Thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO - Pdf 23

LỜI MỞ ĐẦU
Thế kỷ XX qua đi, thế kỷ XXI đã tới, thế giới đã đi qua những chặng đường
dài đầy thử thách song cũng đầy vinh quang. Xu hướng hiện tại và tương lai của
thế giới là hoà bình, hợp tác và cùng phát triển.
Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên, đều cố gắng hoà nhịp với dòng
chảy chung của thế giới. Nhu cầu phát triển kinh tế, xây dựng đất nước không
cho phép chúng ta đứng ngoài xu thế, cuộc chơi chung của nhân loại. Biểu hiện
tích cực mới đây nhất thể hiện sự chủ động hội nhập của Việt Nam vào nền kinh
tế thế giới là việc chúng ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO). Việc gia nhập WTO chắc chắn sẽ đem lại cho Việt Nam
nhiều cơ hội để phát triển kinh tế, nhưng đồng thời cũng đưa đến nhiều khó khăn
trở ngại. Nền kinh tế Việt Nam có duy trì được tốc độ cao, ổn định hay không
hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng cạnh tranh cũng như khả năng ứng phó với
những thách thức của nền kinh tế nói chung và của từng ngành nói riêng.
Trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã có một chiến lược dài hạn nhằm mục
tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó tập trung vào phát triển
một số ngành công nghiệp chủ lực. Chiến lược này không nằm ngoài mục tiêu
chuẩn bị cả về lượng và chất để phát triển nền kinh tế, tạo chỗ dựa vững chắc
khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, cũng như nhiều nước
khác trên thế giới, ngành dệt may đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam. Với lợi thế là ngành vừa cung cấp hàng hoá trong nước, thu hút nhiều lao
động, đồng thời là ngành có lợi tức cao, đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất
nước, công nghiệp dệt may luôn được chú trọng đầu tư, phát triển. Chiến lược
phát triển kinh tế, với việc nhấn mạnh tầm quan trọng của chuyển đổi cơ cấu
kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước bắt đầu từ Đại hội
VI (1986) Đảng Cộng Sản Việt Nam, và được cụ thể hoá và phát triển ở các đại
hội sau, đã đem lại cho ngành dệt may những động lực và định hướng phát triển
mới: “ Phát triển mạnh công nghiệp nhẹ, nhất là dệt, may, da giầy, giấy, các mặt
hàng thủ công mỹ nghệ; đầu tư hiện đại hoá dây chuyền công nghệ, nâng chất
lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm; chuyển dần việc gia công dệt may, đồ da

Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia năm 1996,
trg. 181
sót. Vì vậy, người viết rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của thầy cô và bạn
đọc.
CHƯƠNG I
VẤN ĐỀ DỆT MAY TRONG WTO
1. Vấn đề dệt may trong Vòng đàm phán Urugoay
Dệt may với đặc điểm là một ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động,
luôn là một ngành nhạy cảm, không chỉ về khía cạnh kinh tế, mà cả khía cạnh
chính trị đối với nhiều nước. Vấn đề dệt may, vì thế, luôn là đề tài được nhiều
nước thành viên WTO, đặc biệt là những nước nhập khẩu và xuất khấu hàng dệt
may đặc biệt quan tâm.
Tuy nhiên, do tính chất nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm của
nhiều lao động nên ngành công nghiệp dệt may thường được chính phủ các nước
bảo hộ, nằm ngoài các nguyên tắc chung về thương mại tự do của GATT/WTO.
Vì thế, trong suốt 30 trước khi diễn ra vòng đàm phán Urugoay (1986- 1994),
thương mại quốc tế về dệt may chỉ được thực hiện dựa trên các thoả thuận về
hạn ngạch song phương như: Hiệp định ngắn hạn về thương mại hàng dệt và
bông (STA) năm 1961, Hiệp định dài hạn về hàng dệt và bông (LTA) năm 1963-
1973, Hiệp định hàng đa sợi (MFA) năm 1974- 1994.
Các hiệp định dệt may này đều duy trì việc thực hiện thương mại dệt may
dựa trên các thoả thuận hạn ngạch song phương có tính chất phân biệt đối xử
giữa những nước xuất khẩu và cho phép các nước nhập khẩu hàng dệt may được
áp dụng các biện pháp hạn chế khi có sự gia tăng đột ngột về khối lượng hoặc
giá trị nhập khẩu dẫn đến nguy cơ gây rối loạn thị trường nước nhập khẩu. Phạm
vi các mặt hàng bị áp hạn ngạch cũng ngày càng gia tăng: nếu như hai thoả
thuận đầu (STA và LTA) chỉ hạn chế xuất khẩu đối với hàng dệt may bông sợi
tự nhiên thì Hiệp định đa sợi MFA mở rộng phạm vi hạn chế sang cả mặt hàng
bông sợi nhân tạo. Các biện pháp hạn chế này nhìn chung mang tính phân biệt
đối xử giữa hàng hoá các nước, và “hầu như hoàn toàn để hạn chế số lượng nhập

