Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế - Pdf 61

LỜI MỞ ĐẦU
ặc dù đã phát triển từ lâu nhưng chỉ từ thập niên 90 trở lại đây,ngành dệt
may mới thực sự chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Từ 1995
đến nay , với những lợi thế so sánh về lao động, chi phí, hàng dệt may của Việt
Nam đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường quốc tế (thị trường EU, Nhật Bản,
Thị trường Mỹ…) và có tốc độ tăng trưởng cao. Theo tài liệu thống kê, giá trị hàng
dệt may xuất khẩu tăng với tốc độ nhanh từ 850 triệu USD (1995) lên 2,7ỷ USD
(2002). Theo quy định phát triển ngành dệt may đă được phê duyệt tại quyết định
55/2001/QĐ-TTg ngày 23-4-2001 mục tiêu xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào
năm 2005 sẽ tăng lên 4-5 tỷ USD ( trong đó thị trường mỹ là 2tỷ USD , EU 1 tỷ
USD , Nhật Bản 700 triệu USD …) và đạt mức 8-10 tỷ USD vào năm 2010.
M
Tuy vậy để có thể hội nhập vào thị trường thế giới trong xu thế hội nhập quốc tế
toàn cầu với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt , ngành dệt may nước ta vẫn còn có
nhiều hạn chế. Do đó việc phân tích, đánh giá những yếu kém trong ngành dệt may
nước ta để từ đó tìm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may đó
là việc làm hết sức cần thiết đối với ngành dệt may nước ta hiện nay.
Nhận thức được vấn đề này , Em đã chọn đề tài: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh
của ngành dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế “
Bản đề án gồm 3 phần:
Phần I: Những vấn đề lí luận chung
Phần II: Thực trạng về khả năng cạnh tranh của Ngành dệt may Việt Nam
trên thị trường Quốc Tế.
Phần III: Các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành dệt may
Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Em xin chân thành cảm ơn thầy: Nguyễn Đình Trung đã giúp đỡ em hoàn thành
bản đề án này. Do đây cũng là lần đầu tiên , và khả năng , kiến thức của Em còn
nhiều hạn chế .Nên bản đề án chắc chắn sẽ không thể tránh được sự thiếu sót . kính
mong thầy chỉ bảo, phê bình để bản đề án của em được hoàn thành hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
Hà nội :ngày 7/4/2004

Năng xuất được đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ sản xuất được trên một lao
động. Nó phản ánh trình độ trang bị kỹ thuật công nghệ cho sản xuất , trình độ tổ
chức quản lý . nếu máy móc thiết bị được trang bị hiện đại, trình độ tay nghề của
công nhân cao phù hợp với trình độ máy móc thiết bị và trình độ tổ chức , quản lý
tốt thì công việc kinh doanh sẽ suôn sẻ , tạo ra được lợi thế hơn so với đối thủ,
khẳng định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường
*Bối cảnh kinh tế vĩ mô
Các thiết chế chính trị và luật pháp xác lập bối cảnh tổng thể . môi trường chính trị
ổn định và các thiết chế chính trị vững chắc là những điều kiện tiên quyết đối với
cạnh tranh. Việt nam là một nước có nền chính trị ổn định , an ninh vững chắc….
tạo môi trường rất lớn cho các nhà đầu tư nói riêng và cho các doanh nghiệp nói
chung.đây cũng là một ưa thế trong cạnh tranh cho doanh nghiệp nói riêng và cho
các ngành nói chung.
*Hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp
Cạnh tranh của các doanh nghiệp có thể được xem xét trên hai phương diện.
Đầu tiên và cơ bản nhất là hiệu quả hoạt động, ưa tiên hàng đầu đối với các doanh
nghiệp Việt Nam là tăng hiệu quả hoạt động để cố gắng tiếp cận với thực tiễn tốt
nhất của quốc tế trong các lĩnh vực như quy trình sản xuất , công nghệ và khả năng
quản lý.
Vấn đề thứ hai của việc cải tiến doanh nghiệp liên quan đến các loại hình chiến
lược mà doanh nghiệp dang xử dụng .Hiện nay ở Việt Nam tồn tại một xu hướng
cạnh tranh dựa trên mức lương thấp, và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.một số
doanh nghiệp ,ngành,nhiều khi dựa vào khách hàng và đối tác nước ngoài nhằm
cung cấp thiết kế ,linh kiện ,công nghệ,kết quả cuối cùng là năng xuât thấp. Vì vậy
các doanh nghiệp, các ngành muốn có ưa thế hơn trong cạnh tranh thì cần thay đổi
chiến lược.lợi thế chuyển từ lợi thế so sánh ( lao động rẻ tiền, tài nguyên thiên
nhiên) sang lợi thế cạnh tranh dựa trên năng lực đổi mới của các doanh nghiệp và
khả năng của chúng .
*Môi trường kinh doanh
Những thay đổi trong hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp phụ thuộc vào các

