Đại học quốc gia hà nội
Trƣờng Đại học kinh tế
Lê Thị Hồng Điệp
Phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để hình thành nền
kinh tế tri thức ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ kinh tế
Hà Nội, 2010
mà còn là sự tụt hậu về văn hóa và phát triển con người trong thế kỷ XXI. Tất cả những sự
tụt hậu này còn tạo ra những thách thức về chính trị mà Việt Nam có thể phải đối mặt.
Những thách thức này buộc dân tộc Việt Nam phải tìm ra con đường và cách thức
thoát nghèo, từng bước thích ứng và hòa nhập vào xu hướng hình thành nền KTTT của thời
đại ngày nay. Thực hiện con đường đó là thực hiện một quá trình phát triển đột phá đối với
một nước nghèo và lạc hậu như Việt Nam. Sự thành công của nó phụ thuộc vào rất nhiều
điều kiện nhưng điều kiện quan trọng nhất là nguồn nhân lực CLC. Đây là lực lượng tiên
phong sẽ quyết định sự thành bại của Việt Nam trên con đường phát triển đột phá hướng tới
hình thành nền KTTT trong tương lai. Vậy phải phát triển nguồn nhân lực CLC như thế nào
để hình thành nền KTTT ở Việt Nam? Đây là một câu hỏi lớn, có ý nghĩa lý luận và thực
tiễn đối với tương lai phát triển của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay.
Từ sự cần thiết của đề tài và từ mong muốn góp phần vì tương lai phát triển thịnh
vượng của dân tộc, chúng tôi lựa chọn đề tài cho luận án tiến sĩ kinh tế, chuyên ngành Kinh
tế chính trị của mình là: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền
kinh tế tri thức ở Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về
phát triển nguồn nhân lực CLC
Nhận xét chung về nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực
CLC gắn với xu hướng hình thành nền KTTT:
- Các công trình nghiên cứu của nước ngoài có những cách phân tích và luận giải
tương đối cuốn hút và thuyết phục về tầm quan trọng của tri thức và trí tuệ trong qua trình
hình thành nền KTTT. Từ đó, các tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề phải đổi mới tư duy
để mỗi cá nhân trở lên chủ động hơn trong sự phát triển mạnh mẽ của thời đại ngày nay.
Mặc dù khái niệm nguồn nhân lực CLC không được sử dụng nhưng những thuật ngữ như
2
doanh nhân, đội ngũ lãnh đạo, nhà khoa học, tầng lớp sáng tạo, công nhân tri thức, công
nhân trí tuệ được các tác giả sử dụng như một cách diễn đạt khác về lực lượng này đã
chứng tỏ sự quan tâm đặc biệt trong những nghiên cứu của các tác giả đối với lực lượng ưu
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc hình thành nền KTTT phụ thuộc vào rất nhiều điều kiện. Luận án không nghiên
cứu tất cả các điều kiện thúc đẩy sự hình thành nền KTTT. Đối tượng nghiên cứu của luận
3
án là vấn đề phát triển nguồn nhân lực CLC. Đối tượng này được nghiên cứu dưới góc độ là
điều kiện cơ bản và quan trọng nhất thúc đẩy sự hình thành nền KTTT.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
- Luận án nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực CLC như thế nào để hình
thành nền KTTT chứ không nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực CLC tác động như
thế nào tới sự hình thành nền KTTT. Vì vậy, mối quan hệ tác động qua lại giữa phát triển
nguồn nhân lực CLC với việc hình thành nền KTTT được phân tích gián tiếp thông qua
những nội dung, tiêu chí và các yếu tố tác động tới quá trình phát triển nguồn nhân lực
CLC.
- Luận án không bàn tới vấn đề phát triển về thể lực của nguồn nhân lực CLC.
- Có nhiều yếu tố tác động tới quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành
nền KTTT, nhưng luận án chỉ tập trung bàn về sự tác động trực tiếp của quá trình đào tạo ở
bậc Đại học và việc sử dụng nguồn nhân lực CLC.
- Thuật ngữ “đào tạo bậc Đại học” được sử dụng trong luận án bao gồm cả đào tạo
cao đẳng, đại học và sau đại học. Do đó, thuật ngữ “nguồn nhân lực trình độ đại học” được
sử dụng trong luận án cũng bao gồm nhân lực trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học.
Về không gian
Luận án nghiên cứu việc phát triển nguồn nhân lực CLC trên phạm vi cả nước; có
nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT của Mỹ
và Singgapore.
Về thời gian
Luận án nghiên cứu quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam từ năm
2001 đến nay, trong đó chú trọng phân tích giai đoạn 2001- 2007. Năm 2001 là thời điểm
lực CLC, kinh nghiệm các nước, các số liệu thống kê
- Phương pháp phân tích và tổng hợp được sử dụng trong toàn bộ quá trình thực hiện
luận án nhằm phân tích và tổng hợp thành những kết luận về quá trình phát triển nguồn nhân
lực CLC để hình thành nền KTTT nói chung và vận dụng để phân tích và tổng hợp những
đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam
nói riêng.
