Một số biện pháp hoàn thiện chế độ Bảo hiểm xã hội thai sản ở Việt Nam hiện nay - Pdf 23

Đề án môn học
LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới BHXH ra đời cách đây hàng trăm năm, chính sách này ra đời,
thực hiện và phát triển rất tốt ở một số nước: Đức, Anh , Pháp, Nhật Bản, Mỹ…
góp phần không nhỏ vào hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, BHXH ra đời ngay sau khi nước ta giành được độc lập,
BHXH hướng tới đối tượng là người lao động, người tạo ra của cải vật chất cho xã
hội, chính vì thế BHXH của mỗi quốc gia được thực hiện ngày càng hoàn thiện
hơn qua mỗi lần sửa đổi, bổ sung:
Nghị định số: 12/CP ngày 26 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ. Nội dung chủ
yếu: Điều lệ BHXH áp dụng đối với công chức, công nhân viên chức Nhà nước và
mọi người lao động theo loại hình Bảo hiểm xã hội bắt buộc để thực hiện thống
nhất trong cả nước.
Luật BHXH: Số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 với nội dung chủ yếu
là: chế độ, chính sách BHXH; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ
quan, của tổ chức, cá nhân tham gia BHXH: tổ chức BHXH; quỹ BHXH; thủ tục
thực hiện BHXH; và quản lý nhà nước về BHXH.
Nước ta đi lên Chủ nghĩa xã hội từ chế độ phong kiến, mặc dù đã qua một
thời gian dài nhưng chế độ phong kiến còn lại vẫn nặng nề, thêm vào đó Đảng và
Chính phủ đã đưa ra luật bình đẳng giới:
- Luật số 73/2006/QH11 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006 Luật bình đẳng giới
ra đời.
- Ngày 1/07/2007 luật bình đẳng giới chính thức có hiệu lực
Nhưng hiện tại ở Việt Nam việc thực hiện luật bình đẳng giới đối với người lao
động nữ vẫn còn nhiều hạn chế, do đó nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến người lao
động nữ.
Ngoài ra chế độ thai sản trong hệ thống các chế độ BHXH ra đời nhằm
góp phần thực hiện luật bình đẳng giới. Đây là một chế độ quan trọng của
nhà nước tuy nhiên, việc thực hiện chế độ thai sản ở nước ta vẫn còn nhiều
vướng mắc. Trước thực trạng trên em quyết định nghiên cứu đề tài :

một thời gian ngắn( đầu thế kỷ XIX) phát sinh mâu thuẫn giữa hai giới: Tiền công,
tiền lương; Giờ, thời gian làm việc; Cường độ làm việc; Đối xử tệ bạt khi công
nhân gặp ốm đau, bệnh tật, đặc biệt là đối với gia đình người lao động đông con
hoặc gặp hoàn cảnh khó khăn; Nơi ăn ở không có; Ngoài ra còn một số mâu thuẫn
đồng loạt phát sinh: mâu thuẫn giai tầng xã hội, mâu thuẫn mầu da, mâu thuẫn
chủng tộc…
Khi tất cả các mâu thuẫn đó phát sinh cũng là lúc xuất hiện đấu tranh đòi
quyền lợi, nhưng những cuộc đấu tranh này chỉ lẻ tẻ, tự phát, mang tính tức thời.
Bên cạnh các cuộc đấu tranh lẻ tẻ thì thợ đã biết tập hợp nhau lại để giúp đỡ lẫn
nhau lúc khó khăn, hoạn nạn và đã bắt đầu hình thành hội” tương hỗ”. Những hội
này lúc đầu chỉ được hình thành một cách tự phát nhưng hiệu quả về xã hội lớn
cho nên từ năm 1950 đến những năm cuối của thế kỷ 19, hội tương hỗ đã được
thành lập phổ biến ở Châu Âu.
Mặc dù các hội tương hỗ ra đời đóng vai trò hiệu quả giúp thợ khắc phục
khó khăn, bản thân giới thợ lúc đó cũng nhận thức được ba vấn đề:
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
3
Đề án môn học
+ Việc tương hỗ chỉ mang tính chất tức thời, không giải quyết triệt để.
+ Tiền bạc, vật phẩm hỗ trợ nhau vẫn là của bản thân giới thợ
+ Trong thời gian nghỉ việc do ốm đau, tai nạn, giới chủ không những không quan
tâm mà họ còn tìm cách sa thải để tuyên truyền những người khác.
Cuộc đấu tranh của công nhân trong thời gian này đã trở thành một
phong trào rộng lớn vì họ nhận thức được cần phải đấu tranh, khi phong trào lan
rộng hầu như ở những nước Châu Âu, buộc một số chính phủ một số nước phải
đứng ra thiệp và giải quyết mâu thuẫn này, chính phủ các nước can thiệp bằng
cách yêu cầu giới chủ: Tăng lương, giảm giờ làm, giảm cường độ lao động; Có
trách nhiệm đối với người lao động khi họ bị tai nạn, ốm đau; Yêu cầu giới thợ
không lãng công, biểu tình, đập phá máy móc để đảm bảo sản xuất ổn định; Yêu
cầu giới thợ phải làm việc theo nội quy của giới chủ và pháp luật của nhà nước.

