Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo tỉnh Ninh Bình - Pdf 28

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

PHẠM THỊ THANH XUÂN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CHẤT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC
ĐÀO TẠO TỈNH NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

hiệu
Nguyên nghĩa
1
THCS
Trung học cơ sở
2
THPT
Trung học phổ thông
3
GDTX
Giáo dục thường xuyên
4

Cao đẳng
5
ĐH
Đại học
6
THCN
Trung học chuyên nghiệp
7
HS/GV
Học sinh/Giáo viên ii

DANH MỤC CÁC BẢNG
STT

2000 – 2014
61
7
2.7
Cơ cấu giáo viên phân theo giới tính giai đoạn
2000-2013
65
8
2.8
Cơ cấu giáo viên theo trình độ chuyên môn
66
9
2.9
Cơ cấu giáo viên dạy nghề phân theo trình độ của
tỉnh Ninh Bình năm học 2013-2014
68
10
2.10
Cơ cấu giảng viên, giáo viên các trường THCN,
Cao đẳng, Đại học phân theo học hàm học vị năm
học 2012-2013
68
11
2.11
Cơ cấu giáo viên các cấp phân theo loại hình đào
tạo
69
12
2.12
Tình hình chuẩn hoá đội ngũ giáo viên tại tỉnh

hội mà còn là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục –
Đào tạo có vai trò cốt tử đối với mỗi quốc gia. Trong Giáo dục – Đào tạo, vấn
đề chất lượng giáo viên và đội ngũ cán bộ quản lý Giáo dục – Đào tạo là vấn
đề đặc biệt quan trọng, là cốt lõi tạo nên nguồn nhân lực chất lượng cao cho
nền kinh tế.
Nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo tại tỉnh Ninh Bình
đang ở một thời kỳ rất khó khăn do chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ
quản lý chưa đáp ứng yêu cầu thực tế, nguồn nhân lực bổ sung chất lượng cao
cho lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo đang thiếu hụt do môi trường và điều kiện
làm việc không hấp dẫn, trong khi yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước đối với nguồn nhân lực lại rất cao. Trước tình hình đó,
phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo đang trở thành
yêu cầu bức thiết đối với lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo tỉnh Ninh Bình hiện
nay. Để có nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo

2

tỉnh Ninh Bình, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn để tìm ra
những giải pháp hữu hiệu phù hợp với điều kiện của tỉnh. Với ý nghĩa đó, tác
giả chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo
tỉnh Ninh Bình” để làm luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là:
Tỉnh Ninh Bình cần phải làm gì để có được nguồn nhân lực chất lượng
cao trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã
hội trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế?
2. Tình hình nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo là nhu cầu
cấp bách cho phát triển nguồn nhân lực của cả nước trong giai đoạn hiện nay,
vì vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, luận án tiến
sĩ, luận văn thạc sĩ, và các bài nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó những

hiện nay về số lượng, chất lượng. Đặc biệt, điểm nhấn trong bài viết của tác
giả chính là chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đang còn nhiều hạn chế,
yếu kém, cho dù nước ta có nguồn nhân lực dồi dào. Bên cạnh đó, tác giả còn
nêu ra những hạn chế, yếu kém của nguồn nhân lực nước ta, đưa ra nguyên
nhân của những yếu kém đó. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất những giải pháp
để có thể phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đủ mạnh, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- "Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước ta
hiện nay", của Phạm Quốc Trung và Trần Đăng Thịnh, bài viết trên tờ
Economy and Forecast Review năm 2009. Bài viết đã nêu ra những bất cập
trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, nguyên
nhân của những bất cập đó và trên cơ sở đó đưa ra năm giải pháp để phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam. Bao gồm: (1), nhận thức tầm
quan trọng của việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong

