Website: Email : Tel (: 0918.775.368
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam đã có nhiều khởi sắc trên tất cả các lĩnh vực
từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội. Việt Nam- một quốc gia Á Châu có một xuất
phát điểm thấp do chịu hậu quả của sự thống trị lâu năm của chế độ phong kiến, cuộc
chiến tranh kéo dài hơn 80 năm của thực dân Pháp và gần 20 năm của đế quốc Mỹ,
nhưng đến nay Việt Nam đã có vị thế đáng kể trong khu vực và quốc tế. Những thành
tựu đạt được đó phải kể đến những nỗ lực xây dựng đất nước của toàn thể nhân dân
và sự lựa chọn đúng đắn trong con đường phát triển của Đảng và Nhà Nước. Đối với
kinh tế, Đảng và Nhà nước thực hiện những chính sách tập trung phát triển vào
những ngành mũi nhọn, trọng điểm cho quá trình công nghiệp hóa và huy động phát
triển đa dạng hóa các loại hình,thành phần kinh tế. Ngành Dệt may là một trong số
những ngành đó- được xác định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn,
trọng điểm cho mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế đã phát triển không chỉ bó hẹp trong một
quốc gia mà còn lan rộng ra khu vực và toàn cả thế giới do vậy xu thế hội nhập là
một điều tất yếu đối với các quốc gia. Việt Nam đang dần dần thực hiện việc hội
nhập với nền kinh tế thể hiện ở việc là thành viên của các tổ chức kinh tế của khu vực
và tham gia vào các diễn đàn kinh tế như ASEAN, APEC, AFTA,…Tuy nhiên, sự
kiện Việt Nam gia nhập vào WTO được đánh giá là một bước tiến mới của quá trình
hội nhập. Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)-dấu mốc quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc
gia nhập vào WTO đã tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thử
thách, mà đối tựợng chịu tác động trực tiếp chính là các doanh nghiệp trong nước đặc
biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Trong những năm gần đây, SME có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nứớc nhà. Theo con số của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay có trên 350 000 SME
chiếm 95% tổng số công ty đang hoạt động tại Việt Nam với tổng số vốn khoảng 85
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tỷ USD, chiếm khoảng 28,92% trong tổng số vốn của tổng số các công ty đang hoạt
may mà còn là của Chính phủ mà hiện tại vẫn chưa có lời giải phù hợp. Đặc biệt, sau
2 năm gia nhập WTO nhưng SMEs Dệt may Việt Nam vẫn chưa nhận thức hết được
những thách thức, áp lực cạnh tranh khi hội nhập, dẫn đến việc thiếu chuẩn bị, thiếu
phương án đối phó khi sản xuất kinh doanh khó khăn do phải cạnh tranh với hàng
ngoại và mức thuế nhập khẩu Dệt may đã giảm tới 2/3.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài cho chuyên
đề thực tập của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Với việc phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt
Nam vào thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa ra một số giải pháp
để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các SME Dệt may trong điều kiện hội
nhập sâu. Bởi vì, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các SMEs DMVN đồng
nghĩa với việc góp phần nâng cao khả năng đóng góp trong GDP của SMEs ngành
Dệt may nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tựơng nghiên cứu trong đề tài này là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(SMEs) trong ngành Dệt may Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh
tranh của các SMEs Dệt May Việt Nam sau thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về SMEs nói chung và SMEs
DMVN nói riêng, các lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các yếu tố
đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các cam kết và hiệp định của ngành
DMVN khi gia nhập WTO.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đề tài đi vào phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của các SMEs
DMVN thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO.
các biện pháp hỗ trợ cho khu vực này.
