: “Vài nét về thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao trước
yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế", của Nguyễn Ngọc Tú, Tạp chí Nghiên cứu
Châu Âu, số 4, 2008, đã phần nào nói lên thực trạng NNLCLC cũng như
công tác đào tạo NNLCLC trong bối cảnh hội nhập hiện nay
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề đào tạo
NNLCLC ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Trước hết là, Chương trình khoa học – công nghệ cấp Nhà nước KX -
07, đề tài KX -07-1, PGS.TS Nguyễn Trọng Bảo chủ biên (1996), Gia đình,
nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử
dụng và đãi ngộ người tài, Nxb Giáo dục, Hà Nội. Cuốn sách giúp chúng ta
tìm hiểu vấn đề “bồi dưỡng nhân tài” - một bộ phận của NNLCLC, mà Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Đặc biệt, các tác giả đã tập trung làm rõ
vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện, tuyển chọn,
đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, trên cơ sở đó, đã đưa ra một
số giải pháp để phát triển nguồn nhân lực này.

giới và khu vực. Từ đó tác giả đã đưa ra vấn đề: Việt Nam cần đổi mới các
chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có. Công trình
nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nước ta trong việc
phát hiện, đào tạo, sử dụng tài năng khoa học – công nghệ phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và công cuộc đổi mới đất nước.
Tiếp theo là cuốn: Diễn đàn quốc tế về giáo dục Việt Nam “Đổi mới
giáo dục đại học và hội nhập quốc tế” = International forum on Vietnam
education “Higher education reform and international intergration” của các
tác giả Nguyễn Minh Hiển, Trần Quốc Toản, Tạ Ngọc Châu (2005), Nxb
Giáo dục Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp những bài phát biểu, báo cáo nghiên
cứu khoa học của các tác giả cung cấp các thông tin đa dạng – phong phú,
6

những kinh nghiệm, ý tưởng, đề xuất có tính chất tư vấn cho việc đổi mới và
phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam.
Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hồng Điệp với đề tài: Phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Trung
tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học quốc gia Hà Nội,
2005. Tác giả đã góp phần làm phong phú thêm những lý luận mới về phát
triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức thông qua những phân tích
nội dung, tiêu chí và những yếu tố tác động tới quá trình phát triển lực lượng
này; Thực hiện việc đánh giá tương đối toàn diện thực trạng phát triển
NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức giai đoạn 2001 -2007 gắn với
những nội dung tiêu chí nêu trên. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất một số giải
pháp phát triển NNLCLC thực sự trở thành lực lượng tiên phong trên hành
trình hiện thực hóa nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Trong cuốn Giáo dục Đại học: Một số thành tố của chất lượng, do
Nguyễn Phương Nga – Nguyễn Quý Thanh (cb) (2007), Nxb Đại học quốc
gia Hà Nội, ở phần 1, tác giả Trịnh Ngọc Thạch có bài viết: "Đào tạo và phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua giáo dục đại học". Trong đó,

TS. Hoàng Anh chủ biên (2013),Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và
vận dụng vào đào tạo đại học hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia. Nội dung
cuốn sách trình bày nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục theo từng thời kỳ gắn với cuộc đời hoạt động cách
mạng của Người cũng như đất nước và nêu bật tầm quan trọng của việc vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo đại
học hiện nay. Từ việc phân tích một số vấn đề trong công tác đào tạo đại học
hiện nay như chất lượng sinh viên, đội ngũ giảng viên, nội dung, chương
trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp
vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục vào nâng cao chất lượng đào tạo
đại học hiện nay.
Bên cạnh những cuốn sách và công trình nghiên cứu tiêu biểu của các
nhà khoa học, các nhà quản lý trong nước, còn một số bài báo khoa học cũng
đề cập đến vấn đề này :
8

TS Nguyễn Hữu Dũng (2002), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế", Tạp chí Lý luận chính trị, số 8, 2002. Trong bài viết của mình, tác giả đã
đưa ra quan niệm về NNLCLC, sơ lược về thực trạng NNLCLC ở nước ta
hiện nay, trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát
huy nguồn lực này ở nước ta trong thời kì đổi mới.
PGS.TS Phan Thanh Khôi (2008), "Đóng góp của đội ngũ trí thức vào
chủ trương, đường lối hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Lý luận chính trị
tháng 3/2008. Qua bài viết của mình, tác giả đã làm rõ vai trò quan trọng của
đội ngũ trí thức trong việc xây dựng luận cứ khoa học, bổ sung, hoàn thiện hệ
thống pháp luật, đào tạo nguồn nhân lực, góp phần vào quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Đồng thời tác giả đã chỉ ra một
số giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.