người lao động gặp phải rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm.
+ Tạo ra một tâm lý ổn định, yên tâm làm việc để từ đó người lao động nâng cao
năng suất cá nhân của mình, nâng cao thu nhập của họ trong tương lai.
+ Thông qua BHXH góp phần đoàn kết những người lao động trong nội bộ các cơ
quan, doanh nghiệp, kích thích những người chưa tham gia BHXH hăng hái tham
gia.
Thứ hai, Đối với người sử dụng lao động, mặc dù phải dóng góp vào quỹ
BHXH một khoản tiền nhất định trích từ quỹ của mình nhưng xét về lâu dài quỹ
BHXH có vai trò rất lớn đối với người sử dụng lao động:
+Người lao động làm thuê cho mình sẽ phấn khởi hơn, gắn bó với cơ quan doanh
nghiệp mình hơn.
+ Nếu chính sách BHXH được thực hiện tốt sẽ góp phần thực hiện tốt đình công,
bãi công làm việc sản xuất diễn ra liên tục và ổn định.
+ Người sử dụng lao động không phải bỏ ra những khoản tiền lớn cùng một lúc
để giải quyết hậu quả của những vụ tai nạn mang tính tập thể.
+ Thông qua chính sách BHXH người lao động thể hiện được nghĩa vụ và trách
nhiệm của mình đối với người lao động và đối với xã hội, sự thể hiện này là công
khai, minh bạch và được pháp luật thừa nhận, làm cho người lao động tin tưởng
hơn vào giới chủ và đôi với nhà nước
Thứ ba, Đối với nền kinh tế:
+ Góp phần gắn bó giới chủ và giới thợ làm cho mối quan hệ trên thị trường lao
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
5
Đề án môn học
động phát triển bền vững và lành mạnh, đặc biệt là mâu thuẫn giữa chủ và thợ
được giải quyết và đây là tiền đề rất quan trọng giúp người lao động nâng cai năng
suất lao động phát huy sáng tạo làm sản xuất ngày càng phát triển.
+Nhờ có chính sách BHXH được hình thành và tồn tích theo thời gian. Bắt đầu từ
những năm 60 của thế kỷ XX, quỹ BHXH( đặc biệt là những nước phát triển đã
trở thành khâu tài chính trung gian cực kỳ quan trọng góp phần đầu tư, phát triển,

