Giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Từ hơn một thập kỷ nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hoá
trở thành một xu thế khách quan và diễn ra nhanh chóng, vừa tạo cơ hội cho các nền
kinh tế vừa tăng sức ép cạnh tranh. Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế
cơ bản của kinh tế thị trường, là công cụ để thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo dựng nên
những doanh nghiệp thành đạt đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc
tế.
Vì thế doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có khả năng cạnh tranh
cao. Đặc biệt đối với ngành sản xuất dệt may là ngành có tốc độ phát triển nhanh
chóng sản phẩm dệt may luôn chiếm tỷ trọng lớn và đứng vị trí thứ hai sau dầu thô
của nước ta, có khả năng thâm nhập không chỉ những thị trường quy định hạn ngạch
mà cả những thị trường không có hạn ngạch.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD, tăng thêm
30% so với năm 2002 là một mốc son mới của ngành dệt may, trong vòng 3 năm
kim ngạch xuất khẩu tăng gần hai lần.
Do có đặc điểm là không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử dụng
nhiều lao động, là ngành hầu hết các nước đang phát triển tham gia nên mức độ
cạnh tranh càng cao.
Từ năm 1995 đến nay, với những lợi thế so sánh về lao động, chi phí, hàng dệt may
Việt Nam đã từng bước chiếm lĩnh được thị trường quốc tế, trong đó có ba thị
trường lớn: thị trường EU, thị trường Nhật Bản và thị ttrường Mỹ. Nhưng chỉ còn
chưa đầy chín tháng nữa Hiệp định hàng dệt may trong khuôn khổ WTO sẽ được
thực hiện hoàn toàn. Thương mại thế giới bước vào giai đoạn mới - giai đoạn tự do
hoá thương mại hàng dệt may. Khi hàng dệt may thế giới( ATC) chấm dứt, chuyển
từ chế độ bảo hộ bằng hạn ngạch sang cạnh tranh thực sự giữa các nước xuất khẩu
dệt may trong tổ chức thương mại thế giới thì cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng gay
gắt. Hơn thế nữa sức cạnh tranh của phần lớn sản phẩm dệt may của Việt Nam còn
yếu cả về chất lượng và giá cả. Cánh cửa duy nhất đảm bảo thành công là nâng cao
sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam trên thị trường quốc tế vì đó là vấn đề
sống còn của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay.
Trang 1

các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia.
Khi xác định tính cạnh tranh của một doanh nghiệp hay của một ngành công
nghiệp chỉ cần xét đến tiềm năng sản xuất một hàng hoá hay dịch vụ ở một mức giá
ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến mà không phải có trợ cấp.
Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ sử dụng định
nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia như sau:
“Cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện thị trường
tự do và công bằng , có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi
hỏi của các thị trường quốc tế , đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế
của nhân dân nước đó”.
Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là:
“Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống
nghĩa là đạt được các tỉ lệ tăng trưởng kinh tế kinh tế cao được xác định bằng sự
thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội(GDP) trên đầu người theo thời gian”.
Trang 3
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của tổ chức Hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) đã chọn định nghĩa về cạnh tranh, cố gắng kết hợp các doanh
nghiệp , ngành và quốc gia như sau :
“ Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Định nghĩa trên phù hợp vì nó phản ánh khả năng cạnh tranh quốc gia nằm
trong mối liên hệ trực tiếp với hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp và lợi thế
cạnh tranh trở thành một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh tế .
2. Khả năng cạnh tranh là gì ?
Thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” được sử dụng rộng rãi trong các phương tiện
thông tin đại chúng, trong sách báo chuyên môn, trong giao tiếp hàng ngày của các
chuyên gia kinh tế, các nhà kinh doanh… Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một sự
nhất trí cao trong các học giả và giới chuyên môn về khái niệm khả năng cạnh tranh
ở cả cấp quốc gia lẫn cấp ngành, công ty, xí nghiệp. Lý do cơ bản là ở chỗ có nhiều
cách hiểu khác nhau về khả năng cạnh tranh.

