TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam - Pdf 26

MỞ ĐẦU
1
1. Lý do chọn đề tài
Cùng với nhân loại, Việt Nam đang bước vào những năm đầu của
thế kỷ XXI - thế kỷ của nền văn minh hậu công nghiệp. Xu thế chung
của thế giới hiện nay là chuyển từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào tài
nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế dựa trên sức mạnh tri thức. Và
trong bối cảnh đó, con người ngày càng khẳng định vai trò quan trọng,
quyết định của mình.
Phát triển nguồn nhân lực có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mọi
quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Đặc biệt, trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa của nước ta hiện nay thì vấn đề phát triển
nguồn nhân lực càng trở nên quan trọng và cấp thiết.
Là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Hà Nam có một vị trí
thuận lợi để phát triển kinh tế. Là cửa ngõ thủ đô, có quốc lộ 1A và
đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình (con đường huyết mạch Bắc Nam)
chạy qua, đây là những điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế.
Trước đây, Hà Nam là một tỉnh thuần nông, thu nhập của người dân
chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp. Do đó, để phát triển kinh tế, nâng cao
đời sống cho nhân dân toàn tỉnh thì phải tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa. Cùng với sự phát triển của đất nước, Đảng bộ và nhân dân
tỉnh Hà Nam đang cố gắng từng bước đưa nền kinh tế của tỉnh đi lên
bằng con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, Hà Nam là
một trong những tỉnh trọng điểm phát triển công nghiệp của cả nước
với rất nhiều các khu công nghiệp lớn như: khu công nghiệp Đồng Văn
I và II, khu công nghiệp Châu Sơn… Đây là một thuận lợi để tỉnh phát
triển kinh tế, nâng cao mức sống cho người dân, nhưng cũng đặt ra
nhiều thách thức đối với lãnh đạo và nhân dân tỉnh Hà Nam, đặc biệt là
vấn đề làm thế nào để có được nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng
được yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1

ta, Tạp chí Triết học, số 12 (2006).
2
- Trần Đắc Hiến, Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông
thôn ở Việt Nam: một số vấn đề đặt ra và hướng giải quyết, Tạp chí
Triết học, số 11 (2007).
* Bàn về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực:
Những công trình nghiên cứu dưới dạng sách:
- Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm, Phát triển nguồn nhân lực - kinh
nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính, trị quốc gia, Hà Nội,
1996.
- Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1999.
- Đỗ Minh Cương, Bùi Thị Ngọc Loan, Phát triển nguồn nhân lực
giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
- Bùi Thị Ngọc Lan, Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở
Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
- Đoàn Văn Khái, Nguồn lực con người trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, 2005.
Những công trình nghiên cứu dưới dạng (luận án, luận văn, bài
báo):
Các luận án:
- Nguyễn Thị Tú Oanh, Phát huy nguồn lực thanh niên trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ, 1999.
- Hồ Anh Dũng, Khai thác một yếu tố cụ thể của lực lượng sản
xuất là yếu tố con người trong lực lượng sản xuất và việc phát huy yếu
tố đó ở nước ta hiện nay, Luận án tiến sĩ, 1998.
Có thể thấy rằng trong các luận án trên, các tác giả đặc biệt đi sâu
khai thác yếu tố con người - yếu tố động nhất của lực lượng sản xuất.
3

khoa học.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở phân tích, làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở tỉnh Hà
Nam hiện nay, luận văn đề xuất một số phương hướng cơ bản và giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nam trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:
- Thứ nhất, luận giải, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn
nhân lực và vai trò của nó trong sự phát triển xã hội nói chung cũng
như đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng.
- Thứ hai, phân tích, làm rõ ưu điểm, hạn chế của nguồn nhân lực ở
Hà Nam hiện nay và nguyên nhân của tình hình; chỉ ra những đòi hỏi
mà quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang đặt ra đối với việc
phát triển nguồn nhân lực ở Hà Nam.
- Thứ ba, nêu và phân tích một số phương hướng cơ bản và giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở tỉnh Hà Nam hiện nay
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đề tài tập trung nghiên cứu nội dung phát triển nguồn nhân lực ở
tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong mối
quan hệ với đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh và với nguồn
nhân lực của cả nước.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC VỚI CÔNG CUỘC
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HÀ NAM
Trong chương này tác giả tập trung giải quyết hai vấn đề (được chia
thành hai tiết):
1.1. Một số vấn đề về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nam

