Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của mỗi Quốc gia, mang trong
nó bản chất nhân văn sâu sắc, vì cuộc sống an lành hạnh phúc của mọi
người lao động. Chính sách bảo hiểm xã hội thể hiện trình độ văn minh,
tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi Quốc
gia. Việc tổ chức và thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội ( BHXH ) sẽ
là động lực to lớn phát huy tiềm năng sáng tạo của người lao động trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong hệ thống BHXH, chế độ hưu trí đóng một vai trò rất quan trọng.
Đây là chế độ bảo hiểm dài hạn, bảo hiểm tuổi già cho người tham gia. Nó
chiếm phần quan trọng nhất cả về qui mô thực hiện, nội dung chuyên môn
và nhu cầu tham gia của người lao động trong xã hội. ở hầu hết các Quốc
gia trên thế giới đều coi trọng chế độ này và coi đó là một trong lĩnh vực có
ảnh hưởng tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế, xã hội của đất nước.
Chính vì thế, nó luôn được quan tâm để làm sao cho việc tổ chức, quản lý,
thực hiện có hiệu quả nhất.
Ở Việt Nam, qua 40 năm thực hiện, chế độ hưu trí luôn có vị trí quan
trọng đặc biệt đối với người tham gia BHXH. Chế độ hưu cùng với các chế
độ BHXH khác đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của công
nhân viên chức, lực lượng vũ trang (CNVC, LLVT) và gia đình họ làm cho
họ yên tâm lao động sản xuât, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị
của đất nước trong thời kỳ vừa qua. Nhờ có chế độ hưu trí mà người lao
động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định đã
được nghỉ hưu và được nhận tiền hưu để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do
điều kiện lịch sử chế độ hưu trí thời kỳ bao cấp chưa thể hiện đúng bản chất
của mình mà thể hiện tính ưu đãi bao cấp của Nhà nước cho một bộ phận
dân cư là CNVC, LLVT. Nhưng trong thời kỳ đó chế độ hưu trí cũng đã
góp phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động. Đến nay,
khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường nhu cầu về BHXH đa dạng
ngày càng tăng, số lượng người về hưu cũng ngày càng tăng thì đời sống
mong được sự góp ý, xây dựng của thầy cô giáo và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội , ngày 27 tháng 5 năm 2002
Sinh viên : Ngô Hoàng Hưng
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 2
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
HƯU TRÍ
I - SỰ TẤT YẾU KHÁCH QUAN HÌNH THÀNH CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI
HƯU TRÍ
1 . Sự phát triển của bảo hiểm xã hội trên thế giới.
“ BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với
người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng
lao động , mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập
trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ , góp phần
đảm bảo an toàn xã hội ”.
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội đặc biệt là sự phát triển của lực lượng
sản xuất trên thế giới, BHXH ngày càng trở thành nhu cầu thường xuyên, tự
nguyện và chính đáng của người lao động. Ngay từ thế kỷ XVI những người
nông dân ở vùng Anper đã nhận thấy để trợ cấp cho trường hợp một số người bị
ốm đau hay tai nạn. Họ đã thành lập hội tương hỗ với cách thức mỗi người đều
trích ra một phần thu nhập để đóng góp chung vào một quỹ, phòng khi có ai bị
đau ốm hay tai nạn thì dùng quỹ đó để giúp đỡ. Hình thức sơ khai này được
BHXH phát triển dần nên, phạm vi được mở rộng ra để có thêm nhiều người
tham gia, mở thêm các loại trợ cấp bổ sung.
Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi được
hưởng với nghĩa vụ đóng góp. Tuy vậy BHXH chỉ thực sự trở thành một lĩnh
vực hoạt động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ XIX. Quá
trình đó gắn liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị
trường và thị trường sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động
nước bằng cách tạo ra thu nhập cho xã hội và cho cả chính họ nữa. Do đó đến
khi họ không còn khả năng lao động nữa thì họ phải được sự quan tâm ngược lại
từ phía xã hội. Đó chính là khoản tiền trợ cấp hưu trí hàng tháng phù hợp với số
phí BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao động. Nguồn trợ cấp này
tuy ít hơn so với lúc đang làm việc nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho
người về hưu ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo
cho họ có thêm điều kiện để cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu
trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã tích luỹ được nhằm xây dựng đất
nước ngày càng phồn vinh hơn.