của sản phẩm, dịch vụ.
3 . Khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó
trên thị trường .
Giữa ba cấp độ khả năng cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh tế có
khả năng cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh.
Ngựơc lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh, môi trường
kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô phải rõ ràng,
có thể dự báo được, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy nhà nước phải trong sạch,
hoạt động có hiệu quả, có tính chuyên nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp được đo thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện
qua chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Là tế bào của nền kinh tế , khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở cho khả năng cạnh tranh quốc gia.
Đồng thời khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng thể hiện qua khả
năng cạnh tranh của các sản phẩm mà doanh nghiệp đó kinh doanh. Doanh nghiệp
Trang 5
có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm có khả năng cạnh tranh. Khả năng cạnh
tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chính sách quốc gia, vào năng lực và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp.
III - Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của dệt may
Việt Nam
1. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành dệt may Việt
Nam
1.1. Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn
Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh của ngành dệt may là
cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh hiện tại và đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn.
M.Porter- Giáo sư trường kinh doanh Havard nói: cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ
nói chung cũng có hình thức như một cuộc đua ngựa để giật giải, sử dụng các chiến

Rõ ràng đối với ngành dệt may Việt Nam có quá nhiều đối thủ cạnh tranh nặng
ký. Điều này làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu thế giới rất gay
gắt và quyết liệt buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải đầu tư đúng mức về mọi
phương diện để trụ được một cách vững vàng trên thị trường thế giới.
12. Nhà cung ứng
Trong sản xuất dệt may , nguyên liệu đóng vai trò quan trọng và có ảnh
hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất. Ngành dệt may
Việt Nam sử dụng các nguyên liệu chính là: bông xơ, xơ sợi tổng hợp, len, đay ,tơ
tằm, xơ liber khác, các loại hoá chất cơ bản khác và thuốc nhuộm…trong đó quan
trọng nhất là bông xơ và xơ sợi tổng hợp.
Do không chủ động được nguồn nguyên liệu(80%% nguyên liệu sử dụng cho
ngành dệt may phải nhập từ nước ngoài)nên ngành dệt may Việt Nam phải chịu sức
ép nặng nề của việc tăng giá nguyên liệu trên thế giới. Mặt khác, nguồn nguyên liệu
phụ thuộc vào nhập khẩu mà không thống nhất ở một vài đơn vị có chức năng nhập
và do nhiều đầu mối, thậm chí không phải ngành dệt may vẫn đứng ra nhập và phân
phối theo nhiều loại giá khác nhau, làm cho biến động giá đầu vào khiến đầu ra
không ổn định.Hiện nay phần lớn nguyên liệu sử dụng cho ngành dệt may phải nhập
từ Trung Quốc. Ngoài ra còn nhập của một số nước như:Thái Lan,Australia,Hàn
Quốc,Pakistan…làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành dệt may, gây nên
tình trạng bị động trong điều hành sản xuất…
1.3. .Khách hàng
Trang 7
Thị trường được hiểu là những nhóm khách hàng. Quyền lực thương lượng của
nhóm khách hàng này xét về tổng thể là một trong những lực lượng cạnh tranh cơ
bản quyết định khả năng sinh lợi tiềm tàng của một ngành. Các khách hàng là khác
nhau, việc lựa chọn khách hàng là một yếu tố chiến lược.Sự lựa chọn khách hàng có
thể tác động mạnh đến tỉ lệ tăng trưởng của ngành và có thể giảm tới mức tối thiểu
quyền lực của khách hàng .
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang xuất khẩu vào hai khu vực : thị trường có
hạn ngạch và thị trường phi hạn ngạch.