người với người, người với tự nhiên. Toàn bộ quan hệ đó hợp thành xã hội. Bởi
vậy phạm trù xã hội nhìn nhận góc độ cơ cấu kinh tế rất rộng và rất cơ bản. Từ bảo
hiểm cũng xuất phát từ quan hệ sản xuất mà ra: Cụ thể: với tư cách là thu nhập,
với tư cách là thu nhập, với tư cách là những thành phần giá trị rơi vào tay những
nhà tư bản và công nhân nhưng không được dùng hết mà phải tích lũy lại để lấp
đầy những lỗ hổng của quá trình tái sản xuất, do những yếu tố ngẫu nhiên chi phối,
vấn đề này còn ngay cả khi CNTB không còn tồn tại loài người vẫn phải làm. Hiện
tượng này C.Mac gọi là bảo hiểm cho loài người trước sự biến động của dữ dội
của tự nhiên tác động đến quan hệ giữa người với người và giữa những tầng lớp
người trong xã hội. Với ý nghĩa đó BHXH có hai phần:
+ Phần 1: BHXH cho những lỗ hổng cho những quá trình tái sản xuất
+ Phần 2: Bảo hiểm cho những lỗ hổng trong đời sống của loài người
Phân rõ 2 ngành BHXH và BHTM.
Với luận điểm của C.Mac đã liên hệ với thực tiễn hơn 100 năm đặc biệt là trong
thời kỳ CNTB phát triển đi đến kết luận quan trọng:
+Phải chăng thực hiện BHXH phải lấy từ những nhà tư bản, công nhân để hình
thành quỹ, dùng những quỹ này để lấp những lỗ hổng trong đời sống xã hội.
+ Muốn lấy được nguồn thu nhập của hai giới nhất quyết phải có nhà nước can
thiệp bởi vì cứ để hai giới ngồi bàn bạc về vấn đề này thì không có hồi kết
+ Nguồn quỹ để lấp đầy lỗ hổng mà các bên đóng góp ngày càng lớn vì nó được
tồn tích lại qua nhiều năm, nhiều thế hệ, cho nên phải được tổ chức quản lý chặt
chẽ.
+ Việc lấp lỗ hổng trong đời sống kinh tế xã hội phải được thực hiện theo một cơ
chế thống nhất, nếu không làm được như vậy những người tham gia những người
tham gia hình thành quỹ sẽ không tin tưởng và dẫn tới vỡ quỹ.
+ Nguồn quỹ này phải được sử dụng rõ ràng, minh bạch, mục đích chung cũng là
mục đích cơ bản nhất là góp phần ổn định cuộc sống cho gia đình và họ, ổn định
kinh doanh cho giới chủ.
Mặc dù những kết luận đã được rút ra như vậy nhưng thế nào là BHXH lại có rất
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48

luôn thấp hơn thu nhập của họ khi đang làm việc. Sở dĩ cơ chế này phải làm khi
phải được quán triệt khi làm chế độ chính sách BHXH vì kích người lao động
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
8
Đề án môn học
tham gia lao động sản xuất, tìm kiếm việc làm, khắc phục tình trạng ỷ lại hoặc
chuộc lợi BHXH.
Mục đích chính của BHXH là thỏa mãn nhu cầu thiết yếu của người lao
động và gia đình họ trong các trường hợp người lao động bị giảm thu nhập, mất
việc làm mục đích này được tổ chức quốc tế cụ thể hóa như sau: Đền bù cho người
lao động một khoản thu nhập bị mất đi để đảm bảo nhu sinh sống thiết yếu của họ;
Chăm sóc sức khỏe, chống lại bệnh tật; Xây dựng điều kiện sống đáp ứng đúng
yêu cầu của dân cư, nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em. Tất cả
những mục đích nói trên thế giới ngày nay đều thừa nhận và góp phần đảm bảo an
sinh xã hội cho từng nước và toàn thế giới.
3. Quỹ BHXH_Hạt nhân của tài chính BHXH
3.1. Quỹ BHXH và sử dụng quỹ BHXH
Sau khi xác định được rủi ro cũng như tổn thất mà người lao động tham gia
BHXH gặp phải, cơ quan BHXH sẽ tiến hành kiểm tra và lên kế hoạch chi trả cho
những trường hợp không may cũng như bị tổn hại về con người và kinh tế. Để làm
được điều này BHXH cần có một nguồn tài chính sẵn sàng đáp ứng nhu cầu đó
của người lao động đủ điều kiện hưởng BHXH. Nguồn tài chính này không những
phải đủ để chi trả cho người lao động mà còn đủ để trang trải các chi phí quản lý
bộ máy từ trung ương đến địa phương. Không những thế còn phải luôn đảm bảo
một nguồn dự trự đủ lớn để có thể ứng phó và xử lý những trường hợp đột xuất
ngoài ý muốn. Vì vậy quỹ BHXH là tập hợp những đóng góp bằng tiền của các
bên tham gia BHXH nhằm đảm bảo chi trả đầy đủ cho người lao động cũng như
duy trì hoạt động của cả bộ máy BH. Mục tiêu lâu dài của quỹ là đảm bảo chi trả
theo chính sách BHXH cho toàn bộ người lao động Việt Nam. Bảo toàn và phát
triển quỹ BHXH trong khuôn khổ pháp luật, đảm bảo cho sự tăng trưởng của quỹ