Theo nghị định số 90/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001
về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong Điều 3 của Nghị định đã đưa
ra khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:
“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký
kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về doanh
nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái niệm trên được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nước. Trong đề tài này sử dụng khái niệm trên để nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
2. Đặc điểm của SME
2.1 Đặc điểm của SMEs Việt Nam
Đặc điểm về vốn: đối với các SMEs có quy mô về vốn nhỏ, theo quy định thì
SMEs có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, bởi xuất phát của SMEs chủ yếu là từ các
doanh nghiệp tư nhân. Với quy mô vốn nhỏ nên các SMEs gặp khó khăn trong việc
đầu tư để thay đổi công nghệ, mở rộng sản xuất hơn nữa SMEs cũng rất ít có cơ hội
để tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài trừ các nguồn từ chính sách của nhà nước.
Đặc điểm về lao động: lao động ít và trình độ tay nghề thấp là đặc điểm nổi
bật nhất của SMEs VN.
Đặc điểm về công nghệ: công nghệ sử dụng trong các SMEs VN đều là các
công nghệ cũ kỹ đã lạc hậu từ rất lâu. Có những SMEs công nghệ đã lạc hậu từ
khoảng 10 năm thậm chí là 15 năm. Mức đổi mới công nghệ chỉ bằng 5% so với
SMEs trong nước cũng như khu vực. Tỷ lệ dành cho đổi mới công nghệ so với tổng
doanh thu hàng năm rất ít thậm chí là không có.
Đặc điểm về thị trường: với quy mô nhỏ năng lực tài chính hạn hẹp tuy nên
sản phẩm của SMEs chỉ đáp ứng với nhu cầu của một vài đối tượng nên phân đoạn
Dệt. Nếu như công nghệ may trong SMEs đạt tới tầm hiện đại của thế giới thì công
nghệ Dệt lại rất lạc hậu và cũ kỹ. Sự phát triển không cân đối này đã làm giảm năng
lực cạnh tranh của SMEs DM so với doanh nghiệp lớn trong nội bộ ngành cũng như
SMEs DM của các nước trong khu vực có quy mô tương đương.
3. Vai trò của SME.
3.1 Vai trò của SMEs Việt Nam
Đóng góp quan trọng vào GDP của nền kinh tế: các SME ngày càng có những
đóng góp quan trọng vào GDP của nền kinh tế. Nếu vào những năm 1990 những
đóng góp này còn chưa đáng kể thì đến năm 2005, tỷ lệ đóng góp vào GDP của các
SME vào khoảng 24-25,5%, năm 2007 thì tỷ lệ này là xấp xỉ 40%.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: các SME được thành lập tại khu vực nông thôn,
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa làm giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng của
các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu
của nền kinh tế.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế: sự ra đời của
các SME trên cùng một ngành sẽ làm giảm bớt tính độc quyền buộc các doanh nghiệp
phải cạnh tranh và liên tục đổi mới thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Chính
điều này đã nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế.
Đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước: tỷ lệ đóng góp vào ngân sách
nhà nước (NSNN) của các SME đang có xu hướng tăng dần trong thờigian tới đây.
Tỷ lệ đóng góp vào NSNN theo các năm 2001,2002 và 2007 lần lượt là 6,4%, 7,2%
và 17,46%.
Góp phần tăng tốc độ áp dụng công nghệ: các SME linh hoạt trong việc áp
dụng các phát minh mới và sáng kiến kỹ thuật. Do phái đối mặt với cạnh tranh của
các doanh nghiệp lớn nên thường xuyên cải tiến công nghệ để tạo ra sự khác biệt.
Tăng thu hút vốn: tỷ lệ vốn của các SME trong tổng số các doanh nghiệp của
nền kinh tế tăng nhanh theo thời gian. Tỷ lệ này trong năm 2008 là 28,92%.
Tạo ra một khối lượng việc làm lớn, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh
xã hội: theo thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, năm 2007 các SME tạo ra
những hệ thống nào? Các yếu tố nào tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp? các yếu tố để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
Khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng cả ở phạm vi vĩ mô và vi mô.
Năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế được chia làm ba cấp độ: năng lực cạnh tranh
của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản
phẩm.
