Giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 10

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
NNL là yếu tố cơ bản, là điểm cốt yếu nhất của nguồn nội lực, đóng vai
trò quyết định đối với sự phát triển mọi mặt của đời sống KT-XH, thực hiện
CNH, HĐH và HNQT. Trong thời đại KHCN