Các cuộc hội thảo đựơc tổ chức gần đây cũng đã bàn đến trực tiếp và
gián tiếp về vấn đề này như:
Hội thảo "Giáo dục Đại học - cơ hội và thách thức trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập", lần đầu tiên hội thảo thường niên của Ban liên lạc các
trường đại học, cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức trong hai ngày 14-15/4/
2014 tại Đà Lạt có mặt các khách mời quốc tế là các giáo sư đến từ các
trường Đại học Chi Nan, Diwan và Chiayi (Đài Loan). Từ những vấn đề cụ
thể đặt ra trong hội thảo, các đại biểu của Đài Loan và 142 trường đại hoc,
cao đẳng Việt Nam đã có nhiều cơ hội để chia sẻ nhận thức về việc hội nhập
quốc tế, trao đổi kinh nghiệm về việc phát triển giáo dục đại học và quản lý
nhà trường, đưa ra các phân tích nhận định công tác đào tạo NNLCLC trong
bối cảnh hội nhập từ đó đưa ra các giải pháp đảm bảo chất lượng, trao quyền
tự chủ cho các trường.
Hội thảo “Hội nhập quốc tế trong quá trình đổi mới giáo dục đại học
Việt Nam” do Hội đồng Quốc gia Giáo dục và phát triển nhân lực và Đại học
Quốc gia TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 8/6/2014. Nội dung được các
10

chuyên gia giáo dục trong và ngoài nước thảo luận nhiều nhất tại hội thảo đó
là: đổi mới tài chính mới mong muốn giáo dục đại học Việt Nam hội nhập
quốc tế. Trên cơ sở phân tích các thụân lợi, khó khăn của giáo dục đại học
trong quá trình hội nhập, nguyên nhân được phân tích là từ chi phí đào tạo
thấp dẫn đến nhiều hệ lụy trong đào tạo toàn diện. Và các đại biểu đã nhấn
mạnh giải pháp đổi mới tài chính để nâng chất lượng giáo dục đại học.
Các tham luận, các ý kiến của các nhà nghiên cứu trong các cuộc hội
thảo trên ít nhiều đề cập đến những khía cạnh liên quan đến luận văn và là
nguồn tài liệu tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn.
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các vấn đề khác nhau về
NNLCLC. Hầu hết các tác giả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của NNLCLC
đối với nước ta hiện nay, nhưng khả năng đào tạo của nguồn nhân lực này

Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu.
- Cơ sở lý luận: luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về giáo dục - đào tạo.
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp logic và lịch
sử, phân tích và tổng hợp cùng một số phương pháp xã hội học khác như
thống kê, so sánh, đối chiếu,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Luận văn góp phần nghiên cứu hệ thống vấn đề NNLCLC và đào tạo
NNLCLC trong bối cảnh hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm
đến vấn đề này.
7. Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm 2 chương, 5 tiết ngoài phần mở đầu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.
12

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG BỐI CẢNH HỘI
NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Nguồn nhân lực chất lượng cao và đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao.
Để đi đến khái niệm "nguồn nhân lực chất lượng cao", trước hết chúng
ta cần làm rõ khái niệm "nguồn nhân lực".
Thuật ngữ nguồn nhân lực (human resources) xuất hiện vào thập niên 60
của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử

lực lượng lao động hay nguồn lao động mà còn là một tập hợp các yếu tố quy
định đến năng lực hoạt động của con người.
Theo chúng tôi hiểu, nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất
lượng con người với các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng
lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình
lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Như vậy, nguồn nhân lực bao hàm các yếu tố sau:
Số lượng nhân lực, nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ tổ chức nào, một
địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu
người và sẽ có thêm bao nhiêu nữa trong tương lai. Đấy là những câu hỏi cho
việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân
lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ nhu cầu thực tế công việc đòi
hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như
sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân.
Chất lượng nhân lực, là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như
trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của
người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan
trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực.
14

Thể lực là trạng thái sức khỏe của con người biểu hiện ở sự phát triển
sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao động-
nghề nghiệp nào đó, có sức khỏe để tiếp tục công việc học tập, làm việc lâu
dài… thể lực không khỏe mạnh sẽ hạn chế lớn tới sự phát triển trí lực, trí tuệ
của nhân dân và của cả cộng đồng xã hội nói chung
Trí lực là yếu tố trí tuệ, tinh thần là cái nói lên tiềm lực văn hóa tinh
thần của con người. Nó quyết định khả năng sáng tạo và năng lực lao động
của con người. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lực lao động thì phải nâng
cao trình độ trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực lao động của người lao
động bên cạnh các yếu tố khác, như C. Mác đã chỉ ra rằng “Năng suất lao