Bảo hiểm hưu trí bảo đảm quyền lợi cho người lao động giúp họ tự bảo vệ
mình khi hết tuổi lao động, tự lo cho chính mình một cách hợp lý nhất nhờ vào
việc họ đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải vật chất cho xã hội
trước đó. Người lao động chỉ cần trích ra một tỷ lệ % tiền lương tương đối nhỏ
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 4
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
khi còn đang làm việc trong một thời gian nhất định. Đến khi hết tuổi lao động
phải nghỉ việc họ sẽ có được sự bảo đảm của xã hội làm giảm bớt phần nào khó
khăn về mặt tài chính do thu nhập thấp vì không còn lao động được nữa.
Như vậy bảo hiểm hưu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao được thực
hiện một cách thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nói cách khác, chế độ bảo hiểm hưu trí lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho
các thế hệ trước. Vì vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm
cho mọi người trong xã hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan
tâm sâu sắc giữa người với người trong xã hội .
3 . Vai trò của chế độ hưu trí trong hệ thống các chế độ BHXH
Trong một hệ thống BHXH thường bao gồm nhiều chế độ khác nhau. Số
lượng các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ
phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi
nước. Tuy nhiên, trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính
thể hiện đặc trưng những mục tiêu chủ yếu của hệ thống bảo hiểm xã hội. Một
quan trọng của chế độ hưu trí trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Hơn nữa, chế độ bảo hiểm hưu trí còn thể hiện được sự quan tâm chăm sóc của
Nhà nước, người sử dụng lao động đối với người lao động, và nó còn thể hiện
đạo lý của dân tộc đồng thời còn phản ánh trình độ văn minh của một chế độ xã
hội .
4. Tác dụng và đặc trưng của bảo hiểm hưu trí :
4.1 Tác dụng của bảo hiểm hưu trí :
Bảo hiểm hưu trí giúp đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ về hưu do
đó giúp cho xã hội ổn định và gắn bó. Ngày nay, tỷ lệ người già trong dân số
càng tăng do đó ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng. Mặt khác,
khi nghỉ hưu người lao động được sống thoải mái hơn và an nhàn hơn. Đối với
người có trình độ có khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm
cho thế hệ sau.
Người lao động trong quá trình lao động họ có được sự bảo đảm chắc chắn về
phần thu nhập khi họ nghỉ hưu, làm cho họ yên tâm chú ý, không lo nghĩ về điều
kiện sống khi nghỉ hưu do đó có thể làm việc với năng suất và chất lượng cao
hơn.
Giúp người lao động tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao
động để bảo đảm đời sống khi nghỉ hưu, giảm bớt phần nào gánh nặng cho người
thân, gia đình và xã hội .
4.2 Đặc trưng của chế độ bảo hiểm hưu trí :
Bảo hiểm hưu trí là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài qúa trình lao động.
Đặc trưng này thể hiện cả trong quá trình đóng và hưởng bảo hiểm hưu trí.
Người lao động tham gia đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài. Thời gian
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 6
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
đó liên tục đủ lớn theo quy định thì sẽ đủ một trong những điều kiện để được
hưởng bảo hiểm hưu trí. Khi đã đủ các điều kiện thì người lao động sẽ được
hưởng trợ cấp hưu trí trong khoảng thời gian tính từ lúc về hưu cho đến khi
người lao động chết. Quá trình hưởng này dài ngắn bao nhiêu tuỳ thuộc vào tuổi
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
1 . Điều kiện để hưởng bảo hiểm hưu trí.
Độ tuổi hưởng chế độ BHXH dài hạn nói chung và chế độ hưu trí nói riên
đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định chi phí của hệ thống chế độ.
