Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Trên trờng quốc tế, Việt Nam là một nớc đang phát triển với nền kinh tế
lúa nớc truyền thống lâu đời. Hiện nay nớc ta có trên 80% dân số sống ở
nông thôn và trên 70% lao động làm nghề nông. Để thực hiện mục tiêu đến
năm 2010 Việt Nam trở thành một nớc công nghiệp thì vấn đề công nghiệp
hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH ) nông nghiệp, nông thôn cần phải đặc biệt coi
trọng.
Theo nhà kinh tế Nhật Bản Harry Toshima, ở các nớc châu á đang phát
triển có nền nông nghiệp lúa nớc cần xây dựng một mô hình tăng trởng và
phát triển kinh tế bằng cách giữ lại lao động trong nông nghiệp để phát triển
chứ không chờ sự thúc đẩy của công nghiệp. Kinh nghiệm của những nền
kinh tế mới CNH thành công cho thấy coi trọng phát triển nông nghiệp là
một trong những điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo phát triển kinh tế
xã hội nhanh và bền vững, giảm bất bình đẳng về thu nhập dân c.
Xét theo tình hình thực tế của Việt Nam, từ nhiều năm nay Đảng và Nhà
nớc ta đã nêu ra vấn đề CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và coi đây là
một nội dung quan trọng có tiính quyết định đến thành công của sự nghiệp
CNH, HĐH đất nớc.
Nghiên cứu về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là một đề tài rộng,
có thể nghiên cứu dới nhiều giác độ nh kinh tế chính trị học, triết học, Xã hội
học... Tron khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, em xin phép chỉ đề cập tới
thực trạng và giải pháp của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn dới giác độ
Kinh tế chính trị học.
Đề án gồm hai chơng:
Ch ơng I : Cơ sở lý luận của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
Ch ơng II : Thực trạng và giải pháp để tiến hanàh CNH, HĐH nông
nghiệp, nông thôn ở Việt Nam.
Đề án không tránh khỏi còn có những thiếu sót và quan niệm mang tính
chủ quan, em mong đợc sự góp ý, hớng dẫn của thầy và các bạn để em có thể
hoàn thành tốt bài viết này.
nớc ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội không qua chế độ t bản chủ
nghĩa, là phải xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã họi, trong
đó có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá và khoa học tiên tiến.
Muốn thực hiện thành công nhiệm vụ quan trọng nói trên, nhất thiết phải tiến
hành công nghiệp hoá, tức là chuyển nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành
nền kinh tế công nghiệp .
Chủ nghĩa xã hội muốn tồn tại và phát triển, cũng cần phải có một nền
kinh tế tăng trởng và phát triên cao dựa trên lực lợng sản xuấ hiện đại và chế
độ công hĩu xã hôị chủ nghĩa về t liệu sản xuất. Cơ sở vật chất kỹ thuật của
chu nghĩa xã hội cần phả xây dựng trên cơ sở những thành tựu mới nhất, tiên
tiến nhất của khoa học và công nghệ. Cơ sở vật chất kỹ thuật đó phải tạo ra đ-
đề án kinh tế chính trị 2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ợc một năng suất lao động xã hội cao. Công nghiệp hoá chính là quá triènh
tạo ra nền tảng cơ sở vật chất đó cho nền kinh tế quốc dân xã hội chủ nghĩa.
Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, cơ sở
vật chất kỹ thuật thấp kém, trình độ của lực lợng sản xuất cha phát triển,
quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa mới đợc thiết lập, cha đợc hoàn thiện. Vì
vậy, quá trình CNH, HĐH chính là quá trình xây dựng cơ sở vật chất- kỹ
thuật cho nền kinh tế quốc dân. mỗi bớc tiến của quá trình CNH, HĐH là
một bứơctăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, phát triển
mạnh mẽ lực lợng sản xuất và góp phần hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa.
Trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá về kinh tế đang phát triển
mạnh mẽ, trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện
đại phát triển rất nhanh chóng, những thuận lợi và khó khăn về khách quan
và chủ quan, có nhiểu thời cơ và cũng có nhiều nguy cơ, vừa tạo ra vận hội
mới, vừa cản trở, thách thức nền kinh tế của chúng ta, đan xen với nhau, tác
động lẫn nhau. Vì vậy, đất nớc chúng ta phải chủ động sáng tạo nắm lấy thời
cơ, phát huy những thuận lợi để đẩy nhanh quá trình CNH tạo ra thế lực mới
phải thể hiện đợc mục tiêu, biện pháp, phơng tiện thực hiện quá trình đó.
Dựa vào khái niêm CNH, HĐH nói chung, ta có thể hiểu CNH, HĐH
nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện quá
trình sản xuất trong nông nghiệp và bộ mặt kinh tế nông thôn, biến lao
động thủ công thành lao động cơ khí với công nghệ, phơng tiện và phơng
pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ
khoa học công nghệ, đa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn hàng hoá; là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hớng tăng tỷ
trọng các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp , từ đó biến đổi bộ mặt kinh
tế xã hội nông thôn gần với thành thị.
CNH, HĐH nông nghiệp chỉ có tính chất ngành và liên ngành hẹp, đa
nông nghiệp lên trình độ mới cao hơn rõ rệt nhăm đạt năng suất chất lợng
hiệu quả vợt trội. Còn phạm vi và tính chất của CNH, HĐH nông thôn rộng
sâu hơn nhiều. Thứ nhất, nó là quá trình biến đổi không phải trong từng
ngành sản xuất hay lĩnh vực xã hội ssơn lẻ, mà là một quá trình biến đổi toàn
diện trong một khu vực xã hội rộng lớn là nông thôn , bao quát mọi hoạt
động kinh tế , xã hội, văn hoá, chính trị tại đó. Thứ hai, đó là quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng tiến bộ, trong đó phát triển
một nền nông nghiệp dồi dào làm nền tảng, một nền sản xuất nông nghiệp
ngày càng tiên tiến, một hệ thống dịch vụ đầy đủ và hữu hiệu. Chính các khu
vực kinh tế nông thôn này là các lực lợng sản xuất quyết định CNH nông
thôn đựơc thực hiện nhanh hay chậm, trong đó vai trò của nông nghiệp luôn
có ý nghĩa quyết điịnh, là cơ sở của kinh tế nông thôn , đặc biệt là tron các b-
ớc đi ban đầu. CNH, HĐH nông thôn bắt đầu từ CNH, HĐH sản xuất nông
nghiệp. Thứ ba, cùng với các ngành kinh tế phát triển, một hệ thống hạ tầng
cơ sở kinh tế và xã hội gần đợc hoàn chỉnh tho hớng HĐH, các lĩnh vực hoạt
động văn hoá, giáo dục, y tế đợc nâng cấp rõ, các quan hệ xã hội đợc hoàn
thiện, tạo ra một lối sống công nghiệp năng động, cởi mở, văn minh.
GS.TS Đặng Ngọc Dinh cũng nói: CNH, HĐH nông thôn là một khái
niệm rộng hơn, mang tính chất đa ngành. Trong khi nông nghiệp, nông thôn
Thứ t, đây là thị trờng quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Nhu cầu các loại sản phẩm công nghiệp và dịch vụ của khu vực kinh tế rộng
lớn là nông nghiệp, nông thôn góp phần đáng kể mở rộng thị trờng của công
nghiệp và dịch vụ. Đây là kiều kiện thắng lợi cho sự phát triển của công
nghiệp và dịch vụ.
Thứ năm. phát triển nông nghiệp, nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế,
chính trị, xã hội. Bởi vì nông nghiệp, nông thôn là khu vực kinh tế rộng lớn,
tập trung phần lớn dân c của đất nớc, phát triển nông nghiệp, nông thôn trực
tiếp nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho c dân nông thôn.