TS. Nguyễn Hữu Khải. “Hiệp định hàng dệt may và đôi điều suy nghĩ về xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam”.
Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới số 10 (90), 2003.
3
Bộ Ngoại giao. Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr. 252.
4
Bộ Ngoại giao. Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr. 415.
của Hiệp định hàng dệt may (ATC) năm 1994 thay thế cho Hiệp định MFA
được coi là bước ngoặt lớn trong lịch sử thương mại dệt may thế giới. Bắt đầu từ
đây, vấn đề dệt may không còn nằm ngoài quĩ đạo chung của GATT- WTO mà
cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc, qui định của tổ chức này như bất kỳ
vấn đề thương mại quốc tế nào khác.
2. Hiệp định hàng dệt may ATC
Hiệp định hàng dệt may ATC ra đời thay thế cho Hiệp định hàng đa sợi MFA
chính là nỗ lực nhằm đưa thương mại quốc tế trong lĩnh vực dệt may trở lại
khuôn khổ các nguyên tắc tự do hoá và không phân biệt đối xử của WTO. Đây
được coi là hiệp định quốc tế chính thức điều tiết thương mại hàng dệt may, theo
đó các nước nhập khẩu phải xoá bỏ hạn ngạch và các nước nhập khẩu không
được phân biệt đối xử giữa các nước xuất khẩu.
Về cơ bản, ATC gồm những nội dung chính: đưa ra chương trình hội nhập
bằng việc yêu cầu những nước nhập khẩu hàng dệt may hiện đang duy trì hạn
ngạch phải xoá bỏ từng phần trong vòng 10 năm (phụ lục 1); đưa ra chương
trình tự do hoá những biện pháp hạn chế số lượng, theo đó hạn ngạch liên tục
giảm (cho đến khi bỏ hẳn hạn ngạch) bằng cách tăng tỉ lệ hạn ngạch gia tăng hạn
ngạch hàng năm. Ngoài ra, ATC cũng đưa ra một cơ chế bảo vệ đặc biệt để giải
quyết các trường hợp phát sinh gây thiệt hại nghiêm trọng đối với các nhà sản
xuất trong nước, đồng thời đề cập đến việc thành lập Cơ quan theo dõi giám sát
hàng dệt may (TMB) để giám sát việc thực hiện Hiệp định).
- Những điểm tiến bộ của ATC so với MFA
Mặc dù cả ATC và MFA đều nhằm điều chỉnh thống nhất mặt hàng dệt may
nhưng nhìn chung, ATC có nhiều điểm tiến bộ và gần với các nguyên tắc của