Trong quá trình phân tích, việc kết hợp giữa phương pháp phân tích định tính và
phương pháp phân tích định lượng đã giúp làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, những vấn đề
thực tiễn và những vấn đề về giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành
nền KTTT.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để hỗ trợ cho việc đánh giá quá trình
phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam so với những nội dung và tiêu chí đã đề ra và so
với quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC mà các quốc gia khác đã và đang thực hiện.
- Kỹ thuật tin học được sử dụng để quản lý dữ liệu, tính toán số liệu và xây dựng các
sơ đồ, bảng biểu liên quan tới vấn đề nghiên cứu.
6. Đóng góp của luận án
Nhằm trả lời câu hỏi Việt Nam cần phải phát triển nguồn nhân lực CLC như thế nào để
cú thể hình thành nền KTTT, Luận án có một số đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sau đây:
- Góp phần làm phong phú thêm những lý luận mới về phát triển nguồn nhân lực
CLC để hình thành nền KTTT thông qua những phân tích về nội dung, tiêu chí và những
yếu tố tác động tới quá trình phát triển lực lượng này.
- Thực hiện việc đánh giá tương đối toàn diện thực trạng phát triển nguồn nhân lực
CLC để hình thành nền KTTT giai đoạn 2001 -2007 gắn với những nội dung, tiêu chí và các
yếu tố tác động đã nêu.
5
- Đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở
Việt Nam trong tương lai. Những đề xuất đó góp phần tìm ra con đường và cách thức hiệu
quả để phát triển nguồn nhân lực CLC thực sự trở thành lực lượng tiên phong trên hành
trình hiện thực hóa nền KTTT ở Việt Nam.
cầu. Đó là ba xu hướng phát triển tất yếu trong thời đại ngày nay. Chúng tạo môi trường,
điều kiện và động lực để thúc đẩy nhanh chóng quá trình hình thành nền kinh tế tri thức toàn cầu.
1.1.1.3. Điều kiện thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức
6
Tổng hợp quan niệm của OECD và của WB, có thể khái quát về những điều kiện
thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức như sau:
Một là, thể chế chính trị –xã hội dân chủ, thường xuyên khuyến khích sự sáng tạo.
Hai là, tăng cường tiềm lực và chất lượng nguồn vốn tri thức thông qua chiến lược
phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, được đào tạo tốt.
Ba là, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, xây dựng hệ thống đổi
mới quốc gia (NIS).
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng, phát triển mạnh mẽ và sâu rộng những tri thức mới vào
quá trình phát triển, trong đó coi trọng việc đẩy mạnh ứng dụng, phát triển tri thức về công
nghệ thông tin và truyền thông.
Như vậy, có rất nhiều điều kiện thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức ở mỗi
quốc gia, nhưng xét đến cùng, các điều kiện đó bị tác động bởi một điều kiện bao trùm và
mang tính chủ động nhất, đó là điều kiện về nguồn nhân lực có kỹ năng, được đào tạo tốt –
nguồn nhân lực chất lượng cao.
1.1.2. Nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức: Khái
niệm, phân loại và vai trò
1.1.2.1. Các khái niệm
a, Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả
năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành
lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển KT – XH của mọi quốc gia.
Quan điểm trên nhấn mạnh tới khả năng của lực lượng lao động – yếu tố quyết định
nhất chất lượng nguồn nhân lực.
b, Nguồn nhân lực chất lượng cao
Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của nguồn nhõn lực, cú
- Lao động phi thông tin được chia ra lao động sản xuất hàng hoá và lao động cung cấp
dịch vụ. Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá và thay thế bằng kỹ thuật, công nghệ.
Nếu phân loại lực lượng lao động theo cách tiếp cận công việc nghề nghiệp thì lực
lượng lao động CLC trong nền KTTT bao gồm ba lực lượng: Lao động tri thức, lao động
quản lý và lao động dữ liệu.
1.1.2.3. Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao với việc hình thành nền KTTT
Là lực lượng ưu tú nhất của nguồn nhân lực, nguồn nhân lực CLC là lực lượng thực
hiện vai trò tiên phong của mình trong quá trình hình thành nền KTTT. Vai trò tiên phong
đó thể hiện ở những khía cạnh sau: (1) Vai trò tiên phong trong nắm bắt và định hướng quá trình
hình thành nền KTTT; (2) Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại để
hình thành nền KTTT ; (3) Vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức hiện đại để hình thành nền
KTTT.
