Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO - Pdf 12

PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ XXI, Việt Nam đã có nhiều khởi sắc trên tất cả các lĩnh vực
từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội. Việt Nam- một quốc gia Á Châu có một xuất
phát điểm thấp do chịu hậu quả của sự thống trị lâu năm của chế độ phong kiến, cuộc
chiến tranh kéo dài hơn 80 năm của thực dân Pháp và gần 20 năm của đế quốc Mỹ,
nhưng đến nay Việt Nam đã có vị thế đáng kể trong khu vực và quốc tế. Những thành
tựu đạt được đó phải kể đến những nỗ lực xây dựng đất nước của toàn thể nhân dân
và sự lựa chọn đúng đắn trong con đường phát triển của Đảng và Nhà Nước. Đối với
kinh tế, Đảng và Nhà nước thực hiện những chính sách tập trung phát triển vào
những ngành mũi nhọn, trọng điểm cho quá trình công nghiệp hóa và huy động phát
triển đa dạng hóa các loại hình,thành phần kinh tế. Ngành Dệt may là một trong số
những ngành đó- được xác định là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn,
trọng điểm cho mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Trong bối cảnh hiện nay, khi kinh tế đã phát triển không chỉ bó hẹp trong một
quốc gia mà còn lan rộng ra khu vực và toàn cả thế giới do vậy xu thế hội nhập là
một điều tất yếu đối với các quốc gia. Việt Nam đang dần dần thực hiện việc hội
nhập với nền kinh tế thể hiện ở việc là thành viên của các tổ chức kinh tế của khu vực
và tham gia vào các diễn đàn kinh tế như ASEAN, APEC, AFTA,…Tuy nhiên, sự
kiện Việt Nam gia nhập vào WTO được đánh giá là một bước tiến mới của quá trình
hội nhập. Ngày 7/11/2006, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO)-dấu mốc quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc
gia nhập vào WTO đã tạo ra cho Việt Nam nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thử
thách, mà đối tựợng chịu tác động trực tiếp chính là các doanh nghiệp trong nước đặc
biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME).
Trong những năm gần đây, SME có một vị trí quan trọng trong nền kinh tế
nứớc nhà. Theo con số của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, hiện nay có trên 350 000 SME
chiếm 95% tổng số công ty đang hoạt động tại Việt Nam với tổng số vốn khoảng 85
tỷ USD, chiếm khoảng 28,92% trong tổng số vốn của tổng số các công ty đang hoạt
động. Các SME hàng năm đóng góp hơn 40% cho GDP, tạo ra 50% việc làm mới và
thu hút khoảng 50,13% tổng số lao động trong doanh nghiệp, tạo ra 78% mức bán lẻ.

phương án đối phó khi sản xuất kinh doanh khó khăn do phải cạnh tranh với hàng
ngoại và mức thuế nhập khẩu Dệt may đã giảm tới 2/3.
Vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh
tranh của SMEs Dệt may Việt Nam sau khi gia nhập WTO” làm đề tài cho chuyên
đề thực tập của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Với việc phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của SMEs Dệt may Việt
Nam vào thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO để từ đó đưa ra một số giải pháp
để góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các SME Dệt may trong điều kiện hội
nhập sâu. Bởi vì, việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các SMEs DMVN đồng
nghĩa với việc góp phần nâng cao khả năng đóng góp trong GDP của SMEs ngành
Dệt may nói riêng và đối với nền kinh tế nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tựơng nghiên cứu trong đề tài này là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa
(SMEs) trong ngành Dệt may Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh
tranh của các SMEs Dệt May Việt Nam sau thời điểm Việt Nam là thành viên của Tổ
chức Thương mại thế giới (WTO).
4. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về SMEs nói chung và SMEs
DMVN nói riêng, các lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và các yếu tố
đo lường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, các cam kết và hiệp định của ngành
DMVN khi gia nhập WTO.
Đề tài đi vào phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của các SMEs
DMVN thời điểm trước và sau khi gia nhập WTO.
Từ những thực trạng về năng lực cạnh tranh của các SMEs DMVN đã phân
tích ở trên từ đó đưa ra một vài giải pháp nhằm nâng cao năng lực của các SMEs DM
trong giai đoạn nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu.
Phương pháp nghiên cứu: đề tài sử dụng các phương pháp thống kê mô tả,

kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số
lao động trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Đây được xem là văn bản pháp luật đầu tiên chính thức quy định về doanh
nghiệp nhỏ và vừa, là cơ sở để các chính sách và biện pháp hỗ trợ của các cơ quan
nhà nước, các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khái niệm trên được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả
nước. Trong đề tài này sử dụng khái niệm trên để nghiên cứu về doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
2. Đặc điểm của SME
2.1 Đặc điểm của SMEs Việt Nam
Đặc điểm về vốn: đối với các SMEs có quy mô về vốn nhỏ, theo quy định thì
SMEs có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, bởi xuất phát của SMEs chủ yếu là từ các
doanh nghiệp tư nhân. Với quy mô vốn nhỏ nên các SMEs gặp khó khăn trong việc
đầu tư để thay đổi công nghệ, mở rộng sản xuất hơn nữa SMEs cũng rất ít có cơ hội
để tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài trừ các nguồn từ chính sách của nhà nước.
Đặc điểm về lao động: lao động ít và trình độ tay nghề thấp là đặc điểm nổi
bật nhất của SMEs VN.
Đặc điểm về công nghệ: công nghệ sử dụng trong các SMEs VN đều là các
công nghệ cũ kỹ đã lạc hậu từ rất lâu. Có những SMEs công nghệ đã lạc hậu từ
khoảng 10 năm thậm chí là 15 năm. Mức đổi mới công nghệ chỉ bằng 5% so với
SMEs trong nước cũng như khu vực. Tỷ lệ dành cho đổi mới công nghệ so với tổng
doanh thu hàng năm rất ít thậm chí là không có.
Đặc điểm về thị trường: với quy mô nhỏ năng lực tài chính hạn hẹp tuy nên
sản phẩm của SMEs chỉ đáp ứng với nhu cầu của một vài đối tượng nên phân đoạn
thị trường của SMEs cũng được coi là hẹp.
2.2 Đặc điểm của SMEs Dệt may Việt Nam.
Cũng giống như các SMEs Việt Nam thì SMEs DMVN cũng có những đặc
điểm chung giống với SMEs khác, tuy nhiên lại có những đặc điểm khác biệt đặc
trưng riêng cho ngành của mình đó là:
Đặc điểm về lao động: một đặc điểm nổi bật đặc trưng cho SMEs DM VN đó

đóng góp quan trọng vào GDP của nền kinh tế. Nếu vào những năm 1990 những
đóng góp này còn chưa đáng kể thì đến năm 2005, tỷ lệ đóng góp vào GDP của các
SME vào khoảng 24-25,5%, năm 2007 thì tỷ lệ này là xấp xỉ 40%.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: các SME được thành lập tại khu vực nông thôn,
vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa làm giảm tỷ trọng nông nghiệp tăng tỷ trọng của
các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu
của nền kinh tế.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và tính hiệu quả của nền kinh tế: sự ra đời của
các SME trên cùng một ngành sẽ làm giảm bớt tính độc quyền buộc các doanh
nghiệp phải cạnh tranh và liên tục đổi mới thì mới có thể tồn tại và phát triển được.
Chính điều này đã nâng cao tính hiệu quả của nền kinh tế.
Đóng góp quan trọng vào ngân sách nhà nước: tỷ lệ đóng góp vào ngân sách
nhà nước (NSNN) của các SME đang có xu hướng tăng dần trong thờigian tới đây.
Tỷ lệ đóng góp vào NSNN theo các năm 2001,2002 và 2007 lần lượt là 6,4%, 7,2%
và 17,46%.
Góp phần tăng tốc độ áp dụng công nghệ: các SME linh hoạt trong việc áp
dụng các phát minh mới và sáng kiến kỹ thuật. Do phái đối mặt với cạnh tranh của
các doanh nghiệp lớn nên thường xuyên cải tiến công nghệ để tạo ra sự khác biệt.
Tăng thu hút vốn: tỷ lệ vốn của các SME trong tổng số các doanh nghiệp của
nền kinh tế tăng nhanh theo thời gian. Tỷ lệ này trong năm 2008 là 28,92%.
Tạo ra một khối lượng việc làm lớn, giải quyết việc làm và bảo đảm an sinh
xã hội: theo thống kê của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, năm 2007 các SME tạo ra
50% việc làm mới và số lao động của các SME chiếm đến 50,13% tổng số lao động
trong các doanh nghiệp.
3.2 Vai trò của SMEs Dệt may Việt Nam
Cũng giống như các SMEs VN, SMEs DM cũng có những vai trò tương tự
như các SMEs. Tuy nhiên, với đặc điểm của ngành DM thì SMEs DM có những đóng
góp quan trọng và nổi bật sau đây
Tạo ra một khối lượng việc làm lớn: tính đến cuối năm 2008, có 2350 SMEs
DM thì có đến 706 657 lao động, số lao động này chiếm đến 13-17% lao động làm

