ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN TỚI
1. Thực trạng nhân lực Việt Nam:
Tài sản là của cải vật chất dùng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng. Tài
sản được sử dụng triệt để để tạo ra lợi nhuận tối đa. Còn tài sản trí tuệ là một
loại tài sản vô hình, không thể xác định bằng các đặc điểm vật chất của chính nó
nhưng lại có giá trị lớn và có khả năng sinh ra lợi nhuận. Nó là thước đo hiệu
quả kinh doanh, sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp trước
mắt và trong tương lai. Các loại tài sản hữu hình nói chung, việc sử dụng tài sản
đồng nghĩa với việc làm cho giá trị tài sản giảm đi.
Tuy nhiên, đối với tài sản trí tuệ, phạm vi và đối tượng sử dụng tài sản càng
rộng thì giá trị tài sản càng lớn. Ngày nay, chính vì sự nhận định nhân lực là tài
sản của doanh nghiệp nên chủ doanh nghiệp luôn khai thác và sử dụng triệt để,
vắt kiệt sức lao động của người lao động. Và cỗ máy chuyên dụng để tạo ra lợi
nhuận này đã lỗi thời hay bị hư hỏng nặng sẽ bị tiêu hủy và tiến hành mua cỗ
máy mới. Từ đó tạo cho tâm lý người lao động tính thụ động, tự biến mình thành
cỗ máy chuyên dụng và chấp nhận sự sa thải khi đã kém hiệu quả hoạt đông.
Chẳng hạn: Ai cũng nhìn thấy chính đội ngũ nhân viên lành nghề, có kỹ
thuật; ban lãnh đạo có chuyên môn, tài năng chính là một tài sản vô cùng to lớn
của công ty, song tại sao tài sản này lại không được ghi nhận trong bất kỳ một
báo cáo nào của công ty? Xét về quan điểm kế toán, công ty phải có quyền kiểm
soát đối vơi tất cả tài sản của mình, trong khi đó, đội ngũ nhân viên và ban lãnh
1
đạo thì công ty chỉ có thể kiểm soát được qua hợp đồng lao động. Như vậy, nếu
muốn định giá được thì cũng chỉ có thể xác định trong một khoảng thời gian
nhất định, cụ thể là kết thúc một năm tài chính bởi không phải ai cũng có thể
hoặc muốn đóng góp lâu dài cho công ty được.
Con người luôn là yếu tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế, đặc biêt
trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Muốn nâng cao
Họ đều tự làm. Đến lượt con cháu họ cũng tự làm. Có người nói rằng, nghề
trồng lúa là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được. Ở
các nước phát triển, họ không nghĩ như vậy.
Mọi người dân trong làng đều được hướng dẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa
trước khi lội xuống ruộng. Hiện có từ 80 đến 90% lao động nông, lâm, ngư
nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa được đào tạo. Điều này phản
ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất yếu kém. Sự yếu kém này
đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta vẫn còn đang trong tình
trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền thống, hiệu quả sản
xuất thấp. Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà
doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức.
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao
động ở nông thôn dôi ra, không có việc làm. Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi
năm nhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công
nghiệp, xây dựng đô thị.
3
Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo,
cho nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công
nghiệp, công trường. Tình trạng hiện nay là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm
trọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dư
thừa rất nhiều; chất lượng lao động rất thấp.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do khâu tổ chức lao động và quy
hoạch lao động trong nông thôn chưa tốt. Chính sách đối với nông nghiệp, nông
dân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tínhkhuyến khích và tính cạnh tranh.
Nguồn nhân lực từ công nhân: Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay có khoảng 10 triệu người (kể cả khoảng 500 nghìn công nhân đang làm
việc ở nước ngoại, tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành
nghề ở nước ngoài và 2 triệu hộ lao động kinh doanh cá thể). Số công nhân có
trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người. Nhìn chung,
công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nói
đủ"
1
.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã
hội trong quá trình đổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát
triển của giai cấp công nhân Việt Nam. Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém
trong phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống,
tâm tư, tình cảm của công nhân; những chính sách về giai cấp công nhân tuy đã
ban hành, nhưng chưa sát hợp với tình hình thực tế của giai cấp công nhân.
5
Trong các doanh nghiệp và người sử dụng lao động, không ít trường hợp còn vi
phạm chính sách đối với công nhân và người lao động.
Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức: Nếu tính sinh viên đại
học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trong
những năm gần đây tăng nhanh. Riêng sinh viên đại học và cao đẳng phát triển
nhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002: 1.020,7 nghìn
người; năm 2003: 1.131 nghìn người; năm 2004: 1.319,8 nghìn người. Năm
2005: 1,387,1 nghìn người; năm 2006 (mới tính sơ bộ: prel): 1,666, 2 nghìn
người,…
Cả nước có khoảng 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư; 5.253
phó giáo sư; 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt động khoa
học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có 49% của số
47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viên trung cấp chuyên
nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông; gần
9.000 tiến sĩ được điều tra, thì có khoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30% thực
sự làm chuyên môn.
Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện có khoảng 300 nghìn người
trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng 200 giáo sư, tiến sĩ đang
giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới.
Số trường đại học tăng nhanh. Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có 143
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn
người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương
12).
7
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và
hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí
và hàng chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia
các công đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo
chí, hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình.
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39
nghìn người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là
13.536 người.
Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính
sách pháp luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có 43 tiến sĩ
luật (chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩ luật (chiếm
10,08%), 43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223
đại học khác (chiếm 27,06%), 64 người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa
chuyên môn khác (chiếm 7,77%),… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật
sư trên 24 nghìn người dân).
Trí thức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơ
quan trung ương và địa phương cũng tăng nhanh.
Tổng nhân lực các hội, liên hiệp hội, viện, trung tâm (NGO) hiện có
52,893 người.
Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức
đã dẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực
từ trí thức, công chức, viên chức còn yếu kém và bất cập. Đa số công chức, viên
chức làm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của
một công chức, viên chức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin
học, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công việc. Có 63% tổng số sinh viên tốt
8
nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa
có những chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa
có những nhà thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi.
Báo chí nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy
trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy
đủ, đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
2. Phương hướng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt Nam:
Về những giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 đã được
thể hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông
qua tại Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011). Chiến lược phát triển nhân lực Việt
Nam thời kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số
579/QĐ-TTg, ngày 19-4-2011. Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai
đoạn 2011-2020 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký tại Quyết định
1216/QĐ-TTg, ngày 22-7-2011. Đó là những văn bản pháp lý quan trọng có tính
định hướng để phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một bước đột phá
chiến lược, yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công
nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lợi thế cạnh
10
tranh, bảo đảm đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu
quả.
Phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 nhằm đưa nhân lực đất
nước trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để tạo sự phát triển bền vững,
ổn định xã hội, hội nhập quốc tế. Xây dựng nhân lực chất lượng cao có nghĩa là
xây dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng
công trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên
môn - kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng
lực nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học,
công nghiệp; xây dựng; dịch vụ; nông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải; tài
nguyên, môi trường; du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin; năng
lượng hạt nhân; đào tạo nhân lực để đi làm việc ở nước ngoài đã được quy định
cụ thể trong Quyết định 1216.
Nhân lực chủ thể cũng đã được định hình: Cán bộ lãnh đạo là những
người đứng đầu cấp trưởng và phó của các cơ quan trung ương: Đảng, Quốc hội,
Chính phủ, các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương; cơ quan đảng, hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân, các sở, ban, ngành và tương đương; đoàn thể và các
tổ chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương.
Đến năm 2015, tổng số cán bộ lãnh đạo của cả nước có khoảng 200 nghìn
người, trong đó, số người có trình độ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là hơn 120
12
nghìn người. Đến năm 2020 có khoảng 220 nghìn người, trong đó, số người có
trình độ từ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là 147 nghìn người.
Tổng số lãnh đạo các cấp cần bồi dưỡng từ năm 2011 đến năm 2015 là
khoảng 20 nghìn người; từ năm 2016 đến năm 2020 khỏng 15 nghìn người.
Đội ngũ công chức, viên chức của cả nước đến năm 2015 có khoảng 5,3
triệu người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến
sĩ khoảng 2,8 triệu người, chiếm khoảng 52% trong tổng số đội ngũ công chức,
viên chức của cả nước. Đến năm 2020, số công chức, viên chức của cả nước có
khoảng 6 triệu người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân,
thạc sĩ, tiến sĩ có khoảng 3,8 triệu người, chiếm khoảng 63% trong tổng số đội
ngũ công chức, viên chức của cả nước.
Tỷ lệ công chức, viên chức cần bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp
vụ từ năm 2011 đến năm 2015 khoảng 20%; thời kỳ 2016-2020 khoảng 15%
tổng số công chức, viên chức.
Đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ đến năm 2015 tăng lên khoảng 103
nghìn người, trong đó, số người có trình độ trên đại học khoảng 28 nghìn người.
Đến năm 2020 có khoảng 154 nghìn cán bộ khoa học, công nghệ, trong đó, số
người có trình độ trên đại học khoảng 40 nghìn người.
thể thao năm 2015 khoảng 22 nghìn người và năm 2020 khoảng 28 nghìn người.
Về đội ngũ cán bộ tư pháp đến năm 2020 cần bổ sung thêm khoảng 700
chấp hành viên, khoảng 1.300 thẩm tra viên, thẩm tra viên chính, khoảng 4.300
đến 4.500 thư ký thi hành án, 1.600 kế toán. Đến năm 2020, ngành tư pháp cần
14
bổ sung thêm khoảng 18 nghìn luật sư và khoảng 2 nghìn công chứng viên, đào
tạo cán bộ pháp luật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (mỗi doanh nghiệp cần từ
1 đến 2 cán bộ pháp luật). Các cơ quan tư pháp địa phương đến năm 2020 cần
khoảng 17 nghìn người.