Để đảm bảo mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả đi
vào hai nội dung (hai tiểu tiết):
1.1.1. Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế
- xã hội ở Hà Nam
Luận văn đã đề cập, nhấn mạnh một số đặc điểm lớn có tính đặc
thù của tỉnh Hà Nam như: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế -
xã hội, lịch sử truyền thống có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến
việc phát triển nguồn nhân lực của tỉnh trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
1.1.2. Những quan điểm cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Hà Nam
Thứ nhất, tác giả tập trung làm rõ về khái niệm công nghiệp hóa,
hiện đại hóa.
Thứ hai, tác giả đề cập đến phương hướng, mục tiêu tổng quát của
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Thứ ba, mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nam.
Thứ tư, những quan điểm cơ bản về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở Hà Nam:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với khai thác tối đa tiềm năng,
lợi thế của tỉnh Hà Nam, thu hút triệt để mọi nguồn lực cho sự phát
triển.
7
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa lấy việc phát huy nguồn nhân lực
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững.

1.2.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Xung quanh vấn đề phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều quan
niệm khác nhau. Nhưng xét một cách khái quát nhất, phát triển nguồn
nhân lực chính là quá trình tạo lập, gia tăng và sử dụng năng lực toàn
diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân
mỗi con người.
Việc phát triển nguồn nhân lực được biểu hiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, phải gia tăng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (biểu
hiện thông qua các yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực của người lao
động).
Thứ hai, gia tăng số lượng người lao động phù hợp với nhu cầu
cung ứng nguồn lao động trong mỗi giai đoạn.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực là phải đạt được cơ cấu dân số và
lao động hợp lý (tức là phải đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế -
xã hội nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng).
1.2.2. Phát triển nguồn nhân lực - yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự
thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trong đó, tác giả đã chỉ ra vai trò quyết định của nguồn nhân lực
đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Một là, trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác thì nguồn
nhân lực là chủ thể trực tiếp, quyết định toàn bộ quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa.
Hai là, bản thân con người vừa là khách thể được khai thác triệt để
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa là đối tượng duy
nhất mà chính quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải hướng vào
phục vụ.
Ba là, nguồn nhân lực mà cốt lõi là trí tuệ của con người có tiềm
năng vô tận.
9
Bốn là, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó

Thứ hai, người dân không mặn mà với việc học nghề, không thích
học nghề nên không đáp ứng được nhu cầu lao động có tay nghề cho
các doanh nghiệp. Thêm vào đó, người lao động của tỉnh học xong lại
di chuyển đi nơi khác có điều kiện và chế độ ưu đãi tốt hơn để làm việc.
Thứ ba, do Hà Nam đã làm tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia
đình. Giảm được tỷ lệ gia tăng dân số dẫn tới quy mô dân số giảm.
11
Tóm lại, có thể thấy thực chất Hà Nam không thiếu lực lượng lao
động, thực trạng thiếu lao động trong các khu công nghiệp và khu vực
kinh tế ngoài nhà nước là do chế độ tiền lương và điều kiện, môi
trường làm việc không thu hút được lao động địa phương dẫn đến tình
trạng người lao động di chuyển đi nơi khác.
2.1.2. Về chất lượng nguồn nhân lực
Thể hiện ở ba phương diện: thể lực, trí lực và tâm lực
Về thể lực:
Tầm vóc và thể lực của người Hà Nam trong những năm gần đây
đã được cải thiện. Chiều cao, cân nặng và tuổi thọ trung bình của người
dân đã tăng lên. Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, đặc biệt là trẻ em dưới
năm tuổi bị suy dinh dưỡng đã giảm. Nguyên nhân là do Đảng bộ và
nhân dân Hà Nam đã thực hiện đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội
nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Về trí lực:
Trình độ chuyên môn, kỹ thuật, nghề nghiệp của lực lượng lao
động trên địa bàn tỉnh Hà Nam rất thấp (hiện tại mới chỉ có 35% lao
động của tỉnh đã qua đào tạo, trong đó đào tạo nghề chiếm 30%). Biểu
hiện:
Thứ nhất, về đội ngũ trí thức - lực lượng nòng cốt trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hiện nay, quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Hà Nam thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao cả
về số lượng và chất lượng. Tính đến năm 2010, số lượng lao động được