của doanh nghiệp thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc duy trì lợi thế cạnh
tranh, mở rộng thị phần để thu lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là cơ
sở của năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã được nghiên cứu từ lâu trên thế giới
và cũng có nhiều quan điểm cũng như nhiều hệ thống tiêu thức đo lường về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn còn chưa
được hiểu một cách thống nhất. Sau đây, đề tài đưa ra một vài khái niệm cơ bản và
đáng chú ý về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp do các tổ chức và các doanh
nghiệp đưa ra.
Khái niệm thứ nhất, “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy
trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp”. Đây là một khái niệm
được sử dụng khá phổ biến hiện nay trong các doanh nghiệp trên phạm vi toàn thế
giới. Theo khái niệm này thì năng lực cạnh tranh chính là khả năng tiêu thụ hàng hóa,
dịch vụ so với các đồi thủ và khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận
tương đồng với Lý thuyết thương mại truyền thống nghĩa là nghiên cứu năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp dựa trên cách tiếp cận của “kinh tế trọng cung”, chú trọng tới
mặt cung, chủ yếu quan tâm đến khâu bán hàng của người sản xuất kinh doanh. Do
vậy, hạn chế trong khái niệm này đó là chưa bao hàm được các phương thức, các yếu
tố duy trì năng lực cạnh tranh, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Khái niệm thứ hai, do Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế(OECD) có trích dẫn
khái niệm về năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật ngữ chính sách thương
mại(1997). Theo đó “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của một
doanh nghiệp không bị các doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Như
vậy, hiểu theo khái niệm này thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng
chống chịu trước sự tấn công của các doanh nghiệp khác. Hạn chế của khái niệm này
là khái niệm này mang tính định tính cao và rất khó đo lường bằng định lượng.
Khái niệm thứ ba, là khái niệm do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
(OECD) “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất tương đối cao trên

- Các ngành cung cấp và các ngành có liên quan: là sự hiện diện hay
không có sự cạnh trạnh quốc tế đối với ngành kinh doanh hoặc các ngành có liên
quan.
- Hiện trạng của doanh nghiệp: bao gồm chiến lược, cơ cấu, sự cạn tranh
trong nước.
Như vậy, theo mô hình “Kim Cương”, việc đo lường năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp vừa dựa vào khả năng bên trong của doanh nghiệp vừa phụ thuộc
vào các yếu tố bên ngoài của doanh nghiệp
ngnnguwnnn
Hình 1: Mô hình Kim Cương của Porter, 1990(Nguồn: Porter, 1990)
2.2 Hệ thống tiêu thức 6 Ms- Phillip Kolter
Trong hệ thống của Phillip Kolter, có 6 tiêu thức để đánh giá năng lực cạnh
tranh.
- Vốn (Money).
- Nguyên vật liệu (Material).
- Thiết bị công nghệ (Machinery).
Ngữ cảnh của
doanh nghiệp
Các ngành cung ứng
liên quan
Các điều kiện yếu tố
Các điều kiện nhu
cầu
Ngẫu nhiên
Nhà nước
- Nhân lực (Manpower).
- Quản lý (Manegement).
-Thị trường (Marketing)
Vốn: vốn chính là yếu tố đầu vào của doanh nghiệp và là một yếu tố sản xuất
cơ bản của doanh nghiệp. Vốn ở đây được hiều bao gồm: quy mô vốn, khả năng huy