Nếu như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế được thể hiện bằng năng lực
cạnh tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế của nền kinh tế
quốc gia, khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế. Còn năng lực cạnh tranh
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì lợi thế cạnh
tranh, mở rộng thị phần để thu lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ
sở của năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới
và cũng có nhiều quan điểm cũng như nhiều hệ thống tiêu thức đo lường về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn còn chưa
được hiểu một cách thống nhất. Sau đây, đề tài đưa ra một vài khái niệm cơ bản và
đáng chú ý về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do các tổ chức và các doanh
nghiệp đưa ra.
Khái niệm thứ nhất, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp”. Đây là một khái niệm
được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong các doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế
giới. Theo khái niệm này thì năng lực cạnh tranh chính là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với các đồi thủ và khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận
tương đồng với Lý thuyết thương mại truyền thống nghĩa là nghiên cứu năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới
mặt cung, chủ yếu quan tâm đến khâu bán hàng của người sản xuất kinh doanh. Do
vậy, hạn chế trong khái niệm này đó là chưa bao hàm được các phương thức, các yếu
tố duy trì năng lực cạnh tranh, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực cạnh tranh
đánh giá. Tuy nhiên, có 2 hệ thống tiêu thức hay được sử dụng hiện nay trên thế giới
là hệ thống 6 Ms của Philip Kolter và theo mô hình “Kim cương” của Micheal Porter.
2.1Mô hình “ Kim cương”- Micheal Porter
Trong mô hình “Kim cương” về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do
Giáo sư Micheal Porter- Đại học Harvard đề xuất, mô hình “Kim Cương” đưa ra
khung khổ phân tích để hiểu bản chất và đo lường năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Theo mô hình “Kim Cương”năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc
vào 4 nhóm yếu tố, mối nhóm yếu tố làm thảnh một đỉnh của cấu trúc “Kim Cương”.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Các điều kiện yếu tố: bao gồm con người, các yếu tố vật chất, tri thức.
- Các điều kiện nhu cầu: bao gồm quy mô, cơ cấu và sự tinh tế của thị
trường nội địa.
- Các ngành cung cấp và các ngành có liên quan: là sự hiện diện hay
không có sự cạnh trạnh quốc tế đối với ngành kinh doanh hoặc các ngành có liên
quan.
- Hiện trạng của doanh nghiệp: bao gồm chiến lược, cơ cấu, sự cạn tranh
trong nước.
Như vậy, theo mô hình “Kim Cương”, việc đo lường năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp vừa phụ thuộc
vào các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp
ngnnguwnnn
Hình 1: Mô hình Kim Cương của Porter, 1990(Nguồn: Porter, 1990)
2.2 Hệ thống tiêu thức 6 Ms- Phillip Kolter
Trong hệ thống của Phillip Kolter, có 6 tiêu thức để đánh giá năng lực cạnh
tranh.
- Vốn (Money).
- Nguyên vật liệu (Material).
- Thiết bị công nghệ (Machinery).
Ngữ cảnh của
doanh nghiệp
yếu tố công nghệ sẽ là một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp. Trong đó vấn đề mà các doanh nghiệp cần phải chú ý hiện nay đó là
cần phải cập nhật các thông tin về công nghệ, chuyển giao công nghệ, tăng cường cải
tiến công nghệ, tập trung vào R&D,…
Nhân lực: nhân lực ở đây là một khái niệm tổng hợp được nói đến bao gồm
lực lượng lao động của doanh nghiệp và năng lực tay nghề của lao động. Lao động là
lực lượng sản xuất trực tiếp sử dụng các phương tiện, thiết bị máy móc để tạo ra sản
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
phẩm và lao động cũng là yếu tố đầu vào của doanh nghiệp. Trình độ của lao động là
yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và tính đặc trưng riêng của sản phẩm, dẫn
đến ảnh hưởng tới chi phí và giá thành của sản phẩm. Như vậy, có thể nhận thấy rằng
nhân lực chính là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Quản lý: Trong một doanh nghiệp, năng lực tổ chức và quản lý của daonh
nghiệp chính là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hay
nói rộng ra chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Quản lý
của doanh nghiệp ở đây được hiểu là trình độ của đội ngũ quản lý bao gồm trình độ
tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Tất cả các nhiệm vụ trên của đội ngũ
quản lý đều tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, do vậy quản lý chính
là một yếu tố khôn thể thiếu để đo lường năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Thị trường: được hiểu ở đây có thể là đầu ra của doanh nghiệp khả năng nắm
nhu cầu của thị trường, khả năng trong việc thực hiện các hoạt động marketing. Khả
năng Marketing tác động trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách
hàng, góp phần tăng doanh thu, tăng thị phần của sản phẩm, nâng cao vị thế của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, đây là một nhân tố quan trọng tác động tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hệ thống tiêu thức này được sử dụng ở cả 3 cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và
sản phẩm.
