LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên
cứu độc lập của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong Luận án là trung thực, có nguồn
gốc rõ ràng.
Tác giả Luận án
Nguyễn Trường Giang
i
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG
MẠI CỦA MỘT TỈNH BIÊN GIỚI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 10
1.1. Khái niệm và vai trò của phát triển thương mại đối với một tỉnh biên
giới trong bối cảnh hội nhập KTQT 10
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan đến phát triển thương mại của một tỉnh biên
giới 10
1.1.2. Một số cơ sở lý thuyết của phát triển thương mại và sự vận dụng vào phát
triển thương mại của một tỉnh biên giới 17
1.1.3. Vai trò của phát triển thương mại của một tỉnh biên giới trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế 23
1.2. Nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển thương mại của
một tỉnh biên giới 26
1.2.1. Nội dung chủ yếu của phát triển thương mại ở một tỉnh biên giới 26
1.2.2. Đặc thù và sự khác biệt giữa phát triển thương mại ở một tỉnh biên giới và
một tỉnh không có biên giới 33
3.1.2. Những thuận lợi, khó khăn và các cơ hội, thách thức đối với phát triển
thương mại tỉnh Lào Cai thời kỳ tới 112
3.2. Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển thương mại tỉnh Lào
Cai thời kỳ tới năm 2020 116
3.2.1. Quan điểm phát triển thương mại tỉnh Lào Cai 116
3.2.2. Mục tiêu phát triển thương mại tỉnh Lào Cai 117
3.2.3. Định hướng phát triển thương mại tỉnh Lào Cai thời kỳ tới năm 2020, tầm
nhìn 2030 118
3.3. Các giải pháp phát triển thương mại tỉnh Lào Cai 119
3.3.1. Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh119
3.3.2. Nhóm giải pháp về phát triển kết cấu hạ tầng thương mại 129
3.3.3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ngành thương mại của Tỉnh
135
3.3.4. Nhóm giải pháp khác 137
3.4. Một số kiến nghị 144
KẾT LUẬN 147
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 152
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
iii
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ACFTA ASEAN - China Free Trade
Area
Khu vực Thương mại tự do ASEAN
- Trung Quốc
ASEAN The Association of South
East Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BLHH Bán lẻ hàng hóa
CK Cửa khẩu
QLNN Quản lý Nhà nước
TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kỹ thuật trong thương mại
TDMNBB Trung du miền núi Bắc bộ
TM-CN Thương mại - Công nghiệp
TMBG Thương mại biên giới
TMĐT Thương mại điện tử
iv
TMQT Thương mại quốc tế
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TQ Trung Quốc
TT Thứ tự
TTHQĐT Thủ tục hải quan điện tử
TTTM Trung tâm thương mại
UBND Ủy ban nhân dân
USD United States Dollar Đô la Mỹ
WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại thế giới
XK Xuất khẩu
XNK Xuất, nhập khẩu
XTTM Xúc tiến thương mại
v
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, HÌNH
BẢNG
Bảng 1.1: Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh Vân Nam, TQ 48
Bảng 2.1: GDP và cơ cấu kinh tế của tỉnh Lào Cai 56
Bảng 2.2: Một số sản phẩm hàng hóa chủ yếu của tỉnh Lào Cai 58
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế tỉnh Lào Cai phân theo thành phần kinh tế 59
Bảng 2.4: Năng suất lao động tỉnh Lào Cai theo giá so sánh 1994 59
Bảng 2.5: Nguồn vốn đầu tư phát triển tỉnh Lào Cai phân theo khu vực kinh tế
60
Bảng 2.6: Lao động tỉnh Lào Cai phân theo ngành kinh tế 61
Hình 1.1: Xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia: Mô hình kim cương của
M. Porter 21
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài Luận án
Lào Cai là tỉnh miền núi, biên giới, nằm giữa Đông Bắc và Tây Bắc của Việt
Nam, tiếp giáp với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc (TQ) với gần 200 km đường biên
giới, được xác định là “cầu nối”, trung tâm thương mại (TTTM), có vai trò trung
chuyển hàng hóa trên tuyến hành lang kinh tế (HLKT) Côn Minh (TQ) - Lào Cai -
Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Lợi thế về địa - kinh tế đã tạo cho tỉnh Lào Cai
có một vị trí, vai trò rất lớn là “cửa ngõ” đối với vùng Trung du miền núi Bắc bộ
(TDMNBB) và cả nước trong hoạt động giao lưu ngoại thương và phát triển kinh tế
cửa khẩu (KTCK) gắn kết thị trường Việt Nam, các nước ASEAN với thị trường
khu vực Tây Nam rộng lớn của TQ. Lào Cai được các địa phương trong và ngoài
nước biết đến với những tiềm năng, lợi thế mà ít nơi có được, đó là nguồn tài
nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng; nguồn tài nguyên rừng, thủy năng dồi
dào… đang được khai thác phục vụ phát triển ngành công nghiệp cơ khí, luyện kim,
chế biến nông lâm sản, năng lượng; ngoài ra, Lào Cai còn có Cửa khẩu (CK) quốc
tế Lào Cai là “điểm đầu” của Việt Nam trên tuyến HLKT nói trên, khu du lịch Sa
Pa - một trong những trọng điểm du lịch của cả nước.