động có kỹ năng thấp. Do vậy nguồn nhân lực tốt là một đảm bảo cho sự phát triển
lâu dài và bền vững. Các doanh nghiệp dệt may cần một đội ngũ lớn công nhân lành
nghề, cán bộ quản lý, kỹ sư thực hành, nhà thiết kế thời trang, thiết kế mẫu mã cho
đến giám đốc doanh nghiệp và cán bộ quản lý cấp cao để đảm bảo hoạt động có
hiệu quả, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may đặc biệt là
trên thị trường quốc tế.
2.3 .Tài chính
Tài chính của các doanh nghiệp có thể tạo lập điểm mạnh hay điểm yếu.
Thực vậy, khả năng tài chính có thể ảnh hưởng đến khả năng của doanh nghiệp đối
với việc xây dựng khả năng cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ mà yêu cầu cần có
những khoản đầu tư thích hợp. Khả năng tạo lập vị thế tài chính của một doanh
nghiệp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp lập kế hoạch cho sự phát triển của nó như
thế nào theo cách nhìn của ngân hàng và các nhà đầu tư. Đối với ngành sản xuất dệt
may, do có đặc điểm là không đòi hỏi vốn lớn, lại thu hồi vốn nhanh và sử dụng
nhiều lao động nên mức độ cạnh tranh của ngành này rất cao. Do vậy, doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải có nguồn lực về tài chính khá cao.
2.4 . Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng giúp cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả
và là môi trường trong đó tất cả các hoạt động tạo ra giá trị khác diễn ra. Trước hết,
cơ sở hạ tầng giúp cho doanh nghiệp có thể thúc đẩy, duy trì hiệu qủa trên phạm vi
doanh nghiệp và khuyến khích sự hợp tác giữa các bộ phận chức năng trong việc
theo đuổi mục tiêu hiệu quả.
Trang 9
Các doanh nghiệp cầnphát triển cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi cho
các bộ phận chức năng đạt được hiệu quả siêu ngạch, nâng cao khả năng cạnh tranh
cho các sản phẩm của doanh nghiệp .
Trang 10
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA HÀNG DỆT MAY
VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ

nghiệp mũi nhọn trong nền kinh tế, có những bước tiến vượt bậc trong lĩnh vực xuất
khẩu. Từ năm 1991 đến nay, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nước ta không
ngừng tăng. Năm 1991, tổng giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam chỉ đạt 158
triệu USD, đến năm 1998 đã gấp 9,18 lần, đạt 1450 triệu USD, tương đương với tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 43,5% tức khoảng 160 triệu USD/năm. Năm
2001 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 2 tỷ USD gấp 16,9 lần so với năm 1990
và chiếm tỷ trọng 13,25% trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu. Kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may năm 2003 đạt 3,6 tỷ USD, tăng thêm 30% so với năm 2002 là
một thắng lợi lớn của ngành dệt may. Nó không chỉ góp phần đưa kim ngạch xuất
khẩu nói nhung của cả nước tăng 20% mà còn tạo cơ sở vững chắc cho sự tăng
trưởng xuất khẩu trong những năm sau.
Hàng dệt may Việt Nam hiện đang xuất khẩu vào hai khu vực thị trường : thị
trường có hạn ngạch và thị trường phi hạn ngạch.Trong các thị trường xuất khẩu đó
thì ba thị trường quan trọng nhất là: thị trường Mỹ ,thị trường Eu và thị trường Nhật
Bản với tình hình xuất khẩu như sau:
1.Tình hình xuất khẩu sang thị trường Mỹ
1.1.Kim ngạch xuất khẩu
Hoa Kỳ là nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu hàng may mặc. Hàng năm
Hoa Kỳ nhập khẩu khoảng 50-60 tỷ USD hàng may mặc và dệt. Kim ngạch xuất
khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ tăng dần lên qua các năm,
từ 19,74 triệu USD năm 1994 lên tới 26,34 triệu USD năm 1998 và đạt 49,57 triệu
USD năm 2000. Năm 2002 con số này là 975 triệu USD và ước đạt 1,7 tỷ USD năm
2003.Tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu
sang Mỹ lại có xu hướng giảm dần. Nếu năm 1998 chiếm 8,4% sang Mỹ thì đến
năm 1999 là 5,8% và năm 2001 chỉ còn 4,4% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, trong
khi kim ngạch xuất khẩu tuyệt đối vẫn tăng.
Mỹ nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu là từ Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc,
Trung Quốc. Những nước này chiếm 1/2 khối lượng hàng dệt may Nhập khẩu vào
Trang 12
Mỹ. Hiện nay, Hiệp định thương mại đã có hiệu lực, mức thuế hàng may mặc giảm

Trang 13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status