nhất. Sự cạnh tranh của các đối thủ hiện tại có xu hướng làm tăng cường độ cạnh
tranh và làm giảm mức lợi nhuận trong nghành. Có nhiều hình thức và công cụ
cạnh tranh được các đối thủ xử dụng khi cạnh tranh trên thị trường, ví dụ như cạnh
tranh về giá hoặc cạnh tranh về chất lượng sản phẩm. Các đối thủ thường khi cạnh
tranh với nhau thường xử dụng công cụ cạnh tranh tổng hợp, kết hợp với cạnh
tranh về giá như: chất lượng sản phẩm, marketing…thường thì cạnh tranh trở nên
khốc liệt khi ở giai đoạn bảo hoà, hoặc suy thoái, hoặc có đông các đối thủ cạnh
tranh. Để có thể bảo vệ khả năng cạnh tranh của mình , các doanh nghiệp cần thu
thập đủ những thông tin về các đối thủ cạnh tranh chính có sức mạnh trên thị
trường và tình trạng nghành để làm cơ sở hoạch định chiến lược.
3.2.Nguy cơ đe doạ nhập ngành từ các đối thủ tiềm ẩn
Hiểu biết các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn luôn có ý nghĩa quan trọng đối với các
doanh nghiệp vì sự xuất hiện các đối thủ mới,đặc biệt khi các đối thủ này có khả
năng mở rộng sản xuất và chiếm thị phần, sẽ làm cạnh tranh trở nên khốc liệt và
không ổn định.
3.3.Những nhà cung ứng
Họ có thể được coi là một áp lực đe doạ khi họ có khả năng tăng giá bán đầu vào
hoặc giảm chất lượng của các sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp . qua đó làm giảm
khả năng cạnh tranh kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp. Trên một phương diện nào
đó, sự đe doạ đó tạo ra sự phụ thuộc ít nhiều đối với các doanh nghiệp.trong thực
tế, các doanh nghiệp luôn phải ứng phó một cách thường xuyên đến nguồn cung
ứng ngay trong nội bộ doanh nghiệp, có thể đó là lực lượng lao động, đặc biệt đối
với những lao động có trình độ cao vì khả năng thu hút và giữ được các nhân viên
có năng lực là một tiền đề đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp.
3.4.Sản phẩm thay thế
Các sản phẩm thay thế luôn có thể có tác động lớn đên mức lợi nhuận tiềm năng
của ngành, nhất là những sản phẩm có chu kỳ sống ngắn như máy tính, đồ điện
tử….vì phần lớn các sản phẩm thay thế là kết quả của việc đổi mới công nghệ, nên
thường có yêu thế về chất lượng và giá thành sản phẩm, mặc dù các sản phẩm ban
đầu có thể giá cao hơn so với các sản phẩm hiện có trên thị trường. Biện pháp chủ

nền kinh tế quốc tế. Công nghiệp dệt may tất yếu là một trong các ngành chủ yếu
xuất khẩu trong giai đoạn đầu phat triển của đất nước. Sự thành công về xuất khẩu
trong ngành này thường mở đường cho sự xuất hiện của một chiến lược phát triển
định hướng xuất khẩu có cơ sở rộng hơn. Đây là một ngành công nghiệp quan
trọng không chỉ tư cách là một nguồn xuất khẩu và tạo việc làm chính, mà còn vì
sự tăng trưởng của ngành này cho thấy kết quả hoạt động kinh tế một cách tổng
hợp hơn.
Sản lượng:trong những năm qua hoạt động đầu tư phát triển đă đưa năng lực sản
xuất của ngành liên tục tăng và tương đối ổn định .Trong 5 năm (95-99) vốn đầu tư
tăng, sản lượng sợi tăng 60%, vải lụa tăng 49,8%, hàng may mặc tăng 83,5%.
Dưới đây là sản lượng của ngành dệt may từ năm 1995-1999:
Mặt hàng 1995 1996 1997 1998 1999
Sợi (1000 tấn) 50 65 69.5 75 80
Vải (triệu m) 221 285 300 316 331
(Nguồn niên khoá thống kê 1998-1999)
*Loại hình sở hữu:
Đối với ngành dệt, Doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 60% (năm 1996), trong
khi đó doanh nghiệp tư nhân chiếm khoảng 24%, Đầu tư nước ngoài chiếm khoảng
16%. Ngành may đầu tư nước ngoài chiếm một tỷ lệ tương tự là 15%. Trong khi đó
doanh nghiệp tư nhân có vị trí quan trọng hơn chiếm khoảng 49% và Doanh nghiệp
nhà nước chiếm 36%. nét đặc trưng chia theo loại hình sở hiểu là khu vực tư nhân
chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong nghành dệt may của việt nam .tại phần lớn các nước có
nền kinh tế thị trường , khu vực này thường chi phối ngành công nghiệp dệt may ,
điều này phản ánh dấu tích của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung cùng với
những tính chất cũ trong thời kỳ đổi mới .như vậy, việc cải cách các Doanh nghiệp
nhằm tạo điều kiện cho khu vực tư nhân phát triển một cách hiệu quả là một trong
những thách thức lớn của ngành dệt may. Hiện nay chúng ta đã có hàng nghìn các
doanh nghiệp trải rộng trên các tỉnh thành nhưng chủ yếu tập trung ở các khu vực
dệt may truyền thống như:TP hồ chí minh,Đồng nai, Bình Dương, Hải Dương,
Nam Định và các khu công nghiệp, các khu chế xuất. Mấy năm qua hàng trăm