- Quỹ ra đời và phát triển gắn với mục đích đảm bảo ổn định cuộc sống cho
người lao động và gia đình họ khi gặp các biến cố, rủi ro làm giảm hoặc mất thu
nhập từ lao động. Hoạt động của quỹ không nhằm mục tiêu lợi nhuận. Vì vậy,
nguyên tắc quản lý quỹ BHXH là cân bằng thu - chi.
- Phân phối quỹ BHXH vừa mang tính chất hoàn trả vừa mang tính chất
không hoàn trả. Tính chất hoàn trả thể hiện ở chỗ: người lao động là đối tượng
tham gia và đóng góp BHXH đồng thời họ cũng là đối tượng được nhận trợ cấp ,
được chi trả từ quỹ BHXH cho dù chế độ, thời gian trợ cấp và mức trợ cấp của
mỗi người khác nhau, tùy thuộc vào những biến cố hoặc rủi ro mà họ gặp phải,
cũng như mức đóng góp và thời gian đóng góp BHXH của họ. Tính không hoàn
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
10
Đề án môn học
trả thể hiện ở chỗ: cùng tham gia và đóng góp BHXH nhưng có người được hưởng
trợ cấp nhiều lần và nhiều chế độ khác nhau, nhưng cũng có người được ít lần hơn,
thậm chí không được hưởng. Chính vì vậy, một số đối tượng được hưởng trợ cấp
nhiều hơn so với mức đóng góp của họ và ngược lại. Điều đó thể hiện tính chất xã
hội của toàn bộ hoạt động BHXH.
- Quá trình tích lũy để bảo tồn giá trị và bảo đảm an toàn về tài chính đối với
quỹ BHXH là một vấn đề mang tính nguyên tắc.
- Quỹ BHXH là hạt nhân, là nội dung vật chất của tài chính BHXH. Nó là
khâu tài chính trung gian cùng với ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp
hình thành nên hệ thống tài chính quốc gia. Tuy nhiên mỗi khâu tài chính được tạo
lập, sử dụng cho một mục đích riêng và gắn với một chủ thể nhất định, vì vậy
chúng luôn độc lập với nhau trong quản lý và sử dụng. Nhưng tài chính BHXH,
Ngân sách Nhà nước và tài chính doanh nghiệp lại có quan hệ chặt chẽ với nhau và
đều chịu sự chi phối của pháp luật.
- Sự ra đời, tồn tại và phát triển quỹ BHXH phụ thuộc vào trình độ phát triển
kinh tế - xã hội của từng quốc gia và điều kiện lịch sử trong từng thời kỳ nhất định
của đất nước.

sử dụng lao động so với
quỹ lương
CHLB Đức Bù thiếu 14,8 –18,8 16,3 – 22,6
CH Pháp Bù thiếu 11,82 19,68
Inđônêxia Bù thiếu 3,0 6,5
Philipin Bù thiếu 2,85 – 9,25 6,85 – 8,05
Malaixia Chi toàn bộ chế độ ốm
đau, thai sản.
9,5 12,75
(Nguồn : BHXH ở một số nước trên thế giới)
Mức đóng góp BHXH thực chất là phí BHXH. Phí BHXH là yếu tố quyết
định sự cân đối thu chi quỹ BHXH. Vì vậy, quỹ này phải được tính toán một cách
khoa học. Khi xác định phí BHXH phải đảm bảo các nguyên tắc: Cân bằng thu
chi, lấy số đông bù số ít và có dự phòng. Mức phí xác định phải được cân đối với
mức hưởng, với nhu cầu BHXH và điều chỉnh sao cho tối ưu nhất.
Phí BHXH xác định theo công thức:
P= f
1
+ f
2
+