Hiện nay, hệ thống tiêu thức 6 Ms của Philip Kolter vẫn được sử dụng khá
phổ biến trên thế giới và các doanh nghiệp trong nước. Trong đề tài này, sử dụng hệ
Nhóm các hiệp đinh chung: cho đến nay, WTO có tổng cộng 16 hiệp
định chung là tập hợp các nguyên tắc thương mại có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối
với tất cả các thành viên WTO, tập trung vào 3 lĩnh vực:
- Thương mại hàng hóa (Hiệp định GATT và các hiệp định bổ sung)
- Thương mại dịch vụ(hiệp định GATS và các phụ lục)
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hiệp định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp
định TRIPS)
Nhóm các bảng cam kết về mở cửa thị trường của từng thành viên
Các bảng cam kết vê mở cửa thị trường là tập hợp các cam kết giảm thuế quan
và lộ trình mở cửa đồi với từng loại dịch vụ của từng thành viên
Mỗi thành viên WTO có bảng cam kết riêng với mức cam kết và lộ trình thực
hiện riêng (là kết quả của đàm phán được với các thành viên khác trong WTO)
Nhóm các hiệp định nhiều bên
Trong WTO có một số hiệp định mà chỉ một số thành viên WTO ký kết và chỉ
có hiệu lực với các thành viên này. Người ta gọi các hiệp định này là hiệp định
thương mại nhiều bên(để phân biệt với 16 hiệp định chung mà tất cả các thành viên
WTO đều có nghĩa vụ thực hiện). Hiện nay, chỉ còn 02 hiệp định trong số này có hiệu
lực.
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của WTO
Mặc dù khá dài và phức tạp, các hiệp định trong WTO tuân thủ theo một số
nguyên tắc chủ đạo, trong đó có những nguyên tắc trực tiếp tác động đến quyền và
lợi ích của các doanh nghiệp.
Nguyên tắc tối huệ quốc(MFN) theo nguyên tắc này mỗi nước thành
viên, phải dành sự đối xử không phân biệt cho hàng hóa và dịch vụ đến từ các nước
thành viên WTO khác nhau.
Như vậy, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường theo nguyên
tắc này sẽ được cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp xuất khẩu đến từ nước
khác.
Nguyên tắc đối xử quốc gia(NT): nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước
nước ngoài, chủ yếu thông qua cắt giảm thuế nhập khẩu.
Cam kết về thuế nhập khẩu đối với hàng dệt may(từng nhóm sản phẩm và trong so
sánh với cam kết cắt giảm thuế quan đối với tất cả các mặt hàng) được tóm tắt trong
bảng sau:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Bảng 1: Cam kết về cắt giảm thuế nhập khẩu trong WTO đối với hàng DMVN
STT Chỉ tiêu Thuế suất
MFN trước gia
nhập(%)
Thuế suất cam kết trong gia nhập WTO
Khi gia
nhập
Thuế suất
cuối cùng
Thời hạn thực
hiện
1 Thuế suất bình quân 17,4% 17,2% 13,4% Cơ bản sau 3-5
năm
2 Thuế suất bình quân
sản phẩm công
nghiệp
16,7% 16,2% 12,4% Cơ bản sau 3-5
năm
3 Thuế suất bình quân
ngành dệt may
37,3 % 13,7% 13,7% Ngay khi gia
nhập WTO
Vải 40% 12% 12% Ngay khi gia
nhập WTO
Quần áo 50% 20% 20% Ngay khi gia
AKFTA
2006 5% 27,8% 33,4%
2015 0% 1,97% 9,3%
2.3 Hiệp định tự do hóa thương mại theo ngành: Hiệp định dệt may
Theo cam kết của WTO, các nước mới tham gia vào WTO th
́
phải tham gia
hiệp định tự do một số ngành. Dệt may là một trong số 3 ngành đầu tiêm tham gia
vào hiệp định thương mại tự do ngành.