thay đổi, thích làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước… và mặt trái
của kinh tế thị trường cũng để lại những hệ quả về đạo đức, lối sống:
tính ích kỷ, thậm chí cá nhân chủ nghĩa, lối sống hưởng thụ, vô cảm,
tôn sùng giá trị vật chất, xem nhẹ và coi thường giá trị đạo đức, tinh
thần…
2.1.3. Về cơ cấu nguồn nhân lực
- Cơ cấu lao động trong các lĩnh vực ngành nghề ở Hà Nam chưa
hợp lý, cơ cấu lao động được đào tạo giữa các ngành, các khu vực sản
xuất, các vùng… còn bất hợp lý. Nguyên nhân của tình trạng này là do
khả năng tự chuyển dịch của người lao động còn thấp (khó khăn về
13
vốn, việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn và cả nhận thức của
người dân vẫn quen làm việc nhỏ lẻ, manh mún…).
- Về cơ cấu trình độ của lực lượng lao động ở Hà Nam: Tỷ lệ lao
động được đào tạo nghề ở Hà Nam không nhiều, mất cân đối, số lao
động chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ cao, lao động có tay nghề cao chiếm
tỷ lệ thấp so với lao động có tay nghề nói chung.
Nguyên nhân của thực trạng trên chủ yếu là do Hà Nam trước đây
là một tỉnh thuần nông, dân số chủ yếu sống ở nông thôn và làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp dẫn tới nhận thức về việc đào tạo chuyên
môn nghề nghiệp và nhất là đào tạo nghề còn hạn chế. Thêm vào đó,
công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về tầm
quan trọng của công tác giáo dục, đào tạo nghề chưa đạt được hiệu quả
cao.
- Về cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động: Nhìn chung lực lượng
lao động của Hà Nam tương đối trẻ. Lực lượng lao động trẻ, có sức
khỏe, năng động, sáng tạo, có khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học
kỹ thuật sẽ là một nguồn lực quan trọng để Hà Nam thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tóm lại, hiện nay nguồn nhân lực của Hà Nam vừa thiếu về số

hóa, hiện đại hóa ở Hà Nam hiện nay là nhanh chóng hình thành được
đội ngũ nhân lực có chất lượng cao trong từng lĩnh vực kinh tế - xã hội
khác nhau với số lượng đông đảo. Bởi, nguồn nhân lực chất lượng cao
là lực lượng xung kích trong việc tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên
tiến, thực hiện việc ứng dụng có kết quả vào điều kiện công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Hà Nam.
Như vậy, công nghiệp hóa, hiện đại hóa một mặt đòi hỏi nguồn
nhân lực phải đáp ứng những yêu cầu mà nó đặt ra, mặt khác, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa lại mở ra những cơ hội, khả năng, điều kiện
để con người phát triển và hoàn thiện bản thân. Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Hà Nam không nằm ngoài mối quan hệ biện chứng đó.
15
Chương 3
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP
HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở HÀ NAM
Từ thực trạng và những vấn đề đặt ra ở chương 2, trong chương 3,
tác giả đã đưa ra bốn phương hướng và bốn nhóm giải pháp nhằm phát
triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở tỉnh Hà Nam.
3.1. Những phương hướng cơ bản
3.1.1. Phát triển nguồn nhân lực theo hướng toàn diện, bền vững
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh kinh
tế thị trường, cách mạng khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế
Thứ nhất, Phát triển nguồn nhân lực theo hướng toàn diện về số
lượng, chất lượng và cơ cấu.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực theo hướng bền vững
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường, cách mạng khoa học
- công nghệ và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, kết hợp giữa xã hội hóa công tác phát triển nguồn nhân lực
thông qua hệ thống các chính sách vĩ mô, môi trường xã hội về xây
dựng và phát triển nguồn nhân lực với việc từng cá nhân chủ động tự
rèn luyện, phát triển bản thân về thể lực, trí lực và những phẩm chất
đạo đức, tinh thần.
Thứ ba, kết hợp hài hòa việc khai thác giữa giá trị truyền thống với
những thành tựu văn minh nhân loại, dân tộc và quốc tế.
17
3.2. Những giải pháp chủ yếu
3.2.1. Nhóm giải pháp về giáo dục - đào tạo
Thứ nhất, xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, cân đối về cơ
cấu, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tâm huyết với nghề.
Thứ hai, đổi mới công tác giáo dục - đào tạo mà cụ thể là đổi mới
cả về nội dung và phương pháp.
Thứ ba, đầu tư mở rộng hệ thống đào tạo nghề nhằm tăng nhanh số
lượng lao động có tay nghề.
Thứ tư, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng
cao đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Thứ năm, tăng cường đầu tư cho giáo dục - đào tạo, xây dựng cơ sở
vật chất và trang thiết bị phục vụ giáo dục - đào tạo.
3.2.2. Nhóm giải pháp về y tế, chăm sóc sức khỏe, nâng cao chất
lượng dân số
Một là, tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Hai là, ưu tiên và quan tâm chăm sóc sức khỏe trẻ em.
Ba là, cùng với chính sách về y tế, tỉnh cần quan tâm hơn nữa đến
chính sách dân số vì nó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của
con người.
3.2.3. Nhóm giải pháp về môi trường tự nhiên và môi trường xã
hội
- Đối với môi trường tự nhiên, tỉnh Hà Nam cần thực hiện các biện