Tuổi hưởng chế độ hưu trí có thể được ấn định theo một loạt các cân nhắc như:
- Khả năng làm việc tổng thể của người cao tuổi
- Vị thế của người cao tuổi trong thị trường lao động
- Khả năng kinh tế của chế độ hưu trí
Điều quan trọng là phải cân đối từ giác độ mức hưởng thoả mãn đóng và chi
phí liên quan đến tuổi thọ bình quân của người cao tuổi. Mặc khác, khi quy định
tuổi về hưu còn phải dựa vào quy luật sinh -lão - tử và điều kiện kinh tế xã hội
của mỗi nước.
Ngoài ra, tuổi nghỉ hưu còn được quy định hạ thấp so với độ tuổi bình quân đối
với những người làm những công việc trong điều kiện lao động và môi trường
nặng nhọc, nguy hiểm đã có ảnh hưởng nhất định làm suy giảm một phần khả
năng lao động so với bình thường hay những người có thể chất yếu không đủ sức
đảm đương công việc .
2 .Thời gian đóng bảo hiểm để được hưởng chế độ hưu trí
Thời gian đóng bảo hiểm hưu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảo
hiểm để được hưởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm
xác định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã hội nói chung và
phần đóng góp và BHXH nói riêng. Thời gian đóng BHXH là một trong những
căn cứ để đãi ngộ ( chi trả ) đối với người lao động như theo luật định nhằm bảo
đảm sự công bằng, bình đẳng giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội, thực
hiện một trong những nguyên tắc cơ bản của BHXH .
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH được dựa trên căn cứ: độ tuổi về
hưu, tỷ lệ đóng góp , tuổi thọ của những người về hưu, mức được hưởng... tóm
lại tuỳ thuộc vào khả năng tài chính về chế độ hưu trí nói riêng và BHXH nói
chung... Về nguyên tắc nếu xuất phát từ việc đóng BHXH để hình thành quỹ sử
dụng cho chế độ hưu trí thì phải tính đến tổng số thời gian đóng phí BHXH thực
việc tính toán và quản lý cho chế độ này, nhất là khi nó được mở rộng ra những
khu vực khác nhau mà người lao động ở đó có hình thức thu nhập không đồng
nhất như thu nhập bằng tiền. Tách riêng như vậy cũng tạo ra sự linh hoạt hơn
cho người tham gia chế độ này.
Tuy nhiên, nếu tách riêng như vậy cũng có nghĩa là các chế độ khác cũng
được tách riêng ra điều này làm cho hoạt động quản lý BHXH nói chung phải
phức tạp hơn. Còn trong trường hợp không xác định riêng mức thu phí cho từng
chế độ thì có thể công việc quản lý ít phức tạp hơn nhưng lại phức tạp khi phải
xác định phí đóng cho bảo hiểm khi áp dụng cho người lao động có các hình
thức thu nhập khác nhau.
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 9
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
4 . Mức hưởng hay tiền lương hưu
Mức hưởng là số tiền mà một người về hưu nhận được hàng tháng kể từ khi
nghỉ hưu. Hiện nay đang có những quan điểm khác nhau về mức hưởng. Về cơ
bản có hai quan điểmm chính. Quan điểm thứ nhất cho rằng tiền lương hưu là để
bảo đảm mức sống tối thiểu của người nghỉ hưu theo tiêu chuẩn sống của quốc
gia. Còn theo quan điểm thứ hai thì lại là tiền lương hưu phải có giá trị bảo đảm
cho người về hưu có mức sống cao, thậm chí trên mức trung bình của xã hội. Sự
khác nhau này tất nhiên sẽ dẫn đến mức đóng tương ứng trước khi được hưởng
cũng khác nhau.
Trong thực tế, khuynh hướng nào cũng có lý khi giải thích những nếu xét về
mức sống của người về hưu và đặt trong quan hệ với sự phát triển và ý nghĩa về
sự hấp dẫn của BHXH đối với người lao động thì khuynh hướng thứ hai có sức
thuyết phục hơn. Những dù là mức hưởng được xác định theo quan điểm nào thì
vẫn phải đảm bảo yêu cầu có tính nguyên tắc là tiền lương hưu phải thấp hơn
tiền lương khi làm việc.