Với vai trò to lớn đó, việc chú trọng phát triển nông nghiệp, nông thôn
là vấn đề tất yếu. Tuy nhiên, bản thân nông nghiệp có những mặt hạn chế nh
không thể tự miình tạo ra sự thay đổi mạnh mẽ cơ sở vật chất kỹ thuật, về
công nghệ và thiết bị, để hiện đại hoá sản xuất tạo ra mức tăng trởng nhanh
hơn, cũng nh không đủ khả năng tạo ra việc làm với thu nhập cao hơn cho số
lao động tăng lên ở nông thôn mà cần phải nhờ đến tác động của công
nghiệp. Nhng chính công nghiệp đô thị ở các nớc lạc hậu lại cha phát triển
đến mức có thể thu hút đợc nhiều lao động d thừa ở nông thôn và các nhu cầu
khác ở nông thôn. Do đó, cần phải CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở các
đề án kinh tế chính trị 5
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nớc đang phát triển trong quá trình CNH, HĐH đất nớc nói chung và Việt
Nam nói riêng.
Đảng ta cũng chủ trơng : trong quá trình CNH, HĐH đất nớc cần đặc
biệt coi trọng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Đòng chí Đỗ Mời cho
rằng : Chỉ khi nào nông thôn đợc CNH, HĐH, khi học vấn kiến thức và
công nghệ tiên tiến nằm trong tay nông thôn , đợc bà con sử dụng thành thạo
và vững chắc thay cho con trâu đi trớc cái cày đi sau, khi xởng máy mọc
lên khắp làng mạc, thị trấn; ngành nghề phát triển rộng khắp, một bộ phận
đán kể nông dân trở thành công nhân nông nghiệp, hình thành phát triển một
cục diện mới có thế nói sự nghiệp CNH, HĐH đợc hoàn thành cơ bản trên
đề án kinh tế chính trị 6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
2. Những nội dung cụ thể về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
trong giai đoạn hiện nay.
2.1. Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế ở nông thôn theo hớng
CNH, HĐH
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng CNH, HĐH có nghía
là cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn phải thay đổi theo hớng:
Giảm dần tỷ trọng của nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của tiểu thủ
công nghiệp, công nghiệp chế biến và dịch vụ. Sản xuất nông nghiệp phụ
thuộc rất nhiều vào tự nhiên, năng suất lao động và hiều quả rất thấp. Trong
khi đó, phát triển tiểu thủ công nghiệp , công nghiệp chế biến và dịch vụ vừa
có ý nghĩa to lớn trong việc tạo việc làm cho ngời lao động, vừa làm tăng
hiệu quả cho kinh tế nông thôn, nâng cao mức thu nhập, mức sống cho c dan
nông thôn. phát triển các làng nghề truyền thống góp phần đáng kể khai thác
các tiềm năng kinh tế của các địa phơng và phù hợp với xu hớn chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hớng CNH, HĐH. Đầu t xây dựng công nghiệp
nông thôn, phát triển các ngành nghề dịch vụ cũng xuất phát từ yêu cầu của
xu thế chuyển dịch này. Nh vậy, giảm dần tỷ trọng của sản xuất nông nghiệp,
tăng dần tỷ trọng của tiểu thủ công nghiệp , công nghiệp nông thôn, thực hiện
mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng và văn minh ở nông thôn.
Phá thế độc canh trong nông nghiệp, đa dạng hóa sản xuất nông
nghiệp, hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu
cầu nguyên liệu cho công nghiệp nhẹ và xuất khẩu. Đa dạng hoá sản xuất
nông nghiệp vừa tạo điều kiện để phát triển một nền nông nghiệp toàn diện,
đáp ứng nhu cầu về nhiều loại sản phẩm nông nghiệp của dân c, vừa đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng của công nghiệp nhẹ về nguyên liệu và nhu cầu xuất
khẩu. Sự hình thành những vùng chuyên canh quy mô lớn cho phép ứng dụng
những thành tựu khoa học công nghệ, nâng cao năng suất và chất lợng sản
phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông phẩm.