Tại Quyết định số 46/2008/QĐ-TTg ngày 31/3/2008 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai
đến năm 2020, đã xác định mục tiêu đến năm 2020 là xây dựng Lào Cai trở thành
tỉnh phát triển của vùng TDMNBB và là tỉnh khá của cả nước; thành phố Lào Cai
trở thành trung tâm kinh tế lớn, đô thị hiện đại, địa bàn quan trọng về hợp tác quốc
tế, giao lưu kinh tế của Vùng và cả nước với TQ và quốc tế [50].
Trong những năm đổi mới vừa qua, vai trò của thương mại đối với sự phát
triển kinh tế của cả nước và của từng địa phương đã được khẳng định. Trong bối
cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO), tham gia Khu vực Thương mại tự do ASEAN - TQ (ACFTA), tham
thời, ngành thương mại tỉnh Lào Cai cần được tăng cường phát triển, tạo những
điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp và du lịch, cung cấp
hàng tiêu dùng, thiết yếu phục vụ đời sống nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu,
vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn.
Từ cách tiếp cận và nhận định trên đây, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Giải pháp phát triển Thương mại của tỉnh Lào Cai trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế” cho Luận án tiến sĩ của mình.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước
2
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ thương
mại giữa Việt Nam với TQ nói chung cũng như với một số tỉnh biên giới của TQ
giáp với Việt Nam nói riêng, quan hệ hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh
tế” Việt Nam - TQ,… nhưng chưa có một công trình khoa học nào đi sâu nghiên
cứu trực diện, có tính hệ thống và toàn diện về phát triển thương mại của tỉnh Lào
Cai trong bối cảnh hội nhập KTQT. Ở một góc độ nhất định, liên quan đến vấn đề
này, có thể kể đến các công trình trong nước có liên quan như sau:
Luận án Phó Tiến sĩ kinh tế “Đổi mới hoạt động thương mại trong sự phát
triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc” của Nguyễn Văn Ý thực hiện tại
Trường Đại học Kinh tế quốc dân năm năm 1995. Trong đó, nghiên cứu đổi mới hoạt
động thương mại trong sự phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc,
nghiên cứu thương mại trên phương diện là một ngành, đồng thời, bối cảnh nghiên
cứu của Luận án là những năm 1990, trước thời kỳ hội nhập KTQT của Việt Nam.
Dự án “Điều chỉnh Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Lào Cai giai đoạn
2006-2010 và định hướng đến năm 2020” do Sở Công Thương tỉnh Lào Cai chủ trì
thực hiện năm 2008. Trong đó, đã đánh giá hiện trạng phát triển thương mại tỉnh
Lào Cai giai đoạn 2001-2005, quy hoạch phát triển thương mại Lào Cai cho giai
đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020; không đánh giá thực trạng phát triển
thương mại của Tỉnh giai đoạn từ năm 2006 đến nay, mới đề xuất được các giải
pháp phát triển thương mại của Tỉnh đến năm 2010.
Dự án “Quy hoạch phát triển KCHTTM tuyến HLKT Lào Cai - Hà Nội - Hải
sâu về QLNN đối với hoạt động XNK hàng hóa trên địa bàn các tỉnh biên giới phía
Bắc, chưa đề cập đến QLNN đối với hoạt động thương mại nói chung trên địa bàn
các tỉnh biên giới.