1.2. Nội dung và Tiêu chí phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình
thành nền kinh tế tri thức
1.2.1. Nội dung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.1.1. Gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong nền KTCN, quá trình sản xuất hàng loạt theo dây chuyền với sự phân tách chi
tiết chức năng lao động trí óc và lao động chân tay nên nhu cầu đối với nguồn nhân lực CLC
tuy rất cần thiết song chỉ ở quy mô nhỏ. Trong nền KTTT, quá trình sản xuất được tổ chức
theo mô hình linh hoạt. Mô hình tổ chức lao động mới đòi hỏi một lực lượng lao động đại
chúng trực tiếp tham gia sản xuất có độ linh hoạt cao, có khả năng sáng tạo và đổi mới, có
trình độ đào tạo cao. Vì vậy, muốn phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT,
trước tiên phải gia tăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, lao động quản lý và lao
8
động dữ liệu. Lực lượng này phải chiếm tỷ trọng vượt trội trong tổng lực lượng lao động
quốc gia.
1.2.1.2. Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực CLC
Xu hướng hình thành nền KTTT gắn với xu hướng phát triển một số ngành đặc thù,
được gọi là ngành công nghiệp tri thức (knowledge intensive industry). Vì vậy, cơ cấu
1.2.2. Tiêu chí đánh giá quá trình phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá về sự gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
9
Các chỉ tiêu này bao gồm : (1)Sự gia tăng tỷ lệ lao động trình độ đại học trên tổng số
lực lượng lao động ; (2) Sự gia tăng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân ; (3)Sự gia tăng số
lượng sinh viên, sinh viên mới tuyển, sinh viên tốt nghiệp hàng năm.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu xác định sự điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao
Các chỉ tiêu này bao gồm: (1)Điều chỉnh cơ cấu nhân lực CLC theo vùng ; (2) Điều
chỉnh cơ cấu nhân lực chất lượng cao theo ngành kinh tế ; (3) Điều chỉnh tỷ lệ cán bộ
nghiên cứu khoa học trên một trăm dân ;(4) Điều chỉnh tỷ lệ nhân lực KH – CN trên tổng số
nhân lực CLC ; (5) Điều chỉnh tỷ lệ giảng viên đại học trên tổng số nhân lực CLC ; (6) Điều
chỉnh kết cấu sức lao động trong nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ kỹ thuật cao.
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thích ứng và khả năng sáng tạo tri thức
KH – CN hiện đại của nguồn nhân lực chất lượng cao
Các chỉ tiêu này bao gồm : (1) Mức độ sẵn có của lao động sản xuất CLC ; (2) Mức
độ sẵn có của cán bộ hành chính CLC ; (3) Mức độ sẵn có của cán bộ quản lý hành chính
CLC ; (4) Sự thành thạo lao động công nghệ cao ; (5) Sự thành thạo tiếng Anh của đội ngũ
nhân lực CLC ; (6) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán bộ hành chính ; (7) Mức độ
thành thạo kỹ năng của đội ngũ chuyên gia ; (8) Mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ cán
bộ quản lý hành chính ; (9) Năng suất lao động của đội ngũ nhân lực CLC ; (10) Số đơn
đăng ký phát minh sáng chế được Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới cấp ; (11) Số bài viết được
đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế ; (12) Chỉ số h – chỉ số đánh giá khả năng sáng tạo
của các nhà khoa học.
1.2.2.4. Các tiêu chí đánh giá tố chất dân tộc của nguồn nhân lực chất lượng cao
Các chỉ tiêu này bao gồm: (1)Sự quan tâm đến thực trạng phát triển lạc hậu của đất
nước ở đội ngũ lãnh đạo quốc gia; (2) ý thức về sự phát triển đột phá để theo kịp xu hướng
của thời đại ở đội ngũ lãnh đạo quốc gia ; (3) Sự dũng cảm của đội ngũ nhà khoa học xã hội
trong việc đề xuất ý tưởng táo bạo nhằm tạo bước phát triển đột phá cho đất nước;(4) Mức
độ trong sạch (thông qua chỉ số tham nhũng) của đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền.
nhân sự, về đội ngũ giáo sư, về quản trị, về tài chính…Bao trùm lên tất cả là việc các trường
đại học trở thành một môi trường của tự do tư tưởng, ở đó người học được làm quen với đức
tính quan trọng nhất của một con người tự chủ - đó là những người biết rằng mình có quyền
tự do tư tưởng, biết cách sử dụng đúng đắn quyền đó và biết tôn trọng quyền đó ở tất cả mọi
người. Chỉ ở trong môi trường giáo dục đó, con người mới có thể hình thành và phát huy
được những tố chất tiêu biểu để hình thành nền kinh tế tri thức trong thời đại mới.