Tiền lương được tính theo công thức sau: LH = T * L
Trong đó: LH : Tiền lương hưu được hưởng
T : Tỷ lệ % dùng để tính lương hưu
6 . Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động của chế độ hưu trí .
BHXH nói chung cũng như chế độ hưu trí nói riêng là những phạm trù kinh tế
tổng hợp, phản ánh rất nhiều mặt trong đời sống xã hội. Do vậy, việc hình thanh
hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả là hoàn toàn không đơn giản vì khó có
thể có được một hệ thống chỉ tiêu phản ánh đầy đủ tất cả các khía cạnh của lĩnh
vực này.
Tuy nhiên việc xây dựng các chỉ tiêu này thực sự cần thiết và đó là cơ sở cho
việc đánh giá trình độ phát triển và kết quả của BHXH trong đời sống xã hội.
Thông thường việc đánh giá kết quả hay hiệu quả của mỗi hoạt động nào đó
chúng ta phải so sánh với định hướng, mục tiêu đề ra. Tính hiệu quả do vậy phản
ánh trong mức độ đạt được so với các mục tiêu đặt ra đó
Trong BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng , mục tiêu cao nhất là đạt
được sự phát triển của ngành BHXH và bảo đảm đời sống người về hưi trên cơ
sở của tiền lương hưu trí ( còn gọi là thu nhập thay thế ) mà người lao động nhận
được từ quỹ bảo hiểm xã hội. Góp phần bảo đảm an sinh và ổn định xã hội. Các
chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng phải xoay quanh mục tiêu này. Trong chế độ hưu
trí, do tính phức tạp của chế độ này mà hệ thống các chỉ tiêu phải bao gồmất cả
các chỉ tiêu định tính và các chỉ tiêu định lượng
Theo quan điểm về hiệu quả như trên ta thấy có thể có ba nhóm chỉ tiêu hiệu
quả của hoạt động BHXH đó là :
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 11
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Nhóm 1: Các chỉ tiêu hiệu quả của hoạt động bảo hiểm hưu trí
Nhóm 2 : Các chỉ tiêu đánh giá về sự phát triển của bảo hiểm hưu trí
Nhóm 3 : Các chỉ tiêu đảm bảo lợi ích về kinh tế xã hội của người về hưu
Sau đây là sự xác định cụ thể trong từng nhóm chỉ tiêu
6.1. Các chỉ tiêu hiệu quả trong hoạt động của bảo hiểm hưu trí
BHXH tập trung vào ba hoạt động chính đó là thu BHXH, quản lý quỹ
BHXH và chi trả BHXH. Trong mỗi hoạt động đó có các chỉ tiêu cụ thể để đánh
giá mức độ hiệu quả cụ thể:
định, giúp duy trì các hoạt động bình thường và ngày cáng phát triển của chế độ
hưu trí
- Thu đúng thời gian :
Đó là thời gian mà các đơn vị và cá nhân phải đóng BHXH theo quy định của
pháp luật hiện hành. Nếu không thu đúng thời gian sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch
tài chính trực tiếp của chế độ hưu trí. Nhất là trong điều kiện chế độ hưu trí áp
dụng theo cơ chế thu của người đóng trả cho người hưởng. Còn trong chế độ hưu
trí theo cơ chế của đầu tư ứng trước thì thu kịp thời là một điều kiện quan trọng
để ổn định và phát triển quỹ hưu trí trong tương lai trên cơ sở các kế hoạch sử
dụng quỹ để đầu tư sinh lời .
Chi trả BHXH
Trong hoạt động chi trả, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cũng tập trung vào các
nội dung chủ yếu sau đây:
- Chi trả đúng đối tượng
Đảm bảo tiền hưu phải đến đúng người được hưởng.Đó phải là những người
hội đủ được điều kiện ràng buộc để được hưởng chế độ hưu trí. Điều này có liên
quan đến công tác quản lý đối tượng hưởng chế độ hưu trí. Khác với người lao
động khi tham gia đóng bảo hiểm xã hội, sự di chuyển hay thay đổi nơi ở của
từng người về hưu phụ thuộc vào khả năng và điều kiện sống mà họ lựa chọn.