chế số lượng và giảm thuế. ATC chỉ cho phép các nước áp đặt những hạn chế
khi họ chứng minh được qua quá trình điều tra rằng sự gia tăng hàng nhập khẩu
này chính là nguyên nhân gây ra những tổn hại nghiêm trọng đến hàng dệt may
trong nước. Hơn nữa, những hạn chế này nếu được sử dụng, sẽ phải áp dụng bắt
buộc cho hàng nhập khẩu từ tất cả các nguồn, không có sự phân biệt đối xử với
5
Bộ Ngoại giao. Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, tr. 252.
hàng nhập khẩu từ bất kỳ nước nào ( trong khi MFA cho phép áp dụng hạn chế
số lượng với hàng xuất khẩu từ một hoặc nhiều nước, tùy từng trường hợp).
3. Tác động của ATC đối với nhóm nước đang phát triển
Nhóm các nước đang phát triển được coi là một trong những nhóm nước chịu
tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất từ hiệp định hàng dệt may ATC do các nước
này vốn có tiềm năng, lợi thế trong lĩnh vực này và chiếm số lượng lớn trong số
các nước xuất khẩu hàng dệt may.
Sự ra đời của hiệp định ATC, với mục đích xoá bỏ sự phân biệt đối xử qua
chế độ hạn ngạch xuất khẩu, xoá bỏ quyền áp đặt hạn ngạch của các nước phát
triển nhằm tự do hoá lĩnh vực dệt may được xem là một thuận lợi rất lớn cho các
nước đang phát triển có lợi thế trong lĩnh vực này. Nhờ tự do hoá thương mại,
thị trường xuất khẩu của các nước đang phát triển được mở rộng. Không chỉ mở
rộng được thị trường, việc xoá bỏ hạn ngạch còn là cơ hội thuận lợi để các nước
xuất khẩu gia tăng kim ngạch, khối lượng xuất khẩu tùy theo năng lực của mình.
Bên cạnh đó, do sản phẩm dệt may từ các nước đang phát triển được tạo điều
kiện thâm nhập vào thị trường các nước phát triển trên cơ sở cạnh tranh bình
đẳng sẽ làm gia tăng sức cạnh tranh của hàng hoá từ các nước này do tận dụng
được lợi thế vốn có về nguồn lao động dồi dào, giá cả rẻ hơn, cộng với việc chất
lượng sản phẩm ngày càng nâng cao do tiếp thu được thêm công nghệ mới, trình
độ quản lý do quá trình hội nhập mang lại. Một yếu tố tích cực nữa là do có sự
cạnh tranh gia tăng sẽ dẫn tới giảm giá hàng may mặc tại thị trường các nước
phát triển. Điều này cũng là một yếu tố tích cực, kích thích nhu cầu tiêu dung
mặt hàng này, dẫn đến gia tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Một

hơn do các nước thành viên khác đã được gia tăng và dỡ bò dần hạn ngạch.
Thứ hai, bên cạnh việc phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu, giờ
đây, các nước đang phát triển còn phải đối mặt với nguy cơ bị cạnh tranh và mất
thị phần ngay trên thị trường nội địa do tự do hoá thương mại. Điều này tạo nên
sức ép buộc các nước đang phát triển phải điều chỉnh, đưa ra những chính sách
thương mại phù hợp với hoàn cảnh mới và những biện pháp cần thiết để bảo vệ
6
Bộ Thương mại. Các văn kiện cơ bản của WTO. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005, trg.23
nền sản xuất nội địa nhằm nâng cao sức cạnh tranh, chuẩn bị cho thời kỳ thương
mại tự do.
Thứ ba, mặc dù Hiệp định ATC đã đưa ra một lộ trình rõ ràng cho việc dỡ bỏ
các hạn ngạch dệt may, nhưng trong giai đoạn đầu, các nước phát triển chỉ thực
hiện qui định này đối với các sản phẩm không phải là bảo hộ hàng đầu, còn các
mặt hàng quan trọng hiện đang được hạn ngạch bảo hộ sẽ bị dồn xuống cuối tiến
trình do mục đích duy trì bảo hộ nền công nghiệp trong nước, và nỗi lo sợ vấp
phải sự phản đối của làn sóng lao động thất nghiệp từ những nước này. Như vậy,
hiệu quả do Hiệp định ATC mang lại trong thời gian đầu thường thấp, các nước
đang phát triển sẽ chậm được hưởng những lợi ích do ATC đem lại trong khi
vẫn phải cạnh tranh gay gắt với nhau để giành thị phần. Thực tế cho thấy, trong
giai đoạn đầu thực hiện Hiệp định ATC từ 1995- 2000, hàng dệt may của các
nước đang phát triển chỉ tăng 4,5% trong khi các nước phát triển đã tăng 9%
trong cùng khoảng thời gian đó.
7