NNLCLC là một khái niệm rộng và mang tính tương đối, tùy vào cách
tiếp cận mà có nhiều quan niệm khác nhau.
Thuật ngữ NNLCLC, vào thời kì của C. Mác và Ph. Ăngghen chưa
được sử dụng nhưng các ông đã chỉ ra tính vượt trội và ưu thế của loại lao
động trình độ cao, so với “lao động giản đơn”. C. Mác phân tích “lao động
giản đơn” và “lao động phức tạp” và kết luận: lao động phức tạp (lao động
được đào tạo) là bội số của lao động giản đơn. “Lao động phức tạp là lao
động giản đơn được nâng lên lũy thừa, hay nói đúng hơn lao động giản đơn
được nâng lên”[56, tr.75]. Đồng thời, C.Mác cũng khẳng định thêm rằng:
“Vậy thì nền công nghiệp do toàn xã hội thực hiện một cách tập thể và có kế
hoạch lại càng cần có những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ
sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất” [57, tr. 474]. Từ đầu thế kỷ XIX, C.
Mác đã chỉ ra, chính hoạt động sáng tạo của con người đã làm cho khoa học
ra đời, phát triển mạnh mẽ và khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp và các loại lao động phức tạp, trí tuệ, lao động quản lý sẽ có xu hướng
ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm. Do đó, lao động phức
tạp đòi hỏi phải bỏ ra chi phí đào tạo cao hơn.
Các nhà kinh tế học cũng cho rằng: Nguồn nhân lực mà hạt nhân của
nó là lao động kĩ thuật với toàn bộ thể lực, trí lực với trình độ chuyên môn, kĩ
16

năng cao cấp mà con người tích luỹ được, có khả năng đem lại thu nhập vượt
trội trong tương lai. Theo đó, có ba loại nhân lực chủ yếu quyết định sự phát
triển, đó là: người lao động thể lực; chuyên gia lành nghề và những người có
ý tưởng sáng tạo.
Để chỉ NNLCLC, trong các tạp chí nghiên cứu về giáo dục, đào tạo và
kinh tế thường sử dụng khái niệm lao động có kỹ năng cao (High Skill
Labours) hoặc lao động chất lượng cao (High Quality Labours). Đối với lao
động có kỹ năng cao, người ta quan niệm đó là những người thông thạo về
một nghề nghiệp nào đó, từ nghề đơn giản cho đến phức tạp trong lĩnh vực

mới” mang tinh thần khái niệm NNLCLC để chỉ “một lực lượng lao động có
học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là khả năng thích ứng nhanh với
những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất”.[10, tr.185]
Tác giả Đỗ Văn Dạo cho rằng: NNLCLC là “bộ phận lao động xã hội
có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao; có kỹ năng lao động giỏi và
có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ
sản xuất; có sức khỏe và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những
tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào qúa trình lao động sản xuất nhằm
đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cao” [12, tr.29-32].
TS. Nguyễn Hữu Dũng, coi: “ Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để
chỉ một con người, một con người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về
chuyên môn kỹ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại
lao động về chuyên môn kỹ thuật nhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân
kỹ thuật lành nghề)”[14, tr.20]
Theo TS. Lê Thị Hồng Điệp, NNLCLC có thể hiểu là một bộ phận của
nguồn nhân lực nói chung; “bao gồm những người lao động qua đào tạo được
cấp bằng, chứng chỉ của các bậc đào tạo và có khả năng đáp ứng những yêu
cầu phức tạp của công việc tương ứng với trình độ được đào tạo (trừ một số
trường hợp đặc biệt không qua đào tạo) từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao
18

trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng và phát triển
của mỗi đơn vị nói riêng và toàn xã hội nói chung”. [25, tr.68]
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất cũng như những tiêu
chí cơ bản để xác định thế nào là NNLCLC. Nhưng nhìn chung khái niệm
NNLCLC được các nhà nghiên cứu tiếp cận theo hai cách phổ biến sau:
Thứ nhất, cách tiếp cận mang tính định tính. Tức là định nghĩa
NNLCLC dựa trên hiệu quả năng suất lao động của người lao động, có khả
năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và
hiệu quả cao trong công việc, có những đóng góp đáng kể cho sự tăng trưởng

hiểu định tính và định lượng đều có những hạn chế. Tuy nhiên, một cách tổng
quát thì có thể hiểu rằng, NNLCLC là lực lượng lao động có khả năng đáp
ứng yêu cầu cao của thực tiễn. Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và
trình độ chuyên môn cao, có khả năng nhận thức, tiếp thu nhanh chóng những
kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành tựu khoa học và
công nghệ vào thực tiễn. Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề
nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với
nguồn nhân lực phổ thông. Ngoài ra một bộ phận nhỏ không qua đào tạo
chính thức (ví dụ trường hợp của các nghệ nhân) nhưng có khả năng đáp ứng
tốt những yêu cầu của một số ngành nghề đặc biệt cũng được thống kê trong
NNLCLC.
Trong luận văn, tôi tiếp cận khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”
theo cách hiểu định lượng, như quan điểm xem “Nguồn nhân lực chất lượng
cao là một bộ phận của nguồn nhân lực nói chung bao gồm những người có
trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên, đang làm việc trong các lĩnh vực
khác nhau của đời sống xã hội, có những đóng góp cho sự phát triển của cộng
đồng nói riêng và toàn xã hội nói chung”[48, tr.41]. Đặc điểm của nguồn
nhân lực trình độ cao theo cách hiểu định lượng này là đội ngũ này được
tuyển chọn và đào tạo bài bản qua các thiết chế giáo dục (các bậc học), có
tinh thần làm chủ và sáng tạo, thường được gọi là đội ngũ trí thức. Nguồn

Trích đoạn Thành tựu: Nguyờn nhõn của những hạn chế trong đào tạo NNLCLC:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status