Đề tài khoa học cấp nhà nước “Quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với
Trung Quốc” do Viện Nghiên cứu Thương mại chủ trì thực hiện năm 2010.
Đề tài khoa học cấp Bộ “Chiến lược một trục hai cánh trong chính sách
hướng Nam của Trung Quốc, gợi ý một số đối sách với Việt Nam” do Trường Đại
học Ngoại Thương chủ trì thực hiện năm 2009.
Ngoài ra, còn có nhiều đề tài khoa học, cuốn sách, bài viết nghiên cứu đăng
trên các tạp chí, các bài tham luận tại hội thảo trong nước và quốc tế đề cập đến sự
phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh miền núi phía Bắc, hợp tác “Hai hành lang, một
vành đai kinh tế” Việt Nam - TQ, ACFTA, nghiên cứu mô hình Khu hợp tác kinh tế
biên giới Việt Nam - TQ,… với nhiều nội dung khác nhau.
Ở ngoài nước, trong một số năm gần đây, cũng có một số nhà khoa học,
chuyên gia nước ngoài quan tâm nghiên cứu về hợp tác kinh tế - thương mại Việt
4
Nam - TQ; hợp tác “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” Việt - Trung; mô
hình khu kinh tế biên giới Việt Nam - TQ nhưng cũng chưa thấy có công trình
nào đi sâu nghiên cứu về phát triển thương mại của tỉnh Lào Cai. Điển hình là
những công trình:
Chu Chấn Minh - Viện nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Khoa học Xã hội
Vân Nam - TQ có công trình nghiên cứu “Đáp ứng tình hình mới cần đẩy nhanh
tiến độ xây dựng dự án “Hai hành lang, một vành đai” (năm 2007).
Đổng Chí Vân - Phó trưởng phòng Phòng Nghiên cứu, Chính phủ nhân dân
tỉnh Vân Nam - TQ có công trình nghiên cứu “Tích cực thúc đẩy xây dựng Hai
hành lang, một vành đai Trung - Việt cùng tạo ưu thế trong hợp tác giữa Vân Nam
và Việt Nam” (năm 2007).
Lưu Kiến Văn, Viện Khoa học xã hội Quảng Tây – TQ có công trình
nghiên cứu “Nhanh chóng thúc đẩy tiến trình xây dựng Khu hợp tác kinh tế
xuyên quốc gia Trung - Việt” (năm 2007), phân tích ý nghĩa của việc xây dựng
- Về nội dung: Luận án tập trung luận giải cơ sở lý luận phát triển thương
mại hàng hóa của một tỉnh biên giới trong bối cảnh hội nhập KTQT; đánh giá thực
trạng phát triển thương mại hàng hóa của tỉnh Lào Cai từ năm 2001 đến nay và đề
xuất các giải pháp có tính đồng bộ nhằm phát triển thương mại hàng hóa tỉnh Lào
Cai thời kỳ đến năm 2020 trên cơ sở khai thác các lợi thế phát triển thương mại của
tỉnh biên giới và góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội của một tỉnh
miền núi biên giới, tập trung nghiên cứu phát triển thương mại ở các khu vực như
CK, lối mở biên giới và khu vực khác còn nhiều khó khăn. Trong đó, nghiên cứu
phát triển thương mại tỉnh Lào Cai được tập trung vào thương mại nội địa, XNK
hàng hóa và một số dịch vụ thương mại có lợi thế của Tỉnh, trọng tâm là TMBG.
Xây dựng các giải pháp phát triển thương mại hàng hóa của tỉnh Lào Cai thời kỳ tới
năm 2020. Luận án không nghiên cứu cơ sở khoa học về phát triển thương mại dịch
vụ của tỉnh Lào Cai mà tập trung nghiên cứu phát triển thương mại hàng hóa của
tỉnh Lào Cai trong mối quan hệ liên ngành (phát triển thương mại hàng hóa trong
mối quan hệ với phát triển công nghiệp, nông lâm nghiệp, thương mại dịch vụ, nhất
là dịch vụ du lịch…), liên vùng, liên quốc gia (với cả nước, với các tỉnh TDMNBB,
với các tỉnh biên giới Việt - Trung, với các nước trong GMS) trong bối cảnh hội
nhập KTQT.