Tóm lại, Hiệp định ATC không chỉ đem lại những lợi ích cho các nước đang
phát triển như nhiều ngừơi vẫn nghĩ, trái lại, nó cũng đồng thời đưa đến nhiều
thách thức, bất lợi cho các nước này. Việc tận dụng được lợi ích của ATC đến
đâu hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng, độ nhạy bén của từng quốc gia.
4. Thị trường dệt may thế giới sau khi ATC hết hiệu lực
Đến thời điểm 1/1/2005, hiệp định hàng dệt may ATC chính thức hết hiệu

ngạch, lên 50% sau khi hạn ngạch được xoá bỏ
8
. Tuy nhiên, sự tăng nhanh về thị
phần của Trung Quốc và Ấn Độ cũng đồng nghĩa với việc sự thu hẹp thị trường
của các nước xuất khẩu nhỏ hơn do thị phần bị rơi vào tay các nước trên.
Đối lập với tương lai sáng sủa của một số nước được coi là cường quốc về
xuất khẩu hàng dệt may nói trên là một thực trạng khác, ít tươi tắn hơn, thuộc về
các nước đang và chậm phát triển, nơi mà sự chuẩn bị cho thời kỳ hậu ATC còn
nhiều bất cập, lúng túng. Đối với các nước này hạn ngạch không phải là vấn đề
cản trở khả năng xuất khẩu của họ. Trái lại, trong nhiều năm qua, hạn ngạch
chính là điểm tựa, giúp các nước này kiềm chế được các đối thủ cạnh tranh, bảo
vệ được hoạt động xuất khẩu, giúp họ giữ được thị phần vốn khiêm tốn của
8
Việt Nga. “Ai được lợi khi xóa bỏ chế độ hạn ngạch dệt may?” T/chí Ngoại thương, số 18 (6/2005).
mình tại các thị trường nhập khẩu lớn. Thế nhưng, trong lúc hệ thống hạn ngạch
còn hiệu lực, các nước này đã không chú trọng phát triển ngành này, mà quá phụ
thuộc vào cái ô hạn ngạch, vì thế, giờ đây, nguy cơ bị thua thiệt do không có khả
năng cạnh tranh là rất lớn, đặc biệt đối với các nước nghèo. Bangladesh và
Campuchia chính là hai trường hợp điển hình. Tại Bangladesh, ngành dệt may
chiếm tới 75% thu nhập về xuất khẩu của cả nước. Thế nhưng, thực tế cho thấy
Bangladesh trở thành nước xuất khẩu hàng dệt may lớn không phải do nước này
tận dụng được những lợi thế so sánh của mình mà chủ yếu là nhận được sự đối
xử ưu ái của Liên minh châu Âu (EU) khi Liên minh này giành cho Bangladesh
những ưu đãi về thuế quan song song với việc không quy định hạn ngạch đối với
hàng xuất khẩu của nước này. Theo đánh giá của Chủ tịch Hiệp hội các công ty
sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Bangladesh thì 1/3 doanh nghiệp dệt may,
phần lớn là vừa và nhỏ, có thể sẽ bị phá sản và khoảng 200 đến 300 ngàn người
sẽ mất việc làm sau thời điểm Hiệp định ATC hết hiệu lực do không thể cạnh
tranh nổi với các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ. Campuchia cũng rơi vào
tình trạng tương tự, khi mà khu vực dệt may mấy năm qua đã giúp cho sự hồi

