Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NH Việt Nam sau khi gia nhập WTO - Pdf 71

Thực trạng năng lực cạnh tranh của hệ thống NH Việt Nam sau khi gia nhập
WTO
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP KINH
TẾ QUỐC TẾ CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
2.1.1 Quá trình hội nhập và đổi mới kinh tế của VN
Quá trình hội nhập này diễn ra ngay sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hoà ra đời(9/1945): Đảng ta đã chủ trương hội nhập kinh tế tranh thủ sự đồng tình
ủng hộ của nhân dân thế giới, của các tổ chức phi chính phủ và của các chính phủ
yêu chuộng hoà bình trên khắp thế giới. Đường lối đó vẫn tiếp tục được duy trì sau
hoà bình lập lại và cho đến ngày nay.
Tuy nhiên,từ sau Đại Hội Đảng VII , thì đường lối mở cửa và hội nhập ở
nước ta được đẩy mạnh hơn bao giờ hết.Có thể mô tả khái quát tiến trình hội nhập
ở nước ta theo các mốc thời gian như sau:
• Về quan hệ song phương
+ Với Trung Quốc: Hiệp định thương mại (7/1991), hiệp định hợp tác
kinh tế(2/1992), các hiệp định về hợp tác khoa học, kỹ thuật, đầu tư, du
lịch,vận tải,giải quyết vấn đề biên giới…
+ Với Nhật Bản: Đã ký nhiều hiệp định hợp tác song phương về kinh tế
thương mại, đầu tư, văn hoá, khoa học kỹ thuật…Đặc biệt mới đây đã ký
quyết định dành cho nhau mức thuế MFN trong buôn bán song phương.
+ Với Mỹ: Giải quyết xong vấn đề nợ cũ của chế độ Sài Gòn;ký hiệp
định bảo hộ bản quyền; ký hiệp định khung về bảo lãnh với NH xuất
nhập khẩu(Eximbank-1999); đàm phán và ký kết hiệp định thương mại
Việt-Mỹ dựa trên các nguyên tắc của WTO (14/7/2000 )
• Về quan hệ đa phương
+Nối lại quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính , tiền tệ quốc tế:Như
IMF, WB, ADB từ tháng 10/1993 sau gần 15 năm gián đoạn.
+ Quan hệ với Liên bang Châu Âu(EU); VN chính thức bình thường hoá
quan hệ ngoại giao với EU vào tháng 11/1990.
+ Thành viên ASEAN. AFTA: VN là thành viên chính thức của ASEAN
kể từ ngày 28/7/1995, với cam kết sẽ bắt đầu thi hành nghĩa vụ thành viên

chi nhánh,909 quỹ tín dụng cơ sở,4 NH liên doanh với nước ngoài, 28 chi nhánh
NH nước ngoài, 5 Công ty tài chính và 9 Công ty cho thuê tài chính; bảo hiểm tiền
gửi Việt Nam.
Bảng 2.1: Số lượng NH và mạng lưới hoạt động
Loại hình
30/9/200
NHTM Nhà nước NHTM CP Chi nhánh
NHNNg
NH liên doanh
số lượng
Mạng
lưới
số
lượng
Mạng
lưới
số
lượng
Mạng
lưới
số
lượng
Mạng
lưới
6 568 33 370 37 37 4 13
Ghi chú: Không tính chi nhánh cấp IV và phòng giao dịch
Các tư liệu thống kê trên đây cho thấy, thị trường trong lĩnh vực kinh doanh
ngân hàng ở VN hiện nay tương đối phát triển,bao gồm cả các NH trong nước và
NH nước ngoài.Với một hệ thống các NH như vậy sẽ tạo ra một sự cạnh tranh
ngày càng tăng đối với các NH.

có của vốn điều lệ, các quỹ dự trữ và một số tài sản nợ khác do NHNN quy
định; nhưng ở VN, NHNN không quy định thành phần tài sản nợ này, nên
thực chất vốn tự có là vốn chủ sở hữu

-Nhóm NHTM Nhà nước từ năm 2000 đến nay, vốn chủ sở hữu của các
NHTMNN đều tăng:
+ Mức tăng từ năm 2000 đến năm 2004 đã tăng gấp khoảng gần 3 lần.

+ Quy mô vốn chủ sở hữu bình quân một NH tăng đáng kể, gấp gần 3 lần.
+ Phương thức tăng vốn: Tăng do nguồn cấp phát của NN bằng trái phiếu
đặc biệt.Số cấp bổ sung này tổng số trên 10.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, năng lực vốn chủ sở hữu của nhóm NH này bộc lộ khá nhiều
hạn chế, làm giảm năng lực canh tranh. Cụ thể : quy mô vốn của một
NHTMNN còn quá nhỏ bé, không so sánh được với các NHTM nước ngoài
có chi nhánh ở VN. Triển vọng tăng vốn điều lệ của các NHTMNN là rất khó
ngoại trừ việc phải đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá các ngân hàng này.
- Nhóm NHTM cổ phần : Có thể nhận thấy thực trạng vốn chủ sở hữu của
nhóm NH này như sau:
+ Vốn chủ sở hữu liên tục tăng nhưng quy mô rất nhỏ bé
+ Các NHTM cổ phần tăng quy mô vốn bằng chính thực lực của mình và
còn nhiều khả năng tăng vốn.
+ Mặc dù có xu thế phát triển quy mô vốn chủ sở hữu nhưng trong giai
đoạn trước mắt, năng lực tài chính chưa thoát khỏi tình trạng khó khăn.
- Nhóm NH liên doanh: Theo đúng tính chất pháp lý thì ở VN hiện nay có
4 NH liên doanh. Đây là ngân hàng liên doanh giữa NH nước ngoài với
NHTM Việt Nam.Những NH có mức tăng vốn chủ sở hữu không lớn
lắm, trên thực tế vốn tăng chủ yếu là do trượt giá vốn chủ sở hữu bằng
ngoại tệ.Việc tăng vốn góp của NH liên doanh phụ thuộc vào khả năng tài
chính của các NH mẹ điều này về phía VN là không lớn.
- Nhóm chi nhánh NH nước ngoài: Nhóm NH này có năng lực tài chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status