- Về không gian: Nghiên cứu phát triển thương mại tỉnh Lào Cai trong mối
quan hệ về thương mại biên mậu với TQ, với hoạt động thương mại tỉnh Vân Nam -
TQ, với hoạt động thương mại các tỉnh trong vùng TDMNBB và với cả nước, với
khai thác các lợi thế phát triển của HLKT Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải
6
Phòng - Quảng Ninh, với khai thác các tiềm năng phát triển kinh tế - thương mại
của GMS.
- Về thời gian: Đánh giá thực trạng phát triển thương mại tỉnh Lào Cai từ
năm 2001 đến nay và đề xuất các giải pháp phát triển đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Căn cứ vào đối
tỉnh giáp biên giới của nước bạn, với các tỉnh thuộc HLKT, với các nước trong
GMS), gồm: phát triển thương mại nội địa, phát triển XNK và phát triển các dịch vụ
thương mại. Chỉ ra một số điểm đặc thù và sự khác biệt cơ bản trong phát triển
thương mại của một tỉnh có biên giới với tỉnh không có biên giới: Lợi thế so sánh về
đường biên giới, gần kề thị trường nước ngoài, hàng hóa XNK được giao ngay tại
biên giới, được áp dụng các quy định ngoại lệ của WTO về thương mại qua biên giới.
+ Luận án đã xác định ba tiêu chí để đánh giá sự phát triển thương mại của
một tỉnh biên giới trong bối cảnh hội nhập KTQT, mỗi tiêu chí có các chỉ tiêu đánh
giá định lượng cụ thể, gồm: Nhóm tiêu chí về quy mô và tốc độ tăng trưởng (như
tổng mức BLHH, tổng kim ngạch XNK của tỉnh, ), nhóm tiêu chí về chất lượng
tăng trưởng và trình độ phát triển (như chất lượng tăng trưởng thương mại của tỉnh,
cơ cấu thương mại, năng suất lao động (NSLĐ) thương mại, ) và nhóm tiêu chí về
điều kiện đảm bảo cho thương mại phát triển bền vững (như sự phát triển thị trường
tiêu thụ hàng hóa của tỉnh, sự đồng bộ và hiện đại hóa của hệ thống KCHTTM, số
lượng và cấp độ CK, ).
+ Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển thương mại của 2 tỉnh biên giới (Vân
Nam - TQ và Lạng Sơn - Việt Nam), Luận án rút ra năm bài học có thể áp dụng cho
Lào Cai, đó là: Lào Cai cần phải lựa chọn được mô hình phát triển thương mại phù
hợp với tiềm năng, lợi thế của Tỉnh; kết hợp phát triển thị trường trong nước và thị
trường ngoài nước; nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa sản xuất trong nước;
quan tâm đến mối quan hệ giữa phát triển thương mại và du lịch; và tạo ra tính liên
vùng, liên khu vực trong phát triển thương mại.
- Về thực tiễn:
+ Luận án đã đánh giá một cách toàn diện thực trạng phát triển thương mại
hàng hóa của tỉnh Lào Cai từ năm 2001 đến nay theo các tiêu chí và chỉ tiêu đã xây
dựng, có sự so sánh, đối sánh với tỉnh Lạng Sơn (có biên giới) và tỉnh Yên Bái
(không có biên giới). Qua đó, rút ra bốn thành tựu: Quy mô thương mại nội Tỉnh
ngày càng mở rộng, đúng định hướng của Tỉnh; bước đầu xây dựng được một số
KCHTTM có tính hiện đại; ngoại thương phát triển nhanh, trở thành động lực thúc
đẩy các ngành kinh tế của Tỉnh phát triển; môi trường kinh doanh thuận lợi, thông
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI CỦA
MỘT TỈNH BIÊN GIỚI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. Khái niệm và vai trò của phát triển thương mại đối với một tỉnh biên giới
trong bối cảnh hội nhập KTQT
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan đến phát triển thương mại của một tỉnh
biên giới
1.1.1.1. Khái niệm thương mại, hoạt động thương mại, hoạt động thương mại biên giới
a. Khái niệm thương mại
Về mặt học thuật, Thương mại (Tiếng Anh là Trade hoặc Commerce; tiếng
Pháp là Commerce; tiếng La tinh là Commercium) đều được hiểu là mua bán, trao
đổi hàng hóa, hoạt động kinh doanh.