Kinh tế nhà nớc. Kinh tế nhà nớc trong nông nghiệp dới hình thức nông
trờng quốc doanh hiện nay khó chứng minh đợc u thế của mình vè hiệu quả,
việc phát triển các nông trơng quốc danh rất cần đợc cân nhắc. Nhng kinh tế
hộ cũng có những nhợc điểm cố hữu khó có thể tự khắc phục. Ko quy mô
nhỏ, kinh tế hộ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm đàu ra và
giải quyết các yếu tố đầu vào nh giống, thuỷ lợi, ứng dụng tiến bộ khoa học
công nghệ... Trong khi đó các doanh nghiệp nhà nớc lại có nhiều u thế
trong những liĩnh vực này. Do đó, kinh tế nhà nớc ở nông thôn trong lĩnh vực
dịch vụ dới các hiình thức trạm giống, công ty bảo vệ thực vật,công ty thuỷ
lợi, công ty thơng mại... là hết sức cần thiết đối với nông nghiệp, nông thôn.
Nh vậy, phát triển kinh tế nhà nớc ở nông nghiệp, nông thôn là hết sức cần
thiết nhng cũng cần cân nhắc trong từng khâu, từng lĩnh vực cụ thể.
Kinh tế tập thể với nhiều hiình thức họp tác đa dạng mà nòng cốt là họp
tác xã, dựa trên sỏ hữu cảu các thành viên và sỏ hữu tập thể, liên kết rộng rãi
những lao động, các hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ
thuộc các thành phần kinh tế. Phát triển kinh tế tập thể theo phơng châm tích
cực nhng vững chắc, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, đi từ thấp đến cao, đạt
hiệu quả thiết thực, vì sự phát triển của sản xuất.
Kinh tế t nhân là lực lợng quan trọng và năng động trong cơ chế thị tr-
ờng, có khả năng về voón liếng, về tổ chức quản lý, về kinh nghiêm sản xuất,
về khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật, kinh doanh ngành nghề đa dạng,
tăng cờng lực chế biến, tiêu thụ nông sản, làm dịch vụ phục vụ sản xuất và
đời sống ở nông thôn. Nhà nớc có chính sách hỗ trợ, hớng dẫn kinh tế t nhân
phát triển.
2.4. Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn.
đề án kinh tế chính trị 8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, nhân tố con ngời luôn giữ vai trò
quyết định. Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là triình độ học vấn rất
thấp và phần lớn ngời lao động không qua đào toạ. Trình độ dân trí thấp là trở
quốc gia đợc đảm bảo. Từ mức nhập khẩu hàng năm 600 nghìn đến 1 triệu
tấn lơng thực, đến năm 1989 Việt Nam đã xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo và liên
tục xuất khẩu cho đến nay, với mức cao nhất là 4,5 triệu tấn gạo một năm.
Về lâm nghiệp, đã bảo vệ khoanh nuôi tái siinh 2,5 triệu hecta và trồng
mới 1,5 triệu hecta rừng, đa độ che phủ của rừng năm 2000 lên 33 % diện
tích tự nhiên.
Sản xuất nông nghiệp thời kỳ đổi mới đã hớng mạnh về xuất khẩu. Tỷ lệ
nông sản hàng hoá xuất khẩu của một số nông sản chủ yếu: lúa gạo trên 20
%, cà phê là 95% , cao su là 85% chè là 60% ... Việt Nam trở thành nớc đứng
thứ hạng cao trên thế giới về xuất khẩu nông sản: đứng thứ hai thế giới về
xuất khẩu gạo ( năm cao nhất đạt 4,5 triệu tấn cho 30 nớc, kim ngạch 1 tỷ
USD ), đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu hạt điều ( 30 triệu tấn /năm, kim
ngạch xuất khẩu trên 120 triệu USD ), cao su xuất khẩu hàng năm trên 160
000 tấn mủ khô, chè xuất khẩu gần 60 000 tấn, kim ngạch xuất khẩu 60 triệu
USD.