Khi đó công tác quản lý phải có sự linh hoạt tốt để không chỉ quản lý tốt mà còn
được thực hiện chi trả thuận lợi đúng đối tượng được hưởng chế độ này.
- Chi trả đủ về số lượng
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 13
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu chi trả đủ về số lượng phản ánh về số tiền chi trả đủ cho mọi đối
tượng được hưởng hưu trí theo quy định. Đây là yêu cầu pháp lý, được luật định
thành các mức tiền hưu được hưởng. Chi trả đủ cho người về hưu phải được đảm
bảo trên cơ sở số tiền mà quỹ hưu trí có được dùn để thanh toán và sự an toàn
của số tiền này trong quá trình chi trả cho các đối tượng được hưởng chế độ hưu
trí
Mức và tỷ lệ tăng của quỹ hưu trí qua các thời ký là một trong những chỉ tiêu
quan trọng nhất trong quản lý quỹ bảo hiểm hưu trí hiện nay. Để bảo đảm cho
một tiềm lực tài chính ổn định và vững mạnh, quỹ hưu trí phải tăng lên không
ngừng. Sự tăng lên này chủ yếu từ hai nguồn là :
+ Tăng thêm số người tham gia vào chế độ hưu trí
+ Sử dụng quỹ hưu trí đầu tư vào các hoạt động mang lại lợi nhuận một
cách an toàn
Tốc độ tăng thực tế của quỹ hưu trí như vậy phải cao hơn tốc độ tăng của số
người tham gia vào chế độ hưu trí và tất nhiên phải tăng với tốc độ cao hơn tốc
độ tăng của chi trả cho chế độ này. Có như vậy mới tạo được sự vững chắc, ổn
định và phát triển không ngừng của chế độ hưu trí
- Khả năng cân đối thu chi của quỹ BHXH
Chỉ tiêu khả năng cân đối thu chi quỹ bảo hiểm hưu trí phản ánh độ an toàn
của quỹ hưu trí nói riêng và sự tồn tại chế độ hưu trí nói chung. Để bảo đảm
tránh những rủi ro, thì quỹ tiền hưu phải đủ đảm bảo chi trả các khoản chi của
chế độ này chủ yếu bao gồm chi tiền lương hưu cho người nghỉ hưu và chi cho
hoạt động quản lý. Đây là điều kiện cần thiết bất kể áp dụng phương pháp cụ thể
nào để tạo lập quỹ
Tổng thu và tổng chi trong biểu thức điều kiện trên được xác định và so sánh
tại một thời điểm tính toán. Tổng thu và tổng chi có thể được xác định khác nhau
tuỳ theo phương pháp tạo quỹ được áp dụng trong hệ thống hưu trí. Vì theo các
phương pháp khác nhau có thể cơ cấu thu và chi cũng sẽ khác nhau
6.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của chế độ hưu trí
Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí
Chỉ tiêu mở rộng phạm vi đối tượng tham gia chế độ bảo hiểm hưu trí được
tính qua tỷ lệ người lao động trong xã hội thực hiện vào chế độ hưu trí trong
tổng số lao động nói chung. Đây là chi tiêu phản ánh kết quả thực hiện mục tiêu
mở rộng phạm vi hoạt động của chế độ hưu trí. Trong điều kiện ở các nước có
nền kinh tế kém phát triển, số người tham gia vào chế độ hưu trí không nhiều thì
6.3. Các chỉ tiêu bảo đảm quyền lợi kinh tế và xã hội của người về hưu
Quyền lợi về kinh tế xã hội cho người về hưu phải được phản ánh trong thực
tế đời sống kinh tế xã hội . Có thể dùng các chỉ tiêu sau đây để đánh giá :
Mức bảo đảm các tiêu chuẩn sống của người về hưu
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 16
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh qua mức lương của người về hưu nhận được và mức
bảo đảm thực tế cho cuộc sống của người về hưu qua tiền hưu. Khi tính toán cụ
thể , mức bảo đảm của tiền lương hưu phải được tính đến các mặt như :
- Mức tiền lương : mức tiền lương phải bảo đảm đầy đủ duy trì cuộc sống của
người hưởng lương hưu. Ở đây vừa phải bảo đảm giá trị tiền lương danh nghĩa
vừa bảo đảm cả giá trị thực tế là sức mua của tiền lương. Nghĩa là khi có những
tác động làm mất giá trị của tiền lương hưu như tác động của lạm phát thì cần
phải được điều chỉnh kịp thời .