Theo nghĩa hẹp, thương mại là quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị
trường, là lĩnh vực phân phối và lưu thông hàng hóa. Nếu hoạt động trao đổi hàng
hóa vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì người ta gọi đó là ngoại thương (kinh doanh
quốc tế).
Trên thực tế, thương mại có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau: Theo phạm vi hoạt động, có thương mại nội địa (nội thương), thương mại
quốc tế (ngoại thương), thương mại khu vực, thương mại thành phố, nông thôn,
thương mại nội bộ ngành… Theo đặc điểm và tính chất của sản phẩm trong quá
trình tái sản xuất xã hội, có thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại
tư liệu sản xuất, thương mại hàng tiêu dùng Theo các khâu của quá trình lưu
thông, có thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ. Theo mức độ can thiệp của Nhà
nước vào quá trình thương mại, có thương mại tự do (hay mậu dịch tự do) và
thương mại có sự bảo hộ (hay bảo hộ mậu dịch). Theo kỹ thuật giao dịch, có thương
mại truyền thống và thương mại điện tử (TMĐT), hay thương mại có giấy tờ và
thương mại không có giấy tờ.
Theo Ủy ban Liên Hợp Quốc về Luật Thương mại quốc tế (UNCITRAL),
thuật ngữ “Thương mại” được hiểu theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề nảy sinh
ra từ mối quan hệ mang tính chất thương mại, dù có hay không có hợp đồng. Các
cả các đơn vị cơ sở (establishment) cùng một loại hoạt động sản xuất. Theo Bảng
phân ngành của hoạt động của Liên Hợp Quốc ISIC
3
, thương mại hàng hóa được
gọi là ngành dịch vụ bán buôn, bán lẻ và dịch vụ sửa chữa nhỏ, là một trong 17
ngành cấp I; tương tự như vậy, theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày
23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và
Quyết định số 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư
về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam thì
thương mại hàng hóa cũng chính là ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe
máy và xe có động cơ khác, là một trong 21 ngành cấp I.
11
b. Khái niệm hoạt động thương mại
Hoạt động thương mại mang bản chất của hoạt động dịch vụ, diễn ra trên
không gian thị trường cụ thể và thời gian xác định. Xét theo ý nghĩa đó và dựa theo
hệ thống phân loại sản phẩm (Central Products Classification - CPC) của Liên Hợp
Quốc, WTO đã phân định hoạt động thương mại hàng hóa trên thị trường các nước
thành viên là hoạt động dịch vụ phân phối. Theo phân loại các ngành dịch vụ của
WTO, ngành dịch vụ phân phối gồm 4 phân ngành: dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán
lẻ, đại lý hoa hồng và nhượng quyền thương mại; trong đó, bán buôn và bán lẻ là
hoạt động dịch vụ chính trong ngành dịch vụ phân phối.
Luật Thương mại (năm 2005) của Việt Nam quan niệm: “Hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lời, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, XTTM và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” [40]. Cụ thể,
hoạt động thương mại gồm các nhóm sau:
1) Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ
giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên
mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và chuyển quyền sở hữu hàng
hóa theo thỏa thuận.