4

quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập; (2), nâng cao hiệu quả
quản lý Nhà nước về phát triển nguồn nhân lực; (3), nâng cao chất lượng đào
tạo nguồn nhân lực; (4), xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và công
cụ khuyến khích thúc đẩy phát triển nhân lực; (5), tăng cường mở rộng phối
hợp và hợp tác trong phát triển nguồn nhân lực.
- "Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: thực
trạng và triển vọng", của Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Thu Hương, tạp chí
Nghiên cứu Con người số 1 năm 2010. Trong bài viết, tác giả đưa ra quan
niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao, thực trạng nguồn nhân lực chất lượng
cao ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó tác giả chỉ ra triển vọng phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao và một số khuyến nghị để phát triển nguồn
nhân lực này, bao gồm: (1), giáo dục đại học cần gắn chặt với nhu cầu xã hội;
(2), kiểm soát chất lượng đầu ra của giáo dục đại học, sau đại học; (3), công

ra cơ sở lý luận và thực tiễn của phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo
dục - Đào tạo, thực trạng nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo trong
giai đoạn 1997 - 2004, từ đó đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm phát
triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo nước ta trong những
năm tiếp theo. Tác giả đưa ra 4 giải pháp cơ bản, bao gồm: (1), Xây dựng kế
hoạch, quy hoạch nguồn nhân lực Giáo dục - Đào tạo; (2), Xã hội hoá phát
triển nguồn nhân lực Giáo dục - Đào tạo; (3), Các chính sách hỗ trợ cho việc
phát triển nguồn nhân lực Giáo dục - Đào tạo; (4), Phát triển thị trường lao
động trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo; trong đó nhấn mạnh sự cấp bách của
nhóm giải pháp thứ nhất và thứ hai.
- “Phát triển Giáo dục - Đào tạo là động lực của sự phát triển kinh tế - xã
hội” của Trần Thị Minh Giới, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Một số vấn đề về
nội dung và phương pháp giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2005. Trong bài viết, tác giả có nêu: “khi nguồn lực

6

con người được coi là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia, thì
phát triển Giáo dục - Đào tạo là phương tiện chủ yếu để quyết định chất lượng
con người, là nền tảng chiến lược của con người” [24]. Cùng với việc nhận
thức đúng vị trí, vai trò của Giáo dục - Đào tạo ở tất cả các bậc học, tác giả
cũng đưa ra khẳng định vai trò quyết định của chất lượng đội ngũ giáo viên
đối với chất lượng nhân lực xã hội, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: nâng cao mức sống và điều kiện làm
việc cho giáo viên; nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên; có chính
sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng phù hợp
- “Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn
nhân lực công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, của Phí Văn Hạnh, bài viết
trên tạp chí Tổ chức Nhà nước năm 2008. Trong bài viết, tác giả cho rằng
muốn nâng cao chất lượng giáo viên thì cần nâng cao nhận thức của xã hội về

Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu những vấn đề lý luận và
thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục –
Đào tạo của tỉnh Ninh Bình hiện nay, tìm ra những hạn chế trong vấn đề này và
nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực này từ
nay đến năm 2020.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo của tỉnh Ninh Bình từ năm 2000 đến nay.
+ Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

8

4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao trên tất cả các phương diện: quy mô, trình độ và cơ cấu.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: như trên đã đề cập, nguồn nhân lực trong lĩnh vực
Giáo dục - Đào tạo bao gồm nhiều bộ phận, thực hiện nhiều chức năng khác
nhau. Do khuôn khổ luận văn có hạn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu bộ phận
quan trọng nhất là đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục từ
cấp học mầm non đến cao đẳng, đại học. Vì đây là đội ngũ nguồn nhân lực
chất lượng cao ngành Giáo dục – Đào tạo Ninh Bình.
- Phạm vi không gian: trong phạm vi tỉnh Ninh Bình.
- Phạm vi thời gian: từ năm 2000 đến nay và định hướng cho những năm
tiếp theo.