đã nói ở trên.
Bảng: Giá trị gia tăng theo lao động (Giá so sánh- USD)
Năm Việt
Nam
Trung
Quốc
Malaixia Hàn
Quốc
Đài
Loan
Xingapo
1994 990 1580 8750 29900 20000 14840
1995 1380 1490 9890 37870 20300 16230
1996 1720 1490 10.450 37210 22500 16270
1997 1720 1650 10.700 33160 22900 16190
1998 1770 1760 7980 20510 22100 15560
Nguồn:ước tính của các chuyên gia dự án
*Lương người lao động:
Đầu những năm 1990 mức luơng trong ngàng công nghiệp dệt là mức lương thấp
nhất ở các nước châu á.Tuy nhiên, hiện nay tỷ lệ lương ở Việt Nam đã tăng,hiện
nay mức lương của người công nhân khoảng 1000000VND .điều đó đã một phần
đáp ứng được cho người lao động.
4.2.Đặc điểm ngành công nghiệp dệt may
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu của con người cũng ngày càng tăng lên, và
ngày càng đa dạng phong phú và phức tạp. trong đó các nhu cầu con người như:
ăn, mặc, ở …mỗi ngày một thay đổi. Điều đó đòi hỏi các sản phẩm cũng phải thay
đổi theo để kịp với nhu cầu xã hội. May mặc cũng là một nhu cầu rất quan trọng
đối với con người. Trước kia chỉ cần mặc ấm là đủ. Còn ngày nay thì sản phẩm
mặc ấm chưa hẳn đã thoả mản nhu cầu của khách hàng, mà sản phẩm đó phải hợp
thị hiếu với người tiêu dùng như: sản phẩm đó phải hợp với mùa ( vì sản phẩm dệt

Hơn nữa ngành cũng có tác động phát triển các ngành sản xuất phụ trợ cho sản
xuất chính như sản xuất phụ tùng, vật liệu, phụ liệu may…Vì vậy đã tạo công ăn
việc làm, và huy động vốn trong dân cư địa phương, phát huy được lưọi thế vùng.
Ngành Dệt may là ngành có mối liên kết dọc, chặt chẽ và liên hoàn từ thượng
nguồn đến hạ nguồn, bắt đầu từ khâu nguyên vật liệu đến kéo sợi, dệt vải, in
nhuộm, cuối cùng là may. Những khâu đầu như nguyên liệu, kéo sợi thường đòi
hỏi quy mô tương đối lớn những khâu sau có thể sản xuất theo quy mô vừa và nhỏ.
Các khâu không nhất thiết phải phpat triển hoàn toàn theo quy mô khép kín nhưng
nếu làm được điều này, chi phí sẽ giảm đi đáng kể.
Sản phẩm Dệt may luôn thay đổi theo nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, sản
phẩm mang đậm tính thời trang nên ngành Dệt may chịu ảnh hưởng của tiến bộ
khoa học kỹ thuật.
Vốn đầu tư cho ngành Dệt may là không quá lớn,tỷ lệ lãi cao thời gian thu hồi vốn
nhanh nên thường ít chịu rủi ro, trong ngành Dệt may thì vốn đầu tư cho ngành dệt
thường chiếm một tỷ lệ lớn, khoảng 70% tổng vốn đầu tư cho phát triển ngành.
4.3.Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp
Dệt may
-Dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngành không những tạo công ăn việc làm , tạo thu nhập cho người lao động và còn
tạo cho tay nghề của người lao động không ngừng tăng lên.
-Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành tạo cho ngành mở rộng, tăng tiêu thụ sản
phẩm, tạo lợi nhuận cao, thu ngoại tệ về cho Doanh nghiệp ,cho ngành.
-không những vậy nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Dệt may thì người tiêu
dùng càng thích dùng sản phẩm của ngành hơn vì nó đã đáp ứng được nhu cầu tiêu
dùng của khách hàng,vì thế sẽ chiếm lĩnh được thị trường trong nước, thay thế
hàng nhập khẩu.
-Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành còn tạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế
vùng.
Chính vì những lí do ở trên mà nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành Dệt may
hiện nay là một nhu cầu hết sức thiết thực tạo điều kiện cho chúng ta hội nhập vào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status