Các hình thức mua bán hàng hóa bao gồm:
triển và ứng dụng rộng rãi TMĐT ở nhiều nước. TMĐT đã góp phần thu hẹp
khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng, giữa người bán và người mua,
giữa các công ty, các quốc gia trong hoạt động XNK, rút ngắn đáng kể thời gian
giao dịch và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại. Theo WTO: “TMĐT là hoạt
động sản xuất, quảng cáo, tiêu thụ và phân phối sản phẩm thông qua các mạng
viễn thông” [35]. Hoạt động kinh doanh TMĐT chính là việc ứng dụng công nghệ
(chủ yếu là công nghệ thông tin) để tự động hóa các giao dịch kinh doanh và các
kênh thông tin về kinh doanh. Tuy nhiên, cũng như internet, TMĐT cũng có thể bị
mất an toàn và bị tổn thất do bị phá hoại và bị trục trặc kỹ thuật, nên vấn đề an toàn
khi tiến hành TMĐT cần được quan tâm hàng đầu. Trong công cuộc đổi mới hiện
nay, TMĐT sẽ giúp nước ta có thêm khả năng hội nhập và hợp tác KTQT. Hơn nữa,
sự phát triển nhanh công nghệ thông tin và Internet ở nước ta thời gian qua cho
phép chúng ta từng bước phát triển và ứng dụng rộng rãi hình thức kinh doanh
thương mại (KDTM) hiện đại này
c. Khái niệm hoạt động thương mại biên giới
Hoạt động TMBG là sự lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ qua biên giới đất
liền trong phạm vi vùng biên giới hoặc gia tăng giá trị dịch vụ vùng biên giới giữa
các nước láng giềng. Hay hoạt động TMBG có thể được hiểu là các hoạt động buôn
bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ ở khu vực biên giới giữa các nước láng giềng, là
hình thái mở đầu của hoạt động TMQT, là bộ phận quan trọng trong hoạt động
ngoại thương của mỗi nước.
13
Theo nghĩa rộng, hoạt động TMBG giữa hai nước láng giềng không chỉ đơn
thuần là hoạt động buôn bán tại các CK biên giới mà nó có phạm vi rộng hơn, bao
trùm các hoạt động XNK hàng hóa và dịch vụ được diễn ra trên toàn bộ khu vực
biên giới của hai nước, bao gồm cả thương mại chính ngạch, thương mại tiểu ngạch
và hoạt động mua bán của cư dân hai nước dọc biên giới.
Hoạt động TMBG, trước hết là một hoạt động TMQT, vì vậy, nó mang đầy
đủ các hoạt động chung của hoạt động TMQT. Ngoài ra, hoạt động TMBG còn có
đặc điểm riêng của hoạt động thương mại tại khu vực biên giới.
theo thỏa thuận giữa các nước có chung biên giới hoặc những ưu đãi thuận lợi do
một nước có chung biên giới đơn phương áp dụng; 2) Hoạt động mua, bán, trao đổi
hàng hóa tại chợ biên giới, chợ CK, chợ trong khu KTCK; và 3) Hoạt động mua,
bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên giới.
- Hoạt động dịch vụ hỗ trợ tại khu vực biên giới, gồm:
+ Các dịch vụ công: Xuất nhập cảnh người và phương tiện, kê khai hải quan,
kiểm dịch, cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) và các chứng nhận tiêu chuẩn XK khác.
+ Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao năng lực giao nhận vận chuyển hàng hóa qua
biên giới (logistics): kho vận, kiểm tra, gia công, đóng gói, phân phối…nhằm liên
kết giữa các nhà sản xuất và các nhà XNK.
+ Các dịch vụ hỗ trợ nâng cao khả năng tiếp cận và thâm nhập thị trường:
nghiên cứu thị trường, tư vấn, môi giới, đại lý mua bán, ủy thác XNK, chuyển khẩu,
quảng cáo, hội chợ…
+ Các dịch vụ lao động tại khu vực biên giới: phiên dịch, bốc dỡ, vận chuyển
vệ sinh, bảo vệ…
+ Các dịch vụ về tài chính, tiền tệ: đổi tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thanh
toán…
+ Các dịch vụ điện, nước, xử lý chất thải và đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi
trường sinh thái khu vực biên giới.
- Hoạt động cung cấp dịch vụ qua biên giới, gồm: Dịch vụ bưu chính viễn
thông, điện thoại, internet…; dịch vụ ăn uống, nghỉ ngơi…; dịch vụ văn hóa, thể
thao, vui chơi, giải trí…; dịch vụ chăm sóc y tế, làm đẹp, cắt tóc, sửa chữa…; và
dịch vụ tổ chức nghi lễ (hiếu, hỉ và các sự kiện liên quan đến gia đình).
1.1.1.2. Khái niệm phát triển thương mại, phát triển thương mại của một tỉnh biên giới
a. Khái niệm phát triển thương mại
Theo quan niệm chung nhất, phát triển là sự tăng thêm về quy mô, gia tăng
tốc độ và nâng cao chất lượng. Phát triển cũng được hiểu theo nội dung và nội hàm
của phát triển bền vững.