cao trong lĩnh vực Giáo dục – Đào tạo ở tỉnh Ninh Bình đến năm 2020 10

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG LĨNH VỰC GIÁO
DỤC – ĐÀO TẠO
1.1. Một số vấn đề chung về phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Khái niệm và phân loại nguồn nhân lực
1.1.1.1. Các khái niệm cơ bản
* Nhân lực:
Theo từ điển Tiếng Việt, nhân lực là sức của con người: bao gồm sức lực
cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của
mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động
hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) [69]. Nhân lực với ý nghĩa đầy đủ
của nó bao gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực; ba yếu tố đó có quan hệ
biện chứng với nhau, trong đó, trí lực giữ vai trò quyết định, nhưng thể lực và
tâm lực cũng đóng vai trò quan trọng như điều kiện cần thiết không thể thiếu
đối với sự phát triển của nguồn nhân lực.
* Nguồn nhân lực:
Khái niệm nguồn nhân lực (human resources), vốn con người (human
capital) xuất hiện ở Hoa Kỳ vào những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX bởi
nhà kinh tế học người Mỹ - Theodor schoultz và sau đó được thịnh hành trên thế
giới. Khái niệm nguồn nhân lực có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học,
được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội. Cùng với sự phát triển
của xã hội, khái niệm nguồn nhân lực cũng dần được bổ sung và hoàn thiện hơn.
Theo thuật ngữ Pháp (1977-1985, nguồn nhân lực bao gồm những người
trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm

gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất đạo đức

12

của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm
năng, được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một
quốc gia hay của một địa phương nào đó [27], tức là những người lao động có
kỹ năng (hay khả năng nói chung) bằng con đường đáp ứng được yêu cầu
chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Theo Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực bao gồm những người trong
độ tuổi lao động, có khả năng lao động (có tính thêm cả trẻ em và người lao
động cao tuổi). Cách định nghĩa này giúp cho việc nghiên cứu sự đóng góp và
nhu cầu của các đối tượng xã hội trong phát triển kinh tế - xã hội được dễ
dàng hơn.
Nhìn chung, có rất nhiều cách định nghĩa nguồn nhân lực, tùy thuộc vào cách
tiếp cận nghiên cứu của từng lĩnh vực, của từng nhà kinh tế. Tuy nhiên những
quan niệm này đều thống nhất nội dung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung
cấp sức lao động cho xã hội. Có thể chia khái niệm nguồn nhân lực theo hai
cách hiểu sau đây:
- Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là tổng thể tiềm năng lao động của con
người của một quốc gia, hoặc vùng lãnh thổ: bao gồm cả số lượng và chất
lượng.
- Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là nguồn lao động, bao gồm tổng số
người đang làm việc, lao động dự phòng; tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm
lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Trong luận văn này, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng theo quan
niệm: “là tổng thể số lượng và chất lượng con người với các tiêu chí về thể
lực, trí lực và tâm lực tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã,

chung mà còn là phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có được việc
làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân [61].

14

Liên hợp quốc sử dụng khái niệm phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng
hơn bao gồm giáo dục, đào tạo nghề nghiệp và sử dụng tiềm năng con người,
nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Quan
niệm này đã nhấn mạnh khía cạnh xã hội của vấn đề: nguồn nhân lực vừa là một
yếu tố của sản xuất, của tăng trưởng kinh tế và là mục tiêu của sự phát triển.
Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là
quá trình nâng cao năng lực của con người về mọi mặt: thể lực, trí lực, tâm lực;
đồng thời phân bổ, sử dụng, khai thác và phát huy hiệu quả nguồn nhân lực
thông qua hệ thống phân công lao động và giải quyết việc làm để phát triển
kinh tế xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực của một đất nước là quá trình tạo dựng lực
lượng lao động năng động, có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả. Nói
một cách cụ thể hơn, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng
cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao
động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất; kiến thức được nâng lên nhờ quá
trình đào tạo, tiếp thu và tích lũy kinh nghiệm, còn thể lực có được nhờ chế độ
dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế.
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người
thông qua đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về
thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong các hoạt động lao
động, thông qua việc tuyển, sử dụng, tạo điều kiện về môi trường làm
việc(phương tiện lao động có hiệu quả và các chính sách hợp lý) môi trường
văn hóa – xã hội kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người để họ
mang hết sức mình hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
1.1.1.2. Phân loại nguồn nhân lực