nghiệp chính là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp hay
nói rộng ra chính là năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Quản lý
của doanh nghiệp ở đây được hiểu là trình độ của đội ngũ quản lý bao gồm trình độ
tổ chức, quản lý và điều hành doanh nghiệp. Tất cả các nhiệm vụ trên của đội ngũ
quản lý đều tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, do vậy quản lý chính
là một yếu tố khôn thể thiếu để đo lường năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.
Thị trường: được hiểu ở đây có thể là đầu ra của doanh nghiệp khả năng nắm
nhu cầu của thị trường, khả năng trong việc thực hiện các hoạt động marketing. Khả
năng Marketing tác động trực tiếp đến việc tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách
hàng, góp phần tăng doanh thu, tăng thị phần của sản phẩm, nâng cao vị thế của
doanh nghiệp. Chính vì vậy, đây là một nhân tố quan trọng tác động tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hệ thống tiêu thức này được sử dụng ở cả 3 cấp độ: quốc gia, doanh nghiệp và
sản phẩm.
Hiện nay, hệ thống tiêu thức 6 Ms của Philip Kolter vẫn được sử dụng khá
phổ biến trên thế giới và các doanh nghiệp trong nước. Trong đề tài này, sử dụng hệ
thống 6 Ms làm tiêu thức đánh giá năng lực cạnh tranh của các SMEs DMVN.
III.Các cam kết khi gia nhập WTO có ảnh hường tới SMEs DMVN.
1. Giới thiệu chung về WTO
WTO có tên đầy đủ là Tổ chức thương mại thế giới- World Trade
Organization. Tổ chức này được thành lập và đi vào hoạt động từ 1/1/1995 với mục
tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại tự do thuận lợi và minh bạch.
WTO là tổ chức này kế thừa và phát triển các quy định và thực tiễn thực thi
hiệp định chung về thương mại và thuế quan-GATT 1947(chỉ giới hạn về thương
mại hàng hóa) và là kết quả trực tiếp của “Vòng đàm phán URugoay”(bao trùm các
lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư). Tính đến ngày
11/1/2007, thời điểm Việt Nam chính thức là thành viên của WTO tổ chức này đã có
150 thành viên. Thành viên của WTO là các quốc gia ví dụ như Việt Nam, Hoa kỳ…
hoặc các vùng lãnh thổ tự trị về quan hệ ngoại thương ví dụ EU, Đài Loan, Hồng
Kông…

thương mại nhiều bên(để phân biệt với 16 hiệp định chung mà tất cả các thành viên
WTO đều có nghĩa vụ thực hiện). Hiện nay, chỉ còn 02 hiệp định trong số này có hiệu
lực.
1.3 Các nguyên tắc cơ bản của WTO
Mặc dù khá dài và phức tạp, các hiệp định trong WTO tuân thủ theo một số
nguyên tắc chủ đạo, trong đó có những nguyên tắc trực tiếp tác động đến quyền và
lợi ích của các doanh nghiệp.
 Nguyên tắc tối huệ quốc(MFN) theo nguyên tắc này mỗi nước thành
viên, phải dành sự đối xử không phân biệt cho hàng hóa và dịch vụ đến từ các nước
thành viên WTO khác nhau.
Như vậy, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường theo nguyên
tắc này sẽ được cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp xuất khẩu đến từ nước
khác.
 Nguyên tắc đối xử quốc gia(NT): nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước
thành viên phải đối xử hàng hóa, dịch vụ đến từ các nước thành viên khác(sau khi đã
hoàn tất các thủ tục thuế quan) không kém thuận lợi hơn hàng hóa dịch vụ nội địa của
mình.
Với nguyên tắc này, doanh nghiệp xuất khẩu vào một thị trường nhập khẩu về
cơ bản sẽ được cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp nội địa nước nhập khẩu đó
 Nguyên tắc cắt giảm thuế quan và không sử dụng các biện pháp phi
thuế quan.
Theo nguyên tắc này, các thành viên WTO phải cam kết cắt giảm dần thuế
quan và chỉ sử dụng hệ thống thuế quan này để bảo vệ sản xuất trong nước, phải bãi
bỏ các biện pháp bảo hộ phi thuế quan(hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu)..trừ một số
trường hợp hạn hữu được phép.
Với nguyên tắc này, việc nhập khẩu hàng hóa sẽ trở nên rõ ràng và dễ dự đoán
hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu và nhập khẩu.
 Nguyên tắc minh bạch: nguyên tắc này đòi hỏi các thành viên trong
WTO phải công khai, rõ ràng, dễ dự đoán trong các thủ tục, quy trình hay quy định
liên quan đến thương mại.