hưởng lợi và một nhóm bị thua thiệt. Ngoài ra, còn một nhóm nhỏ các nước
khác, mà tác động của việc dỡ bỏ chế độ hạn ngạch và lợi ích thực tế còn chưa
rõ ràng và phụ thuộc nhiều vào quan hệ đối ngoại của mình, đó chính là các
nước chưa phải là thành viên WTO vào thời điểm Hiệp định này hết hiệu lực,
mà Việt Nam là một ví dụ điển hình. Đối với Việt Nam, việc chưa trở thành
thành viên của WTO vào năm 2005 đã đặt ngành dệt may Việt Nam đứng trước
sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thế giới.
Sau khi Hiệp định ATC hết hiệu lực, ngành dệt may Việt Nam phải đương
đầu với hai khó khăn lớn: thứ nhất là việc không được hưởng những lợi ích do
việc kết thúc Hiệp định ATC mang lại do chưa là thành viên WTO- tất nhiên bất
lợi này không phải do bản thân ATC gây nên mà do nước ta không là thành
viên của WTO nên không được hưởng lợi từ các nguyên tắc cơ bản của WTO để
bảo vệ các thành viên của mình; thứ hai, chúng ta phải cạnh tranh trên một thị
trường khốc liệt hơn nhiều, khi mà các đối thủ của ta trong lĩnh vực dệt may vốn
đã có nhiều thế mạnh như Trung Quốc, Ấn Độ… nay lại được tiếp thêm sức
mạnh từ việc dỡ bỏ chế độ hạn ngạch. Như vậy, trong khi các nước như Trung
Quốc, Ấn Độ sẽ tự do xuất khẩu vào các thị trường thì Việt Nam sẽ vẫn bị
khống chế về hạn ngạch theo các Hiệp định thương mại song phương ở nhiều
mặt hàng Việt Nam có khả năng cạnh tranh. Hơn thế nữa, phần hạn ngạch vốn
đã bị khống chế của Việt Nam lại rất dễ có nguy cơ bị các đối thủ khác chiếm
nốt do họ có nhiều lợi thế, khả năng cạnh tranh lại cao hơn. Ngoài ra, bên cạnh
việc không được hưởng thêm gì từ hạn ngạch, Việt Nam còn gặp phải những bất
lợi do các nước nhập khẩu có thể áp đặt các biện pháp tự vệ tạm thời trong vòng
3 năm kể từ năm 2005 để bảo vệ nền sản xuất trong nước trước những tác động
của việc dỡ bỏ hạn ngạch.
Nhìn chung, việc Hiệp định ATC hết hiệu lực vào ngày đầu tiên của năm
2005 đã khiến ngành dệt may Việt Nam đứng trước những khó khăn, bất lợi lớn.
Tuy nhiên, qua thực tế hơn hai năm kể từ khi ATC hết hiệu lực cho thấy Việt
Nam đã nỗ lực rất nhiều để tháo gỡ dần những khó khăn này. Đầu tiên, phải kể
đến thành công của Việt Nam trong việc đàm phán gia nhập tổ chức thương mại

nhập WTO cũng đem lại thách thức cho dệt may Việt Nam khi phải cạnh tranh
ngay tại thị trường nội địa. Qua những đánh giá mới đây của WTO về trường
hợp của Bangladesh và Campuchia có thể thấy lao động rẻ không còn là lợi thế
mang tính chất quyết định đến khả năng cạnh tranh mà yếu tố then chốt vẫn là
năng suất và chất lượng- hai yếu tố mà Việt Nam chưa thực sự mạnh. Vì vậy,
gia nhập WTO sẽ không phải là con đường rộng mở cho dệt may Việt Nam khi
mà năng lực cạnh tranh của ngành chưa được củng cố thêm. Để có thể đứng vào
hàng ngũ các nước được hưởng lợi thời kỳ phi hạn ngạch, nhiệm vụ tối quan
trọng đối với ngành dệt may Việt Nam lúc này là phải có chiến lược dài hạn
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam, sau khi đã gia
nhập WTO.
10
Mạnh Cường. “Bức tranh công nghiệp dệt may thế giới sau 1 năm WTO bãi bỏ hạn ngạch”. T/chí Lao động và
Xã hội, số 277 (12/2005).
CHƯƠNG II
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT
MAY VIỆT NAM
1. Tổng quan tình hình sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam
Ở Việt Nam, các ngành thủ công truyền thống như đan, thêu, dệt lụa đã có từ
rất lâu đời. Tuy nhiên, ngành công nghiệp dệt may ở Việt Nam chỉ chính thức
hình thành với sự ra đời của khu công nghiệp dệt Nam Định năm 1889
11
. Từ sau
khi Việt Nam hoàn toàn thống nhất (1976), ngành dệt may Việt Nam đã phát
triển nhanh chóng về năng lực, qui mô sản xuất do việc chính phủ tiếp quản toàn
bộ các nhà máy, xí nghiệp Dệt- May ở phía Nam như công ty dệt Thắng Lợi,
Việt Thắng, công ty may Nhà Bè, Việt Tiến,… và tiếp tục xây dựng nhiều nhà
máy lớn trên cả nước như nhà máy sợi ở Hà Nội, Vinh, Huế, Dệt Kim Hoàng
Thị Loan… Từ đây, ngành Việt Nam ngày càng phát triển, đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế quốc dân, cung cấp nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu

Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam được đánh giá là một trong những ngành
công nghiệp trọng điểm, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.
Ngành dệt may không chỉ cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, tạo việc
làm cho một lực lượng lớn lao động mà còn mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn từ
xuất khẩu đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
1.1 Qui mô, tốc độ tăng trưởng
Về qui mô, nếu như năm 1990, ngành dệt có 129 DNNN, 1.979 HTX và hộ
cá thể, về may có 166 DNNN, 620 HTX và hộ cá thể, thu hút hàng trăm ngàn
lao động
13
. Đến năm 1999, số lượng lao động toàn ngành đã đạt khoảng 1 triệu
người. Hiện nay, theo báo cáo của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), toàn
ngành có khoảng 2.000 DN dệt may, thu hút hơn 2 triệu lao động. Trong đó,
doanh nghiệp Nhà nước chiếm 5%, doanh nghiệp có vốn FDI chiếm 25% và
phần lớn là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần. Như vậy, ngành dệt may
hiện nay không chỉ tăng về số lượng doanh nghiệp mà còn mở rộng sang nhiều
13
Bùi Xuân Khu. “Ngành dệt may Việt Nam 45 năm góp phần xây dựng đất nước”. Website Bộ Công thương:

thành phần kinh tế như tư nhân, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài chứ không chỉ gói gọn dưới hình thức doanh nghiệp quốc doanh,
hợp tác xã và các hộ cá thể như trước kia.
Chính việc mở rộng, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia vào lĩnh vực
dệt may đã tạo điều kiện cho ngành mở rộng qui mô và năng lực sản xuất. Nếu
như năm 1990, sản lượng ngành dệt là 50 ngàn tấn sợi, 450 triệu mét vải ( khổ
0,8m), ngành may sản xuất được 150 triệu sản phẩm. Đến năm 1999, sản lượng
kéo sợi đã tăng gấp đôi, đạt 100 ngàn tấn, sản xuất được 500 triệu mét vải (khổ
0,8m), ngành may sản xuất được 250 triệu sản phẩm. Hiện nay, năng lực sản
xuất toàn ngành, nếu so với năm 1990, đã tăng lên rõ rệt. Đối với ngành dệt
năng lực kéo sợi tăng gấp 5 lần, ngành may số lượng sản phẩm tăng gấp 10 lần