nhân lực trên.
 Nhân lực có trình độ đại học trở lên: là bộ phận lao động đã qua đào tạo
tại các trường đại học và được cấp bằng đại học, thạc sỹ, tiến sỹ. Bộ phận này
chiếm tỷ lên tương đối cao, gần 2/3 trong bộ phận nhân lực đã qua đào tạo.
* Phân loại theo trong lĩnh vực nghề

16

Dựa vào hoạt động kinh tế, người ta chia nguồn nhân lực thành 5 loại.
Bao gồm:
- Nguồn nhân lực khoa học – công nghệ: đó la
̀
b ộ phận như
̃
ng nho
́
m
ngươ
̀
i làm việc có liên quan đến hoa
̣
t đô
̣
ng Khoa học công nghệ như tham gia
nghiên cư
́
u, sáng tạo, quản lý, khai tha
́
c sư
̉

tốc độ chưa từng có trong lịch sử phát triển nhân loại. Nếu như ở thế kỷ
XVIII, một nước cần 100 năm để công nghiệp hóa, đầu thế kỷ XX là khoảng
30 năm thì hiện nay, thời gian rút ngắn chỉ còn 10 – 20 năm. Phần thắng trong
cuộc ganh đua lịch sử này sẽ thuộc về quốc gia có một nền kinh tế hùng
mạnh, dựa trên kỹ thuật – công nghệ cao với đội ngũ nhân lực năng động,
sáng tạo và có trình độ cao. Cách mạng Khoa học - Công nghệ đã đem lại bộ
mặt mới cho xã hội, một diện mạo hiện đại. Công nghệ hiện nay thay đổi từng
ngày, từng giờ: nếu trước đây, cần hàng chục năm để một thế hệ mới của máy
móc ra đời, thì ngày nay, thời gian đó chỉ tính bằng ngày, tháng. Sự phát triển
của Khoa học - Công nghệ không phải là tự nhiên mà là kết quả của trí tuệ
con người. Các tập đoàn, công ty lớn trên thế giới đều dành khoản đầu tư rất
lớn cho các nhà khoa học nhằm khai thác tối đa trí tuệ của họ. Trải qua nhiều
thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội, vai trò của nguồn nhân lực – nguồn vốn
con người ngày một quan trọng, có vai trò quyết định đến các nguồn lực phát
triển kinh tế khác. Nguồn nhân lực là yếu tố chủ động của quá trình sản xuất,
là bộ phận sáng tạo ra công nghệ và sử dụng nó có hiệu quả.
Hiện nay, vai trò công nghệ tiên tiến đối với những nước công nghiệp
hóa đi sau là vô cùng quan trọng. Vì tiến hành công nghiệp hóa chậm hơn,
nên các nước này phải tranh thủ đi tắt, tiến hành nhảy vọt ở những khâu cần
thiết. Rất nhiều máy móc công nghệ hiện đại của những nước công nghiệp
hóa đi trước đã được chuyển giao, mua bán lại cho các nước công nghiệp hóa
chậm hơn. Các nước đi sau có lợi thế về công nghệ, nhưng đó không phải là
nhân tố quyết định sự thành công của quá trình công nghiệp hóa. Nhân tố
quyết định ở đây vẫn là nguồn nhân lực. Bộ phận sử dụng công nghệ là con
người, chính vì vậy, việc sử dụng công nghệ tiên tiến có hiệu quả hay lãng