2 Thuế suất bình quân
sản phẩm công
nghiệp
16,7% 16,2% 12,4% Cơ bản sau 3-5
năm
3 Thuế suất bình quân
ngành dệt may
37,3 % 13,7% 13,7% Ngay khi gia
nhập WTO
Vải 40% 12% 12% Ngay khi gia
nhập WTO
Quần áo 50% 20% 20% Ngay khi gia
nhập WTO
Sợi 20% 5% 5% Ngay khi gia
nhập WTO
Nhìn vào biểu cam kết thuế quan đối với sản phẩm dệt may, có thể thấy một số điểm
quan trọng như sau:
Không có lộ trình cho việc cắt giảm: Việt Nam phải cắt giảm thuế quan đối với hàng
dệt may xuống mức cuối cùng ngay khi Việt Nam gia nhập WTO(ngày 11/1/2007)
trong khi lộ trình cắt giảm thuế quan đối với các hàng hóa khác thường là từ 5-7 năm;
do đó ngành dệt may sẽ không có thời gian chuẩn bị mà phải lập tức cạnh tranh nay
với hàng nhập khẩu được cắt giảm thuế quan kể từ ngày 11/1/2007.
Mức cắt giảm thuế cao: hàng dệt may có mức cắt giảm thuế nhập khẩu cao nhất
trong toàn bộ Biểu cam kết về cắt giảm thuế quan đối với tất cả các loại hàng hóa,
trong đó có nhóm hàng giảm thuế nhiều nhất là xơ, sợi, vải, quần áo, đồ may sẵn.
Tuy nhiên mức cam kết này vẫn là thấp so với các cam kết cắt giảm thuế quan đối
với hàng dệt may trong các cam kết tự do hóa thương mại mà Việt Nam đã ký kết và
đã thực hiện theo lộ trình( khu vực mậu dịch tự do ASEAN- AFTA; khu vực mậu
dịch tự do ASEAN- Trung Quốc ACFTA; khu vực mậu dịch tự do ASEAN- HÀn
Quốc AKFTA). Ngoài ra, Việt Nam cũng đang đàm phán các hiệp định về khu vực

may có thể tự do xuất khẩu theo nhu cầu thị trường.
Về thuế quan: theo nguyên tắc Tối huệ quốc(MFN), hàng Dệt may Việt Nam nhập
khẩu vào các nước thành viên WTO sẽ được áp dụng các mức thuế tương tự như thuế
đối với hàng Dệt may nhập khẩu từ các nước khác vào nước đó.
Về việc mua bán trên thị trường: theo nguyên tắc Đối xử quốc gia(NT), hàng dệt
may Việt Nam khi nhập khẩu vòa một nước thành viên WTO sẽ được đối xử bình
đẳng với hàng Dệt may nội địa của họ(về thuế, lệ phí, phí, các quy định liên quan đến
việc bán hàng, cạnh tranh…)
Đối với sản xuất trong nước
Những thuận lợi từ việc xuất khẩu của hàng dệt may khi Việt Nam gia nhập WTO
được dự báo kéo theo dòng đầu tư nước ngoài(trực tiếp và gián tiếp) lớn hơn vào
ngành dệt may và hạ tầng phục vụ sản xuất dệt may. Điều này mang lại cho ngành
nhiều lợi thế như:
Khả năng cạnh tranh có thể được tăng cường: với việc bổ sung vốn cho các doanh
nghiệp đang tồn tại và sự xuất hiện của các doanh nghiệp mới.
Cơ hội tiếp cận với công nghệ: tăng thêm cơ hội tiếp cận với khả năng quản lý và
công nghệ kỹ thuật mới.
Tuy nhiên, những lợi lợi ích và cơ hội nói trên lớn chỉ ở dạng tiềm năng. Việc biến
các tiềm năng này thành lợi ích kinh tế thực sự phụ thuộc vào năng lực và sự chủ
động của từng doanh nghiệp.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
SMEs DỆT MAY VIỆT NAM SAU KHI GIA NHẬP WTO.
I. THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH
DOANH CỦA CÁC SMEs DỆT MAY VIỆT NAM.
1. Thực trạng về quy mô và số lượng
Ngành Dệt may được xem là một trong những ngành mũi nhọn trọng điểm của
nền kinh tế nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa. Trong những năm
vừa qua các doanh nghiệp của ngành Dệt may Việt Nam đã có những đóng góp đáng
kể đối với sự phát triển kinh tế của đất nước. Trong đó phải kể đến sự đóng góp về
vấn đề giải quyết một khối lượng việc làm lớn và đóng góp lớn cho kim nghạch xuất