Việc tham gia Hiệp định dệt may, thực hiện đa phương hóa mức thuế đã cam
kết theo các Hiệp định thương mại dệt may với EU, Hoa Kỳ đã dẫn đến giảm thuế
đáng kể đối với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống còn 12%, quần áo từ 50%
xuống 20%,sợi từ 20% xuống 5%. Theo Hiệp định Dệt may, số dòng thuế tham gia
Hiệp định là 1.170, với mức thuế suất hiện hành là 37,2% thì thuế suất cam kết cuối
cùng sẽ giảm còn 13,2%.
Theo các cam kết của WTO, khi việt Nam là thành viên của WTO, các nước thành
viên khác có nghĩa vụ đối xử binh đẳng theo nguyên tăc tối huệ quốc và đối xử quốc
gia. Khi Việt Nam thực hiện hiệp định Dệt may sẽ có những tác động chủ yếu sau đối
với ngành Dệt may, xét theo khía cạnh xuất khẩu và sản xuất trong nước:
Đối với xuất khẩu:
Về số lượng xuất khẩu: hạn ngạch vào các thị trường được dỡ bỏ, doanh nghiệp dệt
may có thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường.
Về thuế quan: theo nguyên tắc Tối huệ quốc(MFN), hàng Dệt may Việt Nam nhập
khẩu vào các nước thành viên WTO sẽ được áp dụng các mức thuế tương tự như thuế
đối với hàng Dệt may nhập khẩu từ các nước khác vào nước đó.
Về việc mua bán trên thị trường: theo nguyên tắc Đối xử quốc gia(NT), hàng dệt
may Việt Nam khi nhập khẩu vòa một nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình
đẳng với hàng Dệt may nội địa của họ(về thuế, lệ phí, phí, các quy định liên quan đến
việc bán hàng, cạnh tranh…)
Đối với sản xuất trong nước
trung bình cứ 916 người dân thì có một SME, thì đến năm 2008 con số này là cứ
231 người dân thì có 1 doanh nghiệp. Mặc dù đây là một con số đáng lưu ý tuy nhiên
nếu so với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và mục tiêu mà các nền
kinh tế APEC phấn đấu đạt chỉ tiêu là 20 người dân/1 SME thì tỷ lệ trên vẫn còn rất
thấp.
Trong quan điểm phát triển của Đảng và Nhà nước, ngành Dệt may được xác
định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn quan trọng của nền kinh tế và
vẫn là một ngành có vai trò chủ đạo trong vòng 10 năm tới. Sự phát triển nhanh
chóng của ngành trong những năm vừa qua đã thể hiện phần nào vị trí của ngành
trong toàn bộ nền kinh tế.
Thực trạng về số lượng của SMEs DMVN: Tính đến thời điểm tháng 12/2008,
trên toàn quốc có khoảng 2500 doanh nghiệp DM, trong đó có xấp xỉ 1500 doanh
nghiệp nằm ở khu vực phía Bắc, số còn lại nằm ở khu vực phía Bắc và miền Trung.
Ngành DM thu hút khoảng 2,2 triệu lao động dự kiến số lao động sẽ tăng 3,5-4 triệu
lao động vào năm 2010, chiếm 5% tổng số việc làm cả nước và chiếm đến 40% số
việc làm trong ngành công nghiệp sản xuất và chế biến. Trong ngành DMVN, số
lượng SMEs chiếm một tỷ lệ tương đối là 77%, SMEs DM chủ yếu là thuộc thành
phần kinh tế nhân. Số lượng SMEs DM xấp xỉ khoảng 1950 doanh nghiệp, số lượng
lao động của SMEs vào khoảng 1,7 triệu lao động, số lao động này chiếm 3,9% tổng
số việc làm của cả nước và chiếm đến 30,91% số việc làm trong ngành sản xuất công
nghiệp và chế biến.