- Tiền lương hưu hợp lý:
Tiền lương hưu hợp lý muốn nói đến tương quan so sánh giữa lương hưa với
các loại lương khác trong xã hội. Về nguyên tắc thì tiền lương hưu không thể cao
hơn tiền của người về hưu khi đang còn làm việc, trừ trường hợp người về hưu
tham gia thêm hình thức bảo hiểm tuổi già khác ngoài các hình thức và chế độ
hưu trí thông thường. Nhưng tiền lương hưu không thể thấp hơn tiên lương tối
thiểu. Sự so sánh đó nhằm đánh giá tương quan về mức sống giữa những người
về hưu với các tầng lớp khác trong xã hội .
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu
Đảm bảo sự công bằng xã hội giữa những người nghỉ hưu phải được so sánh
đánh giá giữa đóng góp và hưởng thụ, theo nguyên tắc đóng nhiều hưởng nhiều,
đóng ít hưởng ít. Khác với các chế độ bảo hiểm ngắn hạn, điều này rất cần đối
với chế độ hưu trí vì việc đóng phí và hưởng trong chế độ hưu trí liên quan đến
những khoản tiền rất lớn trong thu và chi trả. Và có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc
sống của các đối tượng tham gia cả trong khi đóng và hưởng theo chế độ này. Sự
công bằng cũng có nghĩa tham gia chế độ hưu trí như nhau thì quyền lợi được
Độ tuổi
nghỉ hưu
OCDE Nước dang phát triển
Số nước % Số nước %
50 0 - 1 2,5
55 1 4,2 13 32,5
57 0 - 1 2,5
60 3 12,5 18 45
65 16 66,7 7 17,5
67 4 16,6 0 -
Tổng 24 100 40 100
( Nguồn: BHXH Việt Nam )
Ngoài ra các nước còn quy định hạ tuổi nghỉ hưu so với tuỏi nghỉ hưu bình
thường đối những người làm những ngành nghề công việc trong điều kiện lao
động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm...
Điều kiện về tuổi đời ở một số nước được thể hiện :
- Nhóm Tây Âu và Bắc Mỹ.
+ Mỹ, Canada : 65 tuổi ( chung cho cả hai giới ).
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 18
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
+ Anh : 65 tuổi (nam) và 60 tuổi (nữ).
+ Pháp : 60 tuổi ( tối đa là 65 tuổi).
+ Đức : 65 tuổi (nam) và 63 tuổi (nữ).
- Nhóm các nước Châu Á ( Ngoài ASEAN ).
+ Trung Quốc : 60 tuổi (nam) và 55 tuổi (nữ).
+ Nhật Bản : 60 tuổi(nam) và 55 tuổi (nữ)
+ Ấn độ : 55 tuổi(chung cho cả hai giới).
- Nhóm các nước ASEAN.
+ Indonesia: 55 tuổi (cho cả hai giới).
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
3 . Về mức trợ cấp hưu trí.
Có rất nhiều cách xác định mức trợ cấp hưu trí. Một số nước xác định mức
đồng đều, coi là mức tối thiểu thích hợp với mặt bằng chung của quốc gia. Nhiều
nước xác định mức trợ cấp theo thu nhập đã từng có của người lao động khi nghỉ
hưu. Một số nhóm nước khác kết hợp cả hai cách.
Trong phần trợ cấp có phần nền(cơ bản) là một mức đồng nhất cộng thêm
phần tỷ lệ thu nhập. Tuy nhiên xu hướng chung là trợ cấp theo mức thu nhập đã
từng có của người lao động trước khi nghỉ hưu, phù hợp với đa ssố trường hợp là
đóng góp BHXH theo thu nhập.