f
3
Trong đó: P - Phí BHXH;
f
1
- Phí thuần túy trợ cấp BHXH;
f
2

những chế độ quan trọng và được thực hiện sớm nhất. Theo quy định của ILO một
quốc gia chỉ coi là có hệ thống BHXH chỉ khi có ít nhất một trong 3 chế độ là: Ốm
đau, thai sản, TNLĐ và BNN được thiết lập. Vai trò của nó thể hiện ở những điểm
sau:
Thứ nhất, Đối với người lao động:
+ Góp phần ổn định cuộc sống người lao động và gia đình khi họ trong thời gian
họ sinh đẻ, không thể tham gia lao động.
+ Góp phần ổn định tâm lý cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ khi họ có
nhu cầu có con, xin con nuôi, giúp họ có thời gian chăm sóc con cái bảo vệ sức
khỏe của cả mẹ và con, không lo lắng về chi phí sinh con khi không tham gia lao
động.
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
13
Đề án môn học
+ Thông qua chế độ thai sản, thể hiện sự quan tâm của những người lao động với
nhau, đặc biệt là lao động nam đối với lao động nữ vì thường chế độ này chỉ thể
hiện đối với lao động nữ.
Thứ hai, Đối với người sử dụng lao động:
+ Nếu chính sách thực hiện tốt góp phần thu hút lao động nữ vào các doanh
nghiệp, mà hiện nay lực lượng nữ tham gia lao động ngày càng lớn, có tay nghề và
trình độ ngày càng cao trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
+ Thông qua chính sách này người sử dụng lao động thể hiện trách nhiệm và nghĩa
vụ của mình đối với người lao động và đối với toàn xã hội, nếu thực hiện tốt chính
sách này sẽ thu hút được một lực lượng lớn lao động.
Thứ ba, Đối với nền kinh tế:
+ Nếu thực hiện tốt chế độ thai sản sẽ góp phần tái tạo lực lượng lao động lớn cho
nền kinh tế trong tương lai.
+ Góp phần dung hòa mối quan hệ người sử dụng lao động và người lao động giúp
cho việc sản xuất diễn ra liên tục giúp tăng trưởng nền kinh tế.
Thứ tư, Đối với xã hội:

và gia đình họ. Nhằm góp phần bảo vệ các bà mẹ và trẻ sơ sinh, các quốc gia trên
thế giới rất quan tâm đến chế độ thai sản, coi đây là một chương trình an sinh xã
hội quan trọng.
Chế độ trợ cấp thai sản có mục đích là bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập bị
mất cho lao động nữ khi thai nghén, sinh đẻ và nuôi con nhỏ( kể cả trường hợp
sinh con nuôi là trẻ sơ sinh). Sự hỗ trợ về tài chính này giúp họ nhanh chóng khôi
phục sức khỏe để tái hòa nhập vào quá trình hoạt động xã hội và yên tâm hơn
trong cuộc sống. Hơn nữa, mục đích của chế độ trợ cấp thai sản nhằm góp phần
thực hiện bình đẳng đối với tất cả mọi phụ nữ trong lực lượng lao động và an toàn
sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh, giúp lao động nữ thực hiện tốt quyền làm mẹ
của mình. Đồng thời, thực hiện công bằng về cơ hội và đối xử đối với lao động
nam và lao động nữ trong lao động. Điều 49, công ước số 102 nói về mục đích
của chế độ này là “nhằm bảo toàn, phục hồi hoặc cải thiện sức khỏe của phụ nữ
được bảo vệ, và khả năng làm việc, khả năng ứng phó với nhu cầu cá nhân của
họ”.
2.3. Đối tượng được hưởng trợ cấp chế độ thai sản
Diện bảo vệ của chế độ trợ cấp thai sản bao gồm mọi phụ nữ là lao động làm
công ăn lương với số lượng tham gia tối thiểu là 50% hoặc toàn bộ phụ nữ hoạt
động kinh tế thường trú trong nước với số lượng tham gia tối thiểu là 20%; hoặc
SV: Vương Thị Thịnh Lớp: BHXH K48
15

Trích đoạn Giải pháp thực hiện chế độ thai sản ở Việt Nam trong thời gian hiện nay.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status