các ngành, các địa phương, đơn vị, cơ quan, tổ chức tăng cường phát
triển nguồn nhân lực.
19
KẾT LUẬN
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được coi là nhiệm vụ trung tâm của
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa là bước đi tất yếu đối với nước ta để tránh nguy cơ tụt hậu xa
hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, do sự
tác động, chi phối của bối cảnh thời đại và thực tiễn đất nước nên công
nghiệp hóa ở nước ta hiện nay phải gắn liền với hiện đại hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cách mạng khoa học - công nghệ
đang diễn ra như vũ bão hiện nay, để phát triển kinh tế - xã hội nhằm
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tỉnh Hà Nam
không thể không tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để công
nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công đòi hỏi phải có sự tác động tổng
hợp của nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhiều nguồn lực như: tài nguyên
thiên nhiên, vốn, công nghệ, nguồn nhân lực…trong đó, nguồn nhân
lực giữ vai trò quyết định. Thật vậy, trong quan hệ so sánh với các
nguồn lực khác thì nguồn nhân lực là chủ thể trực tiếp, quyết định toàn
bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bởi vì các nguồn lực khác
tự nó không thể tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
chúng chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển xã hội và thực sự trở thành
nguồn lực của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa khi được kết hợp
với sức lực và trí tuệ của con người. Mặt khác, bản thân con người cũng
là khách thể được khai thác triệt để trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, vừa là đối tượng duy nhất mà chính quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa phải hướng vào phục vụ. Hơn nữa, nguồn nhân lực
mà cốt lõi là trí tuệ của con người có tiềm năng vô tận. Tính vô tận của
trí tuệ còn biểu hiện ở chỗ nó không chỉ có khả năng tái sinh, tự sản
sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới, phát triển không ngừng, phản

hiệu quả khi chúng được triển khai thực hiện trên cơ sở quán triệt
những phương hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển nguồn nhân lực theo hướng toàn diện, bền
vững đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh
21
kinh tế thị trường, cách mạng khoa học - công nghệ và hội nhập quốc
tế.
Thứ hai, phát triển nguồn nhân lực phải đảm bảo phù hợp với đặc
điểm tình hình tỉnh Hà Nam.
Thứ ba, phải quán triệt quan điểm “con người vừa là mục tiêu vừa
là động lực” trong quá trình phát triển nguồn nhân lực.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực bằng nhiều con đường, biện pháp
mang tính tổng hợp và đồng bộ; kết hợp giữa cá thể hóa với xã hội hóa,
truyền thống với hiện đại, dân tộc với quốc tế.
Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa ở Hà Nam hiện nay là vấn đề có nội dung lớn, liên quan đến
nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau. Quá trình tìm kiếm những mô
hình, giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hà Nam vẫn đang đòi hỏi các nhà lý luận,
các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý của cả nước cũng như
của Hà Nam tìm tòi, nghiên cứu. Trong khuôn khổ của luận văn này
không thể trình bày hết tất cả những nội dung về mặt lý luận và thực
tiễn của vấn đề, cũng như không tham vọng xem nó là mô hình, giải
pháp hoàn thiện. Những nội dung được đề cập trong luận văn này mới
chỉ là những tư tưởng cơ bản, những vấn đề bức xúc liên quan đến việc
phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở Hà Nam hiện nay cũng như trong thời gian tới với hy
vọng góp phần nhỏ bé vào việc hoạch định các chính sách phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm
mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status