1.3.2. Sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Dù nguồn nhân lực được đào tạo với chất lượng của một nhân tài thì đó vẫn chưa
phải là yếu tố quyết định đến giá trị của họ đối với quốc gia, dân tộc. Vấn đề sử dụng, hay
chính xác hơn là vấn đề thu hút và trọng dụng mới vừa là động cơ, vừa là cái đích, vừa là một
khâu trong quá trình đào luyện và hiện thực hoá giá trị của nguồn nhân lực CLC nói chung và
nhân tài nói riêng
1.3.2.1. Tác động của việc thu hút nhân lực chất lượng cao nước ngoài tới quá
trình gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
Quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC trong bối cảnh TCH và HNKTQT chịu tác
động rất lớn từ hoạt động thu hút nhân lực chất lượng cao từ nước ngoài. ở cấp độ quốc gia,
hoạt động thu hút tác động tới việc gia tăng số lượng nguồn nhân lực CLC ở những khía cạnh
sau:
a, Gia tăng lực lượng tạo nguồn cho đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Thu hút những học sinh xuất sắc của nước ngoài, đặc biệt là những học sinh từ các
nước kém phát triển hơn đến thực hiện bậc học đại học tại quốc gia sở tại là một cách thức
thu hút làm gia tăng đáng kể lực lượng tạo nguồn cho đội ngũ nhân lực CLC của rất nhiều
quốc gia.
11
b, Gia tăng trực tiếp đội ngũ nhân lực chất lượng cao
Việc thu hút nhân lực CLC nước ngoài chủ yếu hướng tới đội ngũ nhà quản trị kinh
doanh, đội ngũ nhà khoa học – công nghệ, đội ngũ giảng viên đại học, đội ngũ kỹ sư. Bên
cạnh đó, một số quốc gia đã mạnh dạn thu hút nhân tài nước ngoài tham gia quản lý bộ máy
hành chính công.
công ty tham gia đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước.
1.4.2.2. Kinh nghiêm thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của
Singapore
12
Thành lập ủy ban Tuyển dụng tài năng ở trong nước; Hình thành Mạng tiếp xúc
Singapore; Trọng dụng nhân tài bằng chính sách trả lương tương xứng với giá trị của chất
xám; Quan tâm phát triển tài năng trẻ.
1.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.3.1. Bài học kinh nghiệm về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
Thực hiện mô hình giáo dục đại học đại chúng để gia tăng nguồn nhân lực chất lượng
cao;Thực hiện mô hình đại học khai phóng nhằm hình thành và phát huy những tố chất tiêu
biểu của nguồn nhân lực chất lượng cao; Nhà nước cần chú trọng đầu tư để phát triển nền
GDĐH quốc gia. Phải thực sự coi phát triển GDĐH là quốc sách hàng đầu; Xây dựng đội
ngũ giảng viên đại học đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Đây là điều kiện cần để thực
hiện thành công mô hình đại học đại chúng và khai phóng; Thí điểm trên diện rộng việc sử
dụng song ngữ (sử dụng cả tiếng Việt và tiếng Anh) để giảng dạy một số chuyên ngành mới
tại các trường đại học; Chú trọng mở rộng việc đào tạo đội ngũ nhân lực khoa học công
nghệ nhằm gia tăng năng lực khoa học công nghệ trong quá trình hình thành nền kinh tế tri
thức.
1.4.3.2. Bài học về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Triệt để thu hút nhân lực chất lượng cao từ mọi nguồn; Tri thức, chất xám phải được
trả giá cao, tương xứng để thúc đẩy khả năng sáng tạo của nguồn nhân lực CLC; Quan tâm
tạo điều kiện tốt cho lực lượng nhân lực trẻ tài năng.
Kết luận chương 1
Hình thành nền KTTT là một xu thế phát triển tất yếu của thời đại ngày nay. Trong
xu thế đó, tri thức đã thay thế vốn và lao động, trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất
quyết định sức mạnh phát triển. Vì vậy, bất kỳ quốc gia nào muốn theo kịp xu thế phát triển
của thời đại đều phải chú trọng đặc biệt tới việc phát triển nguồn nhân lực CLC để lực lượng
này có khả năng làm chủ tri thức mới. Đây là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất quyết
Đảng nêu ra. Đồng thời, đại hội IX tiếp tục khẳng định phát triển nguồn lực con người, đặc
biệt là phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam.
Đến Đại hội X, chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát
triển kinh tế tri thức đã trở thành một nội dung lớn trong Văn kiện. Để thực hiện chủ trương
này, Đảng đã xác định: phải đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân
lực CLC để tạo ra sức mạnh đột phá sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển,
tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững trong những thập niên mới.
Đây là lần đầu tiên thuật ngữ “nguồn nhân lực chất lượng cao” được sử dụng trong
Văn kiện của Đảng, nó thể hiện một bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng, đồng
thời định hướng cho quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam trên thực tế.