Mức trợ cấp hưu của một số nước:
- Mỹ : Mức trợ cấp hưu đồng nhất, tối đa là 11280USD/tháng, tính trên
thu nhập được bảo hiểm cho tới khi nghỉ hưu.
- Anh : 32,85 Bảng/tuần cộng 12% thu nhập được bảo hiểm trong nước.
- Pháp : 50% thu nhập bình quân trong vòng 10 năm cao nhất. Lương được
tính theo các lần thay đổi lương.
- Đức : 1,5% “lương ước tính” là tỷ lệ giữa thu nhập của người lao động so
với múc lương trung bình của cả nước nhân với “cơ sở tính toán
chung” hiện thời.
- Ba lan : 100% thu nhập bình quân của mức dưới 3000 ZLOTY một tháng
của 12 tháng gần nhất cộng với 55% của phần còn lại và tăng 4%
trợ cấp tính theo trợ cấp cơ bản cho mỗi năm công tác trên 20
năm.
- Trung quốc : 60 đến 90% thu nhập trong tháng cuối, phụ thuộc vào thời
gian công tác.
- Ấn độ: Trả một lần tương ứng với số đóng góp của chủ và thợ đã trả cộng
với 7,58 % lãi.
- Indonexia : Người nghỉ hưu được nhận một khoản trợ cấp một lần tương
đương với mức mà người sử dụng lao động và người lao động
đã đóng góp trong suốt quá trình tham gia BHXH, cộng với
- Trong tất cả nước, vai trò của nhà nước của chính phủ trong hệ thống hưu trí
là rất quan trọng. Nhà nước với tư cách là người đề ra định hướng cho sự hoạt
động hưu trí và là một sự bảo trợ rất quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của
hệ thống này. Đặc biệt là bảo trợ về tài chính ở các mức độ và hình thức khác
nhau .
- Xu hướng đa dạng hoá về tổ chức thực hiện, về nội dung và phương thức tiến
hành trong chế độ hưu trí là phổ biến. Mặc dù vai trò của nhà nước là rất quan
trọng như đã nêu ở trên nhưng tham gia hoạt động trong hệ thống hưu trí không
chỉ có các tổ chức của nhà nước, các tổ chức khác ngoài khu vực nhà nước cũng
có thể tham gia với điều kiện tuân thủ đúng những quy định trong luật BHXH và
hưu trí. Đây là một trong những điều kiện quan trọng nhất để mọi thành viên
trong xã hội có nhu cầu đều có thể tham gia vào chế độ hưu trí .
- BHXH cũng như bảo hiểm hưu trí là vấn đề của con người nói chung và đều
tuân thủ những nguyên tắc phổ biến của lĩnh vực này. Tuy nhiên mỗi nước có
những đặc trưng riêng về tình hình phát triển kinh tế xã hội, tình hình dân số và
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 21
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
lao động mà có những vận dụng cụ thể vào xây dựng cho mình một hệ thống hưu
trí phù hợp về nội dung và hình thức thực hiện. Các yếu tố quan trọng để xác lập
chế độ hưu trí ở các nước khác nhau cũng khác nhau chẳng hạn tuổi đời, mức
sống, mức đóng góp... Trong đó phải đảm bảo được lợi ích chính đáng của người
tham gia chế độ hưu trí và duy trì sự ổn định, đảm bảo cho hệ thống hưu trí phát
triển .
- Trong tất cả các nước, hệ thống hưu trí là cốt lõi của hệ thống BHXH nói
chung. Trong khi các hệ thống BHXH khác có thể thực hiện bởi các tổ chức bảo
hiểm khác nhau, (như bảo hiểm thương mại về con người ) thì bảo hiểm hưu trí
chỉ có thể được thực hiện trong hệ thống BHXH. Cải cách hệ thống BHXH chủ
yếu và thực chất là cải cách chế độ hưu trí.