18

phí còn phụ thuộc vào đội ngũ nhân lực sử dụng nó. Nhiều công ty hiện nay
đang gặp khó khăn với những công nghệ mà họ mua về. Trình độ của công

i ma
̀
tố chất cu
̉
a
con ngươ
̀
i la
̣
i gắn liền vơ
́
i chất lươ
̣
ng gia
́
o du
̣
c.
Ở các quốc gia phát triển đa
̃
bắt đầu lô
̣
ro
̃
nhiều đă
̣
c trưng cu
̉
a nền kinh
tế tri thư

ng nhân ta
̀
i tri
thư
́
c đươ
̣
c tr ọng dụng với chế độ đãi ngộ cao. Nguồn nhân lực chất lượng
cao đang có xu hướng tăng nhanh ở các nước này. Bộ phận nhân lực chất
lượng cao này có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế tri
thức. Nhân lực chất lượng cao là những đối tượng tiên phong trong việc
ứng dụng và triển khai những tri thức hiện đại trong sản xuất và kinh
doanh. Họ còn là những người đi đầu trong việc sáng tạo ra tri thức hiện
đại. Bởi vậy, hiện nay ở các quốc gia đang phát triển cũng đang đầu tư
mạnh mẽ cho nguồn nhân lực nhằm nhanh chóng tạo ra bộ phận nguồn
nhân lực chất lượng cao hùng hậu, đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Trong nền kinh tế hiê
̣
n đa
̣
i , lươ
̣
ng thông tin tăng lên rất
nhanh, đồng thơ
̀
i sư
̣
la
̃
o hoa

̣
t lần đang dần dần không còn đáp
ứng được sự thay đổi của xã hội, chính bởi vậy, sự giáo dục cũ đang đươ
̣
c
thay thế bằng gia
́
o du
̣
c suố t đơ
̀
i; giáo dục – đào tạo ngày càng có vai tro
̀
quan
trọng trong n ền kinh tế, nên không co
́
ca
́
ch na
̀
o kha
́
c la
̀
pha
̉
i đa da
̣
ng hoa
́


20

nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua
hoạt động của con người. Lịch sử xã hội đã trải qua 5 hình thái kinh tế - xã
hội. Công cụ sản xuất ngày càng hoàn thiện hơn, giúp cho con người khai
thác tự nhiên một cách dễ dàng.
Các nguồn lực khác trong phát triển xã hội bao gồm nguồn tài nguyên,
vốn, máy móc, trang thiết bị cũng rất cơ bản. Song chỉ khi có nguồn nhân
lực là chất xúc tác quyết định thì các nguồn lực đó ới phát huy tác dụng của
nó vào tăng trưởng kinh tế. Vốn là một trong những nguồn lực cơ bản cho sự
phát triển kinh tế đất nước. Trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa, thiếu
vốn luôn là bài toán nan giải đối với các quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên,
ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lại phải nói đến đội ngũ nhân lực. Việt
Nam là một trong những quốc gia được đầu tư vốn ODA và FDI tương đối
cao nhưng hiệu quả sử dụng vốn lại rất thấp. Việc sử dụng nguồn vốn được
cấp rất lãng phí, không hiệu quả, là có nguyên nhân từ bộ phận nguồn nhân
lực quản lý và sử dụng nguồn vốn này.
Tương tự như vậy, với tài nguyên thiên nhiên giàu có, vị trí địa lý ưu thế
cũng sẽ trở nên vô nghĩa nếu như bản thân đội ngũ nhân lực không có khả
năng khai thác. Ngày nay, trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự
hợp tác đầu tư nước ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, nó tạo ra “cái hích”
kinh tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái
hích” này đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tuỳ thuộc vào
yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó. Xét đến cùng nếu thiếu trí tuệ và
lao động của con người thì mọi nguồn lực đều trở nên vô nghĩa.
1.1.2.4. Nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững
Các lý thuyết tăng trưởng kinh tế hiện đại chỉ ra rằng, để có thể tăng
trưởng nhanh và ở mức cao, mọi nền kinh tế phải dựa trên ít nhất ba trụ cột cơ
bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao

Trích đoạn Tổng quan về ngành Giáo dục–Đào tạo Ninh Bình Nâng cao tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của người Thầy Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực nói chung và Sử dụng nhân lực theo nguyên tắc đúng người, đúng việc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status