2.2. Thực tiễn phát triển nguồn nhân lực Chất lượng cao để hình thành nền Kinh tế
tri thức ở Việt Nam từ năm 2001 đến nay
2.2.1. Thực trạng gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao
2.2.1.1. Sự gia tăng số lượng lao động trình độ đại học trên tổng số lao động
Theo số liệu thống kê, năm 2001, lao động bậc đại học ở Việt Nam là 1.407.223
người (chiếm 3,64% lực lượng lao động), trong đó, lao động trình độ cao đẳng, đại học là
1.381.999 và sau đại học là 25.224. Đến năm 2007, lao động bậc đại học là 3.130.365
người, chiếm 7% tổng lực lượng lao động. Như vậy, trung bình từ năm 2001 đến 2007, lao
động bậc đại học ở Việt Nam tăng 246.163 người/năm. Như vậy, tốc độ gia tăng hàng năm
của lao động trình độ đại học là rất cao. Tuy nhiên, do có số lượng ít, nên tỷ trọng của lao
động trình độ đại học của Việt Nam còn ở mức thấp, chỉ khoảng 7% tổng lực lượng lao
động.
2.2.1.2. Sự gia tăng chỉ số sinh viên trên một vạn dân
14
Năm 2000, Việt Nam có 135 sinh viên/vạn dân, năm 2007 là 165 sinh viên/vạn dân,
năm 2009 là 196 sinh viên/vạn dân. Từ năm 2000 đến 2009, số lượng sinh viên/ vạn dân
tăng trung bình 7,8 người một năm. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước đã thành
công trong phát triển đột phá ở khu vực Đông á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, thì
phải đạt chỉ số sinh viên/vạn dân từ 300 đến 400 mới đủ nguồn nhân lực trình độ cao, tạo
môn, khoa học và công nghệ; Giáo dục và đào tạo. Đây là những ngành mà yêu cầu về hàm
lượng chất xám và tri thức khoa học – công nghệ hiện đại được đặt ra ở mức cao, gắn với xu
hướng phát triển của thời đại ngày nay.
2.2.2.3. Điều chỉnh cơ cấu giảng viên đại học trong tổng nhân lực trình độ đại học
15
a, Điều chỉnh cơ cấu giảng viên đại học trong đội ngũ nhân lực trình độ đại học
từ năm 2001 đến 2007, số lượng giảng viên đại học tăng từ 35.938 lên 62.350 người,
với tốc độ tăng trung bình là 10%/năm, trong khi đó số nhân lực trình độ đại học tăng hơn
20%/năm làm cho cơ cấu giảng viên đại học trong tổng nhân lực trình độ đại học giảm từ
2,55% năm 2001 xuống còn 1,99% năm 2007 và tỷ lệ nhân lực trình độ đại học/giảng viên
đại học tăng từ 39 người năm 2001 lên 58 người năm 2007. Điều này tạo lên sức ép rất lớn
đối với đội ngũ giảng viên đại học trong quá trình đào tạo nhân lực trình độ đại học cho đất
nước.
b, Điều chỉnh tỷ lệ sinh viên/giảng viên
Tốc độ tăng của giảng viên không theo kịp tốc độ tăng của sinh viên nên tỷ lệ sinh
viên/giảng viên đã tăng từ 27 lên đến 30 từ năm 2001 đến 2007. So sánh tỷ lệ này vào
những năm 1990 – 1995 mới càng thể hiện rõ sự gia tăng không theo kịp của đội ngũ giảng
viên đại học so với sinh viên. Năm 1990, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên là 5,9 rồi tăng lên
13,1 năm 1995 tức là lớp học hiện nay đông gấp 5 lần năm 1990 và gấp 3 lần năm 1995.
2.2.2.4. Tỷ lệ nhân lực KH-CN trong tổng nhân lực trình độ đại học
Tổng số nhân lực KH – CN trình độ đại học của Việt Nam là 41.896 người, chiếm
1,3 % tổng nhân lực trình độ đại học. Bên cạnh đó còn có khoảng 62.320 giảng viên đại học
và các chuyên gia, kỹ sư làm việc trong các doanh nghiệp cũng được thu hút và các hoạt
động nghiên cứu khoa học công nghệ.
2.2.3. Thực trạng hình thành và phát huy những tố chất tiêu biểu của nguồn
nhân lực chất lượng cao
2.2.3.1. Sự hình thành và phát huy tố chất dân tộc
a, Sự quan tâm đến thực trạng phát triển lạc hậu của đất nước ở đội ngũ lãnh đạo quốc gia
Sự diễn đạt về mức độ nghèo, kém phát triển và những nguy cơ của đất nước trong
a, Các chỉ số về chất lượng nguồn nhân lực của một số nước Châu á và Việt Nam
Theo kết quả so sánh, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam xếp thứ 11 trên tổng số
12 quốc gia được lựa chọn nghiên cứu. Điều đáng nhấn mạnh là, các điểm số đánh giá về
cán bộ quản lý hành chính chất lượng cao, sự thành thạo tiếng anh và sự thành thạo công
nghệ cao của nguồn nhân lực CLC Việt Nam là rất thấp, thậm chí thấp hơn và bằng với
Inđônêxia, nước xếp cuối cùng trong bảng so sánh xếp hạng.