- Hệ thống hưu trí theo phương pháp PAYGO (thu phí của người tham gia hiện
tại chi trả cho người đang hưởng chế độ ) đã từng được thực hiện trên hầu hết
tham gia BHXH . Chế độ hưu trí cũng là một phương tiện có thể ổn định được
phần nào đời sống người về hưu , đặc biệt trong số đó là hưu cô đơn không nơi
lương tựa hoặc những người đã có những đóng góp đặc biệt cho xã hội. Thực
hiện tốt chế độ hưu trí trong hệ thống BHXH sẽ góp phần nâng cao đời sống xã
hội giảm bớt khó khăn cho người về hưu cũng như khó khăn chung cho bộ phận
dân cư khác, nâng cao uy tín của BHXH và các chế độ khác. Có thể nói trong hệ
thống các chế độ BHXH, chế độ hưu trí là chế độ quan trọng hàng đầu. Nó đã,
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 23
Đại học kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
đang và sẽ là một chế độ BHXH có quy mô hoạt động to lớn về cả số lượng và
chất lượng.
Chính sách BHXH nói chung và chế độ hưu trí nói riêng khi áp dụng ở nước
ta đã có vai trò rất to lớn nhưng cũng bộc lộ một số nhược điểm qua các thời kỳ.
1. Giai đoạn trước năm 1995.
Điều lệ tạm thời về BHXH năm 1961
Ngay sau cách mạng tháng tám năm 1945 , nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, lúc đó là nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thực hiện các
chế độ BHXH cho công nhân viên chức. Điều đó được thể hiện qua việc ban
hành sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 thực hiện bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm tai
nạn lao động và bảo hiểm hưu trí .Cùng với sắc lệnh 29/SL, một số sắc lệnh khác
như sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 và sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950 cũng
được ban hành sau đó, nhằm thực hiện tốt hơn các chế độ cho người tham gia
bảo hiểm xã hội.
Các chế độ này được thực hiện đối với những người làm việc trong các cơ
quan của chính phủ và chính quyền các cấp trong thời kỳ kháng chiến chống
thực dân Pháp (1945-1954). Song các chế độ này vãn còn nhiều hạn chế , một
phần do thực hiện trong thời kỳ kháng chiến , điều kiện kinh tế còn khó khăn
thiếu thốn , tất cả mọi người chưa quan tam đến việc hưởng chế độ , ttất cả phải
lo cho tình hình kháng chiến .
Sau này khi hoà bình lập lại trên miền Bắc, các chế độ đó mới chỉ đáp ứng
tiên quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động được quy định cụ thể trong chế
độ hưu trí. Từ đây, bảo hiểm hưu trí được thống nhất và có đầy đủ tính pháp lý.
Điều lệ đã giải quyết được vấn đề tính toán thời gian của người lao động cho phù
hợp với tình hình thực tế. Từ đó đánh giá đúng mức đóng góp của người lao
động cho xã hội và đưa ra các mức lương tương ứng.
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số điểm tồn tại:
- Thời gian công tác nói chung là tất cả thời gian mà người công nhân viên
chức làm việc lấy lương hay sinh hoạt phí. Nếu thời gian công tác nói
chung đối với nam là 25 năm và với nữ là 20 năm mà không có thời gian
công tác liên tục trong 5 năm thì họ không được hưu trí trợ cấp hưu trí.
Như vậy thì rất thiệt thòi cho người lao động. Đối với lao động nữ khi đủ
5 năm công tác liên tục và có thời gian công tác nói chung nhiều hơn 25
năm nhưng họ cũng chỉ được hưởng 45% lương chính. Ngoài ra, do việc
quy đổi hệ số thời gian công tác lên đã dẫn đến tình trạng số người về hưu
có độ tuổi về hưu thực tế thấp hơn nhiều so với quy định. Thậm chí có
người số năm công tác quy đổi gần bằng tuổi đời.
- Điều lệ này vẫn còn nhiều hạn chế trong chính sách BHXH nói chung và
chế độ hưu trí nói riêng. Như trong quy định về thu chi thì điều lệ không
gắn thu với chi. Thu chi đều do quy ước không có quỹ BHXH riêng mà
chỉ có quỹ BHXH “ độc lập ” trong ngân sách. Trên thực tế khi bắt đầu
Ngô Hoàng Hưng – BH 40 A 25