Một biểu hiện rõ rệt thứ hai của nền sản xuất nông nghiệp hàng hoá là
hiình thành một số vùng sản xuất nông nghiệp tập trung nh các vùng lúa ở
Đồng băngf sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng, các vùng cà phê Tây
Nguyên, Đông Nam Bộ; các vùng chè ở các tỉnh miền núi và trung du phía
Băc; vùng cao su Đông Nam bộ; vùng cây ăn quả ở Đông Nam bộ, đồng
bằng sông Cửu Long, một số tỉnh miền Bắc;vùng rau Lâm Đồng, các tỉnh
đề án kinh tế chính trị 10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đồng bằng sông Hồng; các vùng mía ở Duyên hải miền Trung, Khu IV cũ,
Nam Bộ ...
Thứ ba, cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đã có những chuyển biến
mới. Trong nông nghiệp, tỷ trọng các sản phẩm cây công nghiệp và cây ăn
quả tăng từ 19,5% (1987 ) lên 21,8% (1997 ). Trong cơ cấu kinh tế nông thôn
, các ngành phi nông nghiệp ( công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ) tăng dần
từ dới 10% năm 1989 lên 30% năm 1999 trong GDP nông thôn. Sau 5 năm
bộ của khoa học kỹ thuật đã đợc ứng dụng ngày càng rộng rãi, chủ yếu ở bốn
lĩnh vực: cơ giới hóa, thủy lợi hóa, điện khí hóa và công nghệ sinh học.
Cơ giới hóa một số khâu sản xuất đợc phát triển. Khâu làm đất tăng từ
22% năm 1986 đến 33,8% năm 1994, 34,1% năm 1996 và 38% năm 1998.
đề án kinh tế chính trị 11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong đó mức độ cơ giới hóa làm đất cao nhất là đồng bằng sông Cửu Long,
60 80%, tiếp đến là Đông Nam bộ 35%, đồng bằng sông Hồng 27% và
duyên hải miền Trung 25,2%. Các loại máy múc nụng nghip c nụng
dõn mua sm nhiu. C nc cú khong 600.000 mỏy bm nc, 160
nghỡn mỏy nghin thc n gia sỳc, 108 nghỡn mỏy xay xỏt, 100 nghỡn
mỏy tut lỳa cú ng c; tu thuyn ỏnh cỏ gn ng c cú khong
trờn 70.000 chic vi tng cụng sut trờn 1.2 triu cv, tu thuyn vn
ti c gii cú 98.330 chic. Trong 3 nm 199-1998, c nc ó tng
thờm 1000 tu ỏnh cỏ cú cụng sut trờn 90 cv, a tng s tu ỏnh
bt cỏ xa b lờn 5.000 chic.
Đến nay có khoảng hơn 800 000 hộ gia đình ở nông thôn laf chủ sở hữu
và quan lý sử dụng từ một đến nhiều máy động lực (động cơ, máy kéo, ô tô,
thuyền máy) và máy công tác (máy bơm nớc, đập lúa, xay xát, ca xẻ gỗ,
v.v...) chiếm khoảng hơn 8% số hộ nông thôn. Còn số hộ nông dân có sử
dụng dịch vụ cơ giới hóa nông nghiệp một hoặc nhiều khâu canh tác chiếm
khoảng trên dới 20% tổng số hộ nông dân.
Thủy lợi hóa là lĩnh vực quan trọng đối với nông nghiệp, đặc biệt là
nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Cho đến nay ta đã xây dựng đợc nhiều
công trình thủy lợi, đảm bảo tới nớc tự chảy và các trạm bơm cố định, các
máy bơm di động... cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt. Đầu t thuỷ lợi đã
bảo đảm tới cho 7,5 triệu ha gieo trồng nông nghiệp , bao gồm 84% diện tích
trồng lúa (5,9 triệu hec ta), năng lực tiêu đạt 1,4 triệu hec ta. Năm 2000 so
với 1995 năng lực tới tăng 1,24 triệu hec ta.