b, Các chỉ số về mức độ thành thạo kỹ năng của đội ngũ nhân lực CLC
Thông qua việc khảo sát mẫu đội ngũ cán bộ quản lý hành chính, đội ngũ chuyên gia,
đội ngũ cán bộ hành chính thừa hành, có thể khẳng định, mức độ thành thạo công nghệ
(thông qua kỹ năng tin học) và mức độ thành thạo ngoại ngữ (thông qua kỹ năng ngoại ngữ)
của cả ba đội ngũ trên đều rất thấp. Đây là một lực cản rất lớn để những đội ngũ này phát
huy khả năng thích ứng trong quá trình tiếp thu những tri thức hiện đại phục vụ cho công
việc chuyên môn, góp phần phát triển đất nước.
c, Các chỉ số phản ánh tố chất sáng tạo của nguồn nhân lực CLC Việt Nam
Đối với đội ngũ nhà khoa học tự nhiên và công nghệ, tố chất sáng tạo được đánh gía
thông qua Số đăng ký quốc tế và Số lượng bài báo đăng trên các tạp chí quốc tế là rất thấp.
Trong giai đoạn 2002-2007, tổng số đơn đăng ký sáng chế của Singapore là 2.504 đơn,
Malaysia có 264 đơn, Philippines có 116 đơn, Thái Lan có 53 đơn, trong khi đó Việt Nam
chỉ có 26 đơn. Còn trong 11 năm, từ 1996-2007, các nhà khoa học Việt Nam thuộc 27
ngành công bố tổng cộng 5872 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực. Số
công bố quốc tế các ngành của Thái Lan là 33.205 bài báo; Malaysia: 21.034; Hàn Quốc:
263.401. Trung Quốc: 960.669 bài báo.
Đội ngũ nhà KHXH hiện nay phần lớn chỉ thực hiện công tác tuyên truyền cổ động,
thuyết minh quan điểm, đường lối của Đảng, mà chưa thực hiện chức năng chủ yếu là đi vào
17
thực tiễn khảo sát, nghiên cứu, phân tích và phản biện các đường lối, đặc biệt là đường lối
CNH, HĐH, từng bước phát triển KTTT. Các nhà khoa học thường thoát ly thực tế, né tránh
những vấn đề phức tạp, chỉ ghi chép đơn thuần hay thuyết minh cho thực tiễn, mà ít khi bày
tỏ rõ ràng quan điểm sáng tạo riêng của người nghiên cứu.
giáo dục đại học (bao gồm hệ thống đại học nghiên cứu, hệ thống đại học đại chúng, hệ
thống đại học tư, hệ thống đại học công) học chuyên nghiệp ; Cơ chế quản lý giáo dục đại
học chưa mang tính tự chủ cao, các trường đại học chưa thực sự có những tự chủ về nội
dung, chương trình, phương pháp đào tạo, về tài chính, về tổ chức nhân sự… Sự quản lý vẫn
mang tính áp đặt và cứng nhắc.
18
Nhóm nguyên nhân liên quan đến quá trình sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.
Việt Nam chưa có khả năng thu hút nhân lực chất lượng cao nước ngoài. Sự hạn chế trong
thu hút nhân lực nước ngoài của Việt Nam khiến cho tình trạng “chảy máu chất xám” càng
trở nên báo động. Những chính sách liên quan tới việc sử dụng lao động như: chính sách tiền
lương, tiền công, chính sách bảo hiểm xã hội và các chính sách chế độ khác… chưa tạo động
lực cho người lao động tự phấn đấu để phát triển trình độ chuyên môn, tay nghề của mình trong
quá trình công tác.
Kết luận chương 2
Chủ trương từng bước tiếp cận KTTT đã được đề ra ở Việt Nam từ năm 2001. Để
hiện thực hoá chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng tới việc phát triển
nguồn nhân lực CLC. Từ năm 2001 đến nay, việc phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt
Nam đã đạt được một số những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên, những kết quả
đó chỉ được đặt trong sự so sánh khép kín đối với chính nguồn nhân lực CLC của Việt Nam.
Nếu so sánh với thế giới và so sánh với yêu cầu của quá trình phát triển đột phá để hình
thành nền KTTT thì nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam còn bộ lộ những hạn chế lớn: Mất
cân đối giữa phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng nguồn nhân lực trình độ đại
học; (2) Không bắt kịp và bị bỏ lại quá xa trong phát triển cả về số lượng và chất lượng
nguồn nhân lực trình độ đại học so với xu thế hình thành nền KTTT của thời đại ngày nay.