Phát triển thương mại là sự không ngừng mở rộng về quy mô, đồng bộ và
hoàn thiện về cơ cấu, gia tăng nhịp độ và chất lượng tăng trưởng thương mại và tạo
Tỉnh biên giới là một đơn vị hành chính địa phương trực thuộc Trung ương,
gồm thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, huyện; trong địa giới hành chính của tỉnh có
đường biên giới quốc gia với các nước láng giềng.
Phát triển thương mại của một tỉnh biên giới là một khái niệm tập hợp, gồm
nội hàm đầy đủ về phát triển thương mại của một địa phương cấp tỉnh và gồm cả
16
nội hàm của TMBG trên địa bàn tỉnh (hoạt động thương mại qua biên giới). Đó là
quá trình không ngừng mở rộng quy mô, nâng cấp trình độ và chuyển dịch cơ cấu
thương mại của một tỉnh biên giới theo cả chiều rộng và chiều sâu, nâng cao chất
lượng, hiệu quả các hoạt động trao đổi, mua bán sản phẩm, hàng hóa trên địa bàn
nội tỉnh, giữa tỉnh biên giới với các địa phương khác trong cả nước và với nước
ngoài; đồng thời gia tăng các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa của cư dân biên
giới, hoạt động XNK hàng hóa qua biên giới và hoạt động buôn bán tại chợ biên
giới, chợ CK, chợ trong khu KTCK phù hợp với mục tiêu, định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của một tỉnh biên giới trong từng thời kỳ.
1.1.2. Một số cơ sở lý thuyết của phát triển thương mại và sự vận dụng vào phát
triển thương mại của một tỉnh biên giới
1.1.2.1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith
Adam Smith (1723-1790) căn cứ vào thực tiễn phát triển KTQT thời kỳ cách
mạng công nghiệp bắt đầu bùng nổ và lan rộng để phê phán lý thuyết trọng thương,
đồng thời ông đưa ra những luận điểm mới của mình nhằm giải thích nguồn gốc,
bản chất và lợi ích của TMQT. Ông cho rằng sự giàu có của một quốc gia không
phải chỉ được đo lường bằng số lượng vàng tích trữ được, mà chủ yếu là do lượng
giá trị hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra. Trong tác phẩm “Sự giàu có của các
quốc gia”, xuất bản năm 1776, Adam Smith đưa ra nhận định: “Sự giàu có của mỗi
quốc gia đạt được không phải do những quy định chặt chẽ của chính quyền mang
lại mà là nhờ vào tự do kinh doanh. Một nền thương mại không bị can thiệp sẽ
mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia”.
Khi giải thích hiện tượng TMQT, Adam Smith cho rằng buôn bán ngoại
thương muốn bền vững phải mang tính chất bình đẳng và mang lại lợi ích cho cả hai
thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
1.1.2.2. Quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo
David Ricardo (1772-1823) khi nghiên cứu về TMQT đã nhận thấy những
hạn chế trong lý thuyết của Adam Smith và phát triển lý thuyết lợi thế so sánh
(Comperatitive advantage) hay còn gọi là quy luật lợi thế so sánh.
Quy luật lợi thế so sánh được D. Ricardo trình bày trong tác phẩm “Những
nguyên lý Kinh tế Chính trị và Thuế”, xuất bản năm 1817. Theo đó, trong quan hệ
TMQT không nên đặt ra vấn đề lợi ích của hai bên bằng nhau, hiếm khi xảy ra, mà
căn bản là hai bên cùng có lợi hơn so với trường hợp không có trao đổi TMQT.
Để đơn giản hóa vấn đề và thuận tiện cho việc trình bày quy luật, D. Ricardo
đưa ra một số giả thiết rằng, trong trường hợp: mô hình trao đổi TMQT chỉ có 2
quốc gia và 2 loại sản phẩm; thương mại tự do; thị trường cạnh tranh hoàn hảo; lao
động di chuyển tự do trong một quốc gia, nhưng không di chuyển trên phạm vi quốc
tế; không tính chi phí chuyên chở; kỹ thuật giữa các quốc gia giống nhau; lý thuyết
tính giá trị bằng lao động.
18