Đến nay, gần nh toàn bộ nông thôn đã đợc điện khí hóa, tổng công suất
Chính phủ phê duyệt chơng trình quốc gia sản xuất nấm ăn trên phạm vi cả n-
ớc. Phấn đấu đến năm 2010 Việt Nam sẽ sản xuất khoangr một triệu tấn nấm
các loại, giải quyết công ăn việc làm cho khoảng một triệu lao động. Công
nghệ sinh học còn đợc ứng dụng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản.
Ngoài ra còn có các chế phẩm công nghệ sinh học trong phân bón vi lợng và
bảo vệ thực vật.
1.3. Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lợng sản xuất.
Quan hệ sản xuất từng bớc đợc đổi mới phù hợp theo hớng xây dựng
nền nông nghiệp hang hóa với nhiều thành phần kinh tế tham gia; phát huy
mạnh mẽ vai trò kinh tế hộ, với 11,3 triệu hộ nông nghiệp, trong đó có 130
nghìn hộ phát triển theo hình thức kinh tế trang trại; đổi mới kinh tế hợp tác
và hợp tác xã, với 5 959 hợp tác xã đã hoàn thành thủ tục chuyển đổi và 1
756 hợp tác xã thành lập mới theo Luật Hợp tác xã; đã hình thành 18 Tổng
công ty Nhà nớc để chi phối những khâu then chốt trong nông nghiệp; doanh
nghiệp dân doanh phát triển mạnh trong tất cả các lĩnh vực góp phần tích cực
phát triển kinh tế xã hội nông thôn.
Rõ ràng CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn đã làm cho lực lợng sản
xuất phát triển, và dĩ nhiên, quan hệ sản xuất cũng đợc xây dựng và hoàn
thiện để phù hợp với lực lợng sản xuất đó.
1.4. Công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn bớc đầu phục
hồi và phát triển.
Hiện nay cả nớc có: 27% số hộ nông dân vừa sản xuất nông nghiệp vừa
làm ngành nghề phi nông nghiệp; 13% số hộ chuyên kinh doanh ngành nghề;
có 40.500 cơ sở sản xuất, kinh doanh ngành nghề ở nông thôn, trong đó
doanh nghiệp nhà nớc chiếm 14,1%, hợp tác xã 5,8%, t nhân 80,1%; hơn
1.000 làng nghề, trong đó 2/3 là làng nghề truyền thống. Năm 2000, tổng giá
trị của các ngành nghề nông thôn đạt 40.000 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu
gần 300 triệu USD và giải quyết việc làm cho hơn 10 triệu lao động.
đề án kinh tế chính trị 13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.6. Mức sống của nhân dân nông thôn từng bớc đợc cải thiện
Các hoạt động kinh tế nông thôn, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp tạo ra
hầu hết công ăn việc làm và tăng thu nhập cho phần lớn nhân dân. Theo Tổng
cục thống kê, từ năm 1990 đến năm 1997, mặc dù trong lĩnh vực công nghiệp
GDP tăng 12-14%/năm, nhng chỉ tăng đợc 200 nghìn chỗ làm. Trong khi đó
với mức tăng trởng bình quân 4 5%/năm, lĩnh vực nông nghiệp tăng thêm
tới 2,9 triệu chỗ làm cho nhân dân. Giai đoạn 1997 1998, lĩnh vực nông
lâm ng nghệp tạo ra công ăn việc làm cho hơn 66% lao động cả nớc. Thu
nhập danh nghĩa của ngời dân nông thôn tăng 12% một năm trong thời kì
1992 1993 đến 1997 1998, trong đó nông nghiệp đóng góp 81%.
đề án kinh tế chính trị 14