Những hạn chế đó do tác động của sự lạc hậu và sự cứng nhắc trong quá trình đào tạo và
quá trình sử dụng nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam thời gian qua. Với thực trạng phát triển
nguồn nhân lực CLC như trên, Việt Nam không thể tạo được những bước phát triển đột phá
để hình thành nền KTTT và luôn luôn tụt hậu và ngày càng tụt hậu xa hơn so với trình độ
phát triển của thế giới. Cách thức phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam hiện nay vẫn
dục - đào tạo; xúc tiến cải cách, hiện đại hoá hệ thống giáo dục, tạo cơ hội học tập thường
xuyên, suốt đời; gắn kết một cách chặt chẽ, hiệu quả các sơ sở nghiên cứu khoa học, các
trường đại học, cao đẳng với doanh nghiệp,… Đổi mới quan trọng nhất trong quá trình sử
dụng nguồn nhân lực CLC là phải hình thành được một bầu không khí xã hội dân chủ,
khuyến khích tự do tư tưởng, nhất là những tư tưởng mới, đầy tính sáng tạo, có chế độ sử
dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân tài xứng đáng, tạo điều kiện cho mỗi người có thể làm việc
độc lập hơn nhưng lại có thể phát huy được hết sức sáng tạo và trách nhiệm của mình.
3.1.4. Đổi mới triệt để giáo dục đại học theo hướng hiện đại là điều kiện trọng
tâm để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong bối cảnh hiện nay, phải tìm ra cách thức để đổi mới triệt để GD ĐH theo
hướng hiện đại, làm cho GD ĐH đi trước một bước so với trình độ phát triển kinh tế của đất
nước thì nó mới thực sự đảm nhiệm được vai trò phát triển nguồn nhân lực CLC để hình
thành nền KTTT ở Việt Nam.
3.2. Giải pháP phát triển nguồn nhân lực Chất lượng cao để hình thành nền
kinh tế tri thức ở Việt Nam
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
3.2.1.1. Thành lập cơ quan quốc gia về phát triển nguồn nhân lực, trong đó chú trọng vấn
đề phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT ở Việt Nam
Việc thành lập cơ quan quốc gia về phát triển nguồn nhân lực được đưa ra dựa vào
nhu cầu cấp bách về việc cần phải thực hiện công tác thống kê, công tác hoạch định, tư vấn
về phát triển nguồn nhân lực một cách chuyên nghiệp, hiện đại và khoa học, đồng thời dựa
vào kinh nghiệm thành công của Đài Loan trong việc thành lập cơ quan này để tạo nên bước
đột phá trong phát triển nguồn nhân lực và phát triển kinh tế. Cơ quan quốc gia về phát triển
nguồn nhân lực cần phải được đầu tư toàn diện cả về nguồn lực con người và nguồn lực vật
chất, để đủ sức vươn lên thành một tổ chức đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong tư vấn
phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực CLC nói riêng.
3.2.1.2. Thành lập Bộ giáo dục Đại học
20
GDĐH có sự khác biệt cơ bản so với giáo dục phổ thông, vì vậy cần thiết phải có
đại ngày nay.
3.2.2.2. Đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy đại học theo
hướng hiện đại
Phải xây dựng chương trỡnh với một tỷ lệ thớch hợp giữa kiến thức cơ bản, kiến thức
chuyên sâu gắn liền với nhu cầu của các ngành kinh tế và kiến thức hiện đại, nhằm tạo cho
sinh viên, sau khi ra trường, không những chỉ có khả năng tiếp thu tốt sự chuyển giao công
nghệ, mà cũn cú thể cải tiến cụng nghệ và tiến tới sỏng tạo cụng nghệ mới.
21
Hiện đại hoá phương pháp giảng dạy chỉ đạt được mục tiêu khi làm chuyển hoá được
tư duy của người học, từ tư duy khép kín sang tư duy mở, từ bị nhồi nhét kiến thức sang cần
mẫn tự học và tích góp kiến thức. Từ đó, khả năng vô tận của người học sẽ được phát huy
và họ sẽ đủ sức sáng tạo lên những bước đi đột phá trong cuộc sống. Hiện đại hoá phương
pháp giảng dạy chính là khoa học hoá nó, làm cho nó phù hợp với quy luật nhận thức và quy
luật tiếp nhận tri thức của người học.
3.2.2.3. Chuẩn hoá đội ngũ giảng viên đại học
Trong thời đại mà nhiều nước công nghiệp tiên tiến đang chuyển dần sang kinh tế trí
thức thỡ việc chuẩn húa đội ngũ giảng viên đại học theo các tiêu chí: kiến thức, phương
pháp giảng dạy, đạo đức - tư cách và khả năng nghiên cứu. Bên cạnh đó tỷ lệ sinh
viên/giảng viên cũng cần được chuẩn hoá theo tiêu chí đề ra.