sự đóng góp chủ yếu là từ ngành may. Giá trị sản lượng của ngành may trong
những năm gần đây tăng rất nhanh, có thời điểm đỉnh cao như năm 2003, mức
tăng trưởng của ngành đạt tới 27,9%. Nhìn chung, tăng trưởng giá trị sản lượng
của ngành may thường cao hơn mức tăng của toàn bộ ngành dệt may cũng như
toàn bộ ngành công nghiệp. Trong khi đó, mức tăng giá trị sản lượng của ngành
dệt lại rất thấp, không bắt kịp được với tốc độ tăng trưởng của ngành may (biểu
1). Sự phát triển chậm chạp của ngành dệt không chỉ làm giảm tốc độ tăng giá trị
tổng sản lượng chung của toàn ngành dệt may mà còn thể hiện một thực tế là
ngành dệt chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu phục vụ trong nước và xuất khẩu,
cũng như nhu cầu về nguyên liệu cung ứng cho ngành may.
Về kim ngạch xuất khẩu, tốc độ tăng trưởng của ngành dệt may khá cao, là
một trong những ngành công nghiệp có tỷ lệ tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh
nhất cả nước. Mặc dù những năm 1990- 1991, do sự tác động của những thay
đổi về chính trị, xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu,
Biểu 1: Giá trị tăng trưởng sản lượng ngành dệt may
(theo giá so sánh năm 1994)
* Nguồn: Niên giám thống kê 2006,
Biểu 2: Tỉ lệ tăng KNXK của ngành dệt may
(minh họa phụ lục 2)
xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sụt giảm nghiêm trọng (mức tăng trưởng
năm 1991 là -44,5%- phụ lục 2). Tuy nhiên, ngành dệt may đã có những nỗ lực
đáng kể, vượt qua giai đoạn khó khăn này, bước vào giai đoạn phát triển mới từ
năm 1992, mở rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu sang các nước trong
khu vực và trên thế giới. Nếu như năm 1991- 1999 tốc độ tăng trưởng kim ngạch
xuất khẩu bình quân toàn ngành đạt khoảng 10% năm, thì đến giai đoạn 2000-
2007 tốc độ tăng trưởng trung bình là 20,7% (xấp xỉ tốc độ tăng trưởng kim
ngạch xuất khẩu chung của cả nước là 21,2%)
15
. Riêng năm 2006, tỉ lệ tăng kim

đó có ba thị trường lớn nhất là Mỹ, EU và Nhật Bản (biểu 3). Ngoài ra, sản
phẩm dệt may của Việt Nam cũng được xuất khẩu sang một số thị trường khác
như: Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Liên bang Nga…
Biểu 3 : Thị trường xuất khẩu chính của hàng dệt may VN
* Nguồn: Số liệu từ Vinatex, atex .com
1.2.1 Thị trường Mỹ
Mỹ là một thị trường đơn lẻ nhưng lại có nhu cầu rất lớn về hàng dệt may,
khoảng 65 tỷ USD/năm
17
. Đây được coi là thị trường xuất khẩu hàng dệt may
lớn, nhiều tiềm năng của Việt Nam.
Biểu 4: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ
(Triệu USD)
*
Nguồn số liệu từ Tổng cục Hải quan,
Sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hoá quan hệ, Mỹ thông qua quyết định
bỏ cấm vận đối với Việt Nam ngày 3/2/1994, hàng dệt may Việt Nam đã có cơ
hội tiếp cận với thị trường Mỹ. Nhờ đó, ngay trong năm 1995(sau khi bỏ cấm
vận), kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang Mỹ đã đạt 16,78 triệu
USD (trong khi năm 1994 chỉ đạt 2,66 triệu USD). Tuy nhiên, do chưa được
hưởng ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) và tối huệ quốc (MFN) nên hàng dệt
may của Việt Nam phải chịu mức thuế suất khá cao, khiến cho kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ còn rất khiêm tốn (biểu 4).
Tuy nhiên, đến tháng 11/2001, Hiệp định thương mại Việt Mỹ (BTA) đã có
hiệu lực sau khi chính thức được phê chuẩn, tạo điều kiện thuận lợi cho xuất
khẩu dệt may của Việt Nam sang thị trường này. Theo đó, hàng dệt may Việt
Nam được hưởng một biểu thuế thấp hơn nhiều so với trước kia (các mặt hàng
xuất khẩu chủ yếu như áo khoác, áo len mức thuế giảm trung bình đến 40%)
18
.

thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng Mỹ cũng đồng thời là thị trường nhiều
tiềm năng cho Việt Nam. Mặc dù Mỹ hiện là thị trường xuất khẩu lớn nhất của
hàng dệt may Việt Nam, nhưng đối với Mỹ, kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam
lại không đáng kể so với nhu cầu tiêu thụ rất lớn từ thị trường này (biểu 5). Vì
vậy, nếu Việt Nam nâng cao được năng lực cạnh tranh, khắc phục được những
khó khăn trên thì đây sẽ là một thị trường hứa hẹn cho dệt may Việt Nam.
1.2.2 Thị trường EU
Liên minh châu Âu (EU), với 25 nước thành viên và số dân lên tới gần 500
triệu người, được đánh giá là một thị trường rộng lớn cho các nước xuất khẩu
hàng dệt may. Hàng năm, nhu cầu nhập khẩu hàng may mặc của thị trường EU
vào khoảng 87 tỷ USD và hàng dệt khoảng trên 53 tỷ USD
19
. Mặt khác, chính
EU cũng là khối nước xuất khẩu hàng dệt may đứng thứ hai thế giới, sau Trung
Quốc. Tuy nhiên, những năm gần đây, lượng buôn bán trong nội khối EU có xu
hướng giảm sút, còn lượng hàng nhập khẩu từ các nước châu Á có xu hướng
tăng do EU muốn tận dụng nguồn lao động rẻ, dồi dào từ châu Á nên tăng lượng
hàng gia công từ các nước này. Vì vậy, EU được coi là thị trường đầy tiềm năng
cho các nước xuất khẩu dệt may châu Á, trong đó có Việt Nam.
Trước những năm 1990, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
sang EU hầu như không đáng kể do hai bên chưa bình thường hoá được quan hệ.
Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU đặc biệt phát triển
mạnh sau khi Hiệp định buôn bán hàng dệt may giữa hai bên được ký kết ngày
15/12/1992 và được thực hiện từ năm 1993 với tốc độ tăng trưởng bình quân
trên 23%/năm trong 5 năm 1993-1997. Sau đó, hai bên còn tiếp tục ký hiệp định
cho giai đoạn 1998- 2000, cho phép nâng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may từ
Việt Nam sang EU lên 40% so với giai đoạn 1993- 1997, với mức tăng trưởng
từ 3- 6%/năm, và tiếp theo là hiệp định cho giai đoạn 2000-2002, trong đó cam
kết mở rộng thị trường, EU đồng ý tăng thêm khoảng 30% hạn ngạch về dệt
may cho Việt Nam

xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang EU cũng không tăng như dự đoán
do Việt Nam vẫn bị áp thuế nhập khẩu lên tới 12%
21
. Dự báo trong năm 2008,
khi EU dỡ bỏ hạn ngạch dệt may cho Trung Quốc, thị phần của Việt Nam tại EU
sẽ bị ảnh hưởng rất đáng kể. Bên cạnh đó, hiện nay, trước sự gia tăng ồ ạt của
hàng dệt may từ các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, EU đang có xu
hướng tăng cường các hàng rào phù hợp với các luật lệ của WTO để bảo vệ cho
ngành công nghiệp dệt may nội địa của mình. Điều này cũng là một trở ngại cho
việc xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này.
Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu
tập trung vào các mặt hàng truyền thống, dễ làm như áo jacket, áo sơ mi, quần
âu,… Trong đó, mặt hàng áo Jacket luôn chiếm vị trí chủ yếu trong cơ cấu xuất
khẩu hàng dệt may sang EU (chiếm hơn 50%)
22
. Trong khi đó, các mặt hàng đòi
hỏi kỹ thuật cao như áo sơ mi cao cấp, complet… thì hầu hết các doanh nghiệp
Việt Nam không có khả năng đáp ứng được. Chính vì vậy, mặc dù trước đây, số
lượng hạn ngạch bị hạn chế, nhưng vẫn còn nhiều hạn ngạch bị bỏ trống do
không có doanh nghiệp tham gia.
Hai hình thức xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường EU là: xuất
khẩu trực tiếp theo giá FOB, chỉ mới chiếm 30%; gia công xuất khẩu, chiếm tới
70%
23
. Trong hình thức gia công, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu qua các nước
trung gian như Hàn Quốc, Đài Loan- với vị trí là nhà đặt hàng, còn các nhà nhập
khẩu EU đóng vai trò là chủ hàng nước ngoài và là nguồn cung ứng chính về
nguyên phụ liệu.
Đối với thị trường EU, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nếu
các doanh nghiệp tiếp tục khai thác tốt thì vẫn còn cơ hội vì nhu cầu hàng dệt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status