Về đội ngũ cán bộ tòa án đến năm 2020 cần bổ sung khoảng 1 nghìn
người mỗi năm, trong đó có khoảng 500 thẩm phán. Như vậy, nhu cầu nhân lực
của ngành tòa án đến năm 2020 là khoảng 22 nghìn cán bộ, công chức.
Về đội ngũ doanh nhân đến năm 2015, cả nước có khoảng từ 1,5 đến 2
triệu người. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chiếm
khoảng 78% tổng số đội ngũ doanh nhân. Đến năm 2020, cả nước có khoảng từ
2,5 đến 3 triệu doanh nhân. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ,
tiến sĩ chiếm khoảng 80% trong tổng số đội ngũ doanh nhân.
Nhân lực để phát triển của các ngành kinh tế biển; nhân lực của các lực
lượng vũ trang; nhân lực các vùng kinh tế - xã hội (vùng trung du và miền núi
phía bắc, vùng đồng bằng sông Hồng, vùng bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung, vùng Tây Nguyên, vùng đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long)
đều đã được quy hoạch tổng thể.
Quy mô đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng năm 2020 có khoảng
3,4 - 3,9 triệu sinh viên. Tỷ lệ sinh viên vào năm 2020 là từ 350 - 400 người/trên
1 vạn dân.
Mạng lưới trường đại học và cao đẳng vào năm 2020 sẽ có tổng cộng 573
trường, trong đó, 259 trường đại học và 314 trường cao đẳng. Trong giai đoạn
2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70 trường đại học và 88 trường cao
đẳng).
15
triển nhân lực. Vận động các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực để sử
dụng với chất lượng ngày càng cao.
Ba là: Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc
làm, giáo dục, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ; chính sách
trọng dụng chuyên gia, tham mưu, kỹ sư, tổng công trình sư, nhà thiết kế, phát
minh, gọi chung là nhân tài, chính sách về môi trường, điều kiện, phương tiện
làm việc; chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội; chính sách
cho các cơ quan khoa học NGO. Tổ chức tốt việc việc thực hiện các chính sách
đó. Cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, có chế độ ưu
đãi cho người học.
Bốn là: Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; hoàn thiện bộ
máy quản lý phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhân lực; đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt
lý, nhìn rõ đúng sai, kịp thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực. Tổ chức bộ
máy quản lý nhân lực từ trung ương đến địa phương. Nhân sự cho bộ máy này
phải là những chuyên gia giỏi về nghiên cứu nhân tài, nhân lực trong và ngoài
biên chế nhà nước. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của bộ máy này là tư vấn, tham
mưu, đề xuất; thu thập, phân tích các số liệu về nguồn nhân lực ở tất cả các
ngành, các cấp.
Năm là: Tiến hành điều tra, khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất
lượng nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp, địa phương và cả nước;bảo đảm cân
đối cung - cầu nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và
trong từng ngành, từng cấp.
17
Sáu là: Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với
hoàn cảnh Việt Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc
tế, chủ yếu là hội nhập kinh tế quốc tế.
Bảy là: Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ trung ương
đến địa phương; tổ chức hợp lý hệ thống cấp bậc đào tạo; thực hiện phân cấp
quản lý đào tạo giữa bộ, ngành, địa phương; quy hoạch lại mạng lưới các trường
thật rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính
sách và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
Mười bốn là: Để xây dựng chất lượng con người phải có sự gắn kết với
chất lượng cuộc sống xã hội; có sự gắn kết chặt chẽ giữa xã hội - nhà trường -
gia đình để tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai.
Mười lăm là: Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về
nguồn nhân lực ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời
rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở đó mà phát huy mặt tốt, khắc phục mặt
chưa tốt.
Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết
hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất
nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát
triển của nền kinh tế.
Nói tóm lại, nếu không làm tốt vấn đề tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
cho đất nước, thì khó lòng đạt được mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở
19
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trên thực tế, có nhiều quốc
gia đang phát triển, trở thành nước có thu nhập trung bình, nhưng rất ít nước tiếp
tục đi lên được để trở thành một nước công nghiệp, vì những nước này, không
có chính sách hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực.
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 45.
2. Theo Phụ lục dự thảo "Chiến lược Phát triển giáo dục Việt Nam 2009-
2020", công bố trên internet, đến 30-12-2008, năm học 2007-2008, Việt Nam có
160 trường đại học, đại học, học viện. Theo Báo cáo số 760/BC-BGD ĐT, ngày
29-10-2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến tháng 9-2009, cả nước có 376
trường đại học và cao đẳng, tăng gấp 3,7 lần so với năm 1987.
3. Quyết định số 1216-QĐ/TTg, ngày 22-7-2011 của Thủ tướng Chính phủ:
"Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020",
www.chinhphu.vn.