3.2.2.4. Xây dựng hệ thống giáo dục đại học theo hướng hiện đại
Cần tập trung xây dựng ở Việt Nam một số đại học nghiên cứu tiêu biểu trong thời
điểm hiện nay để thực hiện việc đào tạo ra ba đội ngũ nhân lực tiên phong trong công cuộc
hình thành nền KTTT, đó là đội ngũ lãnh đạo, đội ngũ nhà khoa học và đội ngũ doanh nhân.
Đại chúng hoá giáo dục đại học để từng bước đạt được cấp độ đại học đại chúng ở
Việt Nam. Trong quá trình thực hiện đại chúng hoá giáo dục đại học cần: Nhận thức được
những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện đại chúng hoá đại học ở Việt Nam; Đa dạng hoá
trong giáo dục đại học ; Thị trường hoá giáo dục đại học thông qua việc xây dựng các
trường đại học tư vô vị lợi; Quốc tế hoá hoạt động giáo dục đại học.
3.2.3. Nhóm giải pháp về sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
khoa học có thể khai thác thông tin khoa học, các điều kiện thí nghiệm, trao đổi học tập và
khảo sát thực tế ở Việt Nam đồng thời giao những công việc cụ thể nhằm giải quyết những
vấn đề trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của Việt Nam; cho vay vốn ưu đãi, miễn
thuế, cho mượn hoặc cho thuê đất với giá rẻ, giúp các nhà khoa học triển khai các sản phẩm
khoa học – công nghệ mới có hàm lượng trí tuệ cao.
3.2.3.3 Tạo mọi cơ hội thuận lợi để đội ngũ nhân tài chính trị phát huy được vai
trò dẫn đường cho công cuộc phát triển đột phá ở Việt Nam
Gia tăng sức ép của dư luận xã hội về nhu cầu thực hiện con đường phát triển đột phá
để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. Việc gia tăng hơn nữa sức ép của dư luận xã
hội là yếu tố mang tính lực đẩy để đội ngũ lãnh đạo quốc gia thực sự có nhu cầu sử dụng
những nhân tài chính trị để hiện thực hoá quyết tâm và hành động hướng tới việc xây dựng
và hình thành nền KTTT của quốc gia.
Giảm thiểu những tác động làm hạn chế quá trình phát huy khả năng sáng tạo của đội
ngũ nhân tài khoa học xã hội. Đội ngũ các nhà KHXH chính là lực lượng cơ bản để hình
thành nên đội ngũ nhân tài chính trị của mỗi quốc gia. Vì vậy, để đội ngũ nhân tài chính trị
phát huy được vai trò dẫn đường trong quá trình thực hiện bước phát triển đột phá ở Việt
Nam, lực lượng các nhà KHXH cần phải được phát huy tối đa khả năng sáng tạo tư tưởng
của họ bằng cách: xây dựng một Quy chế hoạt động KHXH và nhân văn; có cơ chế đặc biệt
nhằm bảo vệ những nhân tài quốc gia khi họ thực hiện những nghiên cứu và phản biện về
con đường hình thành nền KTTT của Việt Nam.
Kết luận chương 3
Muốn tạo ra những đột phá trong phát triển nguồn nhân lực CLC để có thể hình
thành nền KTTT ở Việt Nam, trước hết phải có những nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng
hàng đầu của việc phát triển nguồn nhân lực CLC đối với tương lai phát triển của đất nước.
Bên cạnh đó, cần phải nhận thức được một cách toàn diện những nội dung thiết yếu phải
thực hiện để có thể phát triển nguồn nhân lực CLC có khả năng làm chủ tri thức mới. Trong
quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC, hai vấn đề liên quan tới đào tạo và sử dụng phải
được coi là những yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất. Trong đó, yếu tố đào tạo -
đặc biệt là hoạt động đào tạo ở bậc đại học phải được coi là chìa khoá tạo lên sự đột phá cho
nguồn nhân lực CLC của Việt Nam.
trình phát triển này là yếu tố đào tạo (đặc biệt là đào tạo đại học) và yếu tố sử dụng nguồn
nhân lực CLC. Trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT,
các quốc gia đã đặc biệt chú trọng tới hai yếu tố này và đã gặt hái được những thành công,
đồng thời để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho những quốc gia đi sau như Việt Nam.
4. Chủ trương từng bước tiếp cận KTTT đã được đề ra ở Việt Nam từ năm 2001. Để
hiện thực hoá chủ trương đó, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt chú trọng tới việc phát triển
nguồn nhân lực CLC. Từ năm 2001 đến nay, việc phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt
Nam đã đạt được một số những kết quả bước đầu đáng khích lệ. Tuy nhiên, những kết quả
đó chỉ được đặt trong sự so sánh khép kín đối với chính nguồn nhân lực CLC của Việt Nam.
Nếu so sánh với thế giới và so sánh với yêu cầu của quá trình phát triển đột phá để hình
thành nền KTTT thì nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam còn bộ lộ những hạn chế lớn: Mất
cân đối giữa phát triển về số lượng và phát triển về chất lượng nguồn nhân lực trình độ đại