Bảng3: Số lượng và tỷ lệ % so với tổng số doanh nghiệp DM theo qui mô LĐ
2000 2001 2002 2003 2004
Tổng số DN
978 1352 1612 1909 2398
Dưới 10 người 62 6% 265 20% 185 11% 229 12% 332 14%
10 – 299 người 624 64% 762 56% 1006 62% 1175 62% 1506 63%
(Tổng hợp từ Nguồn của Tổng cục Thống kê)
Nhận xét: Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng số lượng SMEs trong
ngành Dệt may tăng dần theo thời gian, tỷ lệ của SMEs so với tổng số các doanh
trưởng khá, với tốc độ tăng trưởng của năm trước cao hơn năm sau, với mức đóng
góp chiếm 9,55% so với GDP. Nếu trong thời kỳ 2000-2004, tốc độ tăng trưởng bình
quân của toàn ngành Dệt may là vào khoảng 14% thì đến thời kỳ 2005-2008, tốc độ
tăng trưởng bình quân của toàn ngành đã là 19-20%. Kể từ năm 2002 trở đi ngành
Dệt may luôn có tốc độ tăng trưởng là 2 con số và có tốc độ cao hơn tốc độ tăng
trưởng chung của toàn bộ ngành chế biến công nghiệp. Đồ thị dưới đây biểu diễn tốc
độ tăng trưởng của toàn ngành Dệt may trong giai đoạn 2002-2007.
Biểu1: Tốc độ tăng trưởng ngành Dệt may 2002-2007
(Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam)
Trong sự tăng trưởng của toàn ngành Dệt may có đóng góp không nhỏ của
SMEs Dệt may, bộ phận chủ đạo trong toàn bộ ngành. Giá trị sản xuất của SMEs Dệt
may năm 2007 là 38,844 nghìn tỷ VND, chiếm đến 6,24% tổng giá trị sản xuất công
nghiệp cả nước, trong đó giá trị sản xuất sản phẩm của SMEs trong ngành Dệt
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chiếm đến 42,12%. Không những vậy, hầu hết các sản phẩm của SMEs DMVN đều
có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước.
Theo tính toán của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong thị trường nội địa tổng doanh
thu của SMEs DMVN đạt xấp xỉ 156 triệu USD, mặc dầu vậy con số này của SMEs
chỉ mới đáp ứng được gần 3,9% nhu cầu trong nước. Đây là một tỷ lệ đáng khích lệ
đối với SMEs DMVN, tuy nhiên so với những tiếm năng hiện có thì vẫn chưa phải là
một tỷ lệ xứng đáng.
Về kim ngạch xuất khẩu:ngành Dệt may được đánh giá là “Á quân” của xuất
khẩu VN, chỉ đứng sau dầu mỏ, kim ngạch xuất khẩu của ngành Dệt may chiếm 15%
kim ngạch xuất khẩu của cả nước, tốc độ tăng giá trị xuất khẩu Dệt may trung bình
giai đoạn 2000-2006 là 21% cao hơn so với tốc độ xuất khẩu chung của cả nước là
18%. Đặc biệt, trong những năm gần đây ngành DMVN đã thể hiện được vị trí “Á
quân” của mình. Năm 2007, ngành DMVN được đứng vào Top 10 nước có kim
ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất của thế giới chỉ đứng sau Trung Quốc, EU, Thổ
Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mehyco, Hồng Kong, Bawngladet xấp xỉ Indonesia và Mỹ.
Trong những thành tích mà ngành DMVN về xuất khẩu thì tỷ lệ đóng góp của
%
Số
lượng
doanh
Số
lượng
doanh %
Số
lượng
doanh
Số
lượng
doanh %