Tổng số DN
978 1352 1612 1909 2398
Dưới 10 người 62 6% 265 20% 185 11% 229 12% 332 14%
10 – 299 người 624 64% 762 56% 1006 62% 1175 62% 1506 63%
(Tổng hợp từ Nguồn của Tổng cục Thống kê)
Nhận xét: Từ bảng số liệu trên có thể nhận thấy rằng số lượng SMEs trong
ngành Dệt may tăng dần theo thời gian, tỷ lệ của SMEs so với tổng số các doanh
nghiệp trong ngành thay đổi trong khoảng 70-77% và trong thời kỳ 2000-2004 số
lượng SMEs Dệt may tăng gấp 2,41 lần. Từ đó có thể thấy vị trí của SMEs đối với sự
phát triển của toàn bộ nghành Dệt may.
Thực trạng về quy mô của SMEs DMVN: So với các doanh nghiệp lớn trong
ngành thì quy mô về lao động của các SMEs có một khoảng cách tương đối xa.
Trong các doanh nghiệp lớn của ngành Dệt may số lao động thường lên đến hàng
nghìn công nhân thì các SMEs chỉ có số lao động tối đa xấp xỉ khoảng 300 công
nhân. Bảng sau đây thể hiện khá rõ nét sự chênh lệch đó:
BẢNG 4: SỐ LĐ CÓ HỢP ĐỒNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP DM
Đơn vị: Người
Tình trạng hợp đồng Tổng số Loại hình doanh nghiệp
DN Lớn SMEs
Số lao động có hợp đồng 565.228 500.167 65.061
Trong đó nữ 444.755 398.805 45.950
Số LĐ không được trả công, trả lương 2.003 1.334 669
Trong đó nữ 1.314 1.024 290
(Nguồn: Tổng cục Thống kê-tổng hợp từ điều tra doanh nghiệp năm 2002-2007)
Nhận xét: Như vậy, từ bảng trên có thể nhận thấy sự chênh lệch rõ rệt về số
lao động giữa các doanh nghiệp lớn và các SMEs trong ngành DM, số lao động trong
các doanh nghiệp lớn nhiều gấp 7,7 lần số lao động trong SMEs. Cũng từ kết quả của
Bảng 2, thấy rằng quy mô về lao động trong SMEs đang có xu hướng tăng lên theo
thời gian. Số lượng các SMEs có số lao động dưới 10 người đang có xu hướng giảm,
trong khi đó quy mô của các SMEs có số lao động 10-300 có xu hướng tăng lên đáng

quân” của mình. Năm 2007, ngành DMVN được đứng vào Top 10 nước có kim
ngạch xuất khẩu dệt may lớn nhất của thế giới chỉ đứng sau Trung Quốc, EU, Thổ
Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Mehyco, Hồng Kong, Bawngladet xấp xỉ Indonesia và Mỹ.
Trong những thành tích mà ngành DMVN về xuất khẩu thì tỷ lệ đóng góp của
SMEs chiếm đến 76-82% tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành. Năm 2007, tổng kim
ngạch xuất khẩu của toàn ngành DMVN đạt được là 7,785 tỷ USD thì SMEs đóng
góp tới 6,0723 tỷ USD chiếm đến 78% so với tổng KNXK của toàn ngành. Bảng sau
đây thể hiện doanh thu xuất khẩu theo USD của toàn bộ ngành DMVN và của SMEs
DMVN.
Biểu 2:Doanh thu xuất khẩu của các doanh nghiệp Dệt may Việt Nam
Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam
Nhận xét: Từ biều đồ thấy rằng, SMEs DMVN chiếm đến 78-80% trong tổng
số các DN của ngành DM và mức đóng góp 76-82% trong KNXK của ngành từ đó
thấy được vai trò quan trọng của SMEs. Đóng góp vào KNXK của SMEs DMVN
tăng theo thời gian về cả số lượng và về tỷ lệ. Tuy nhiên, để có thể nâng cao hơn nữa
chất và lượng đóng góp của SMEs DMVN thì cần có những giải pháp thiết thực để
có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của SMEs DMVN.
Về tình hình lỗ, lãi của SMEs DMVN: cũng giống như các SMEs Việt Nam
khác thì SMEs DMVN cũng mang đặc điểm có năng lực tài chính, năng lực về công
nghệ và các yếu tố khác hạn chế nên phải đối mặt với cạnh tranh và khả năng phá
sản khi không còn cạnh tranh được là điều tất yếu. Bảng dưới đây tổng kết về tình
hình các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ của các SMEs và các DN lớn của ngành
DMVN, giai đoạn 2002-2007.
Bảng 5: Số lượng doanh nghiệp DMVN làm ăn thua lỗ
Tổng ngành SMEs Doanh nghiệp lớn
Số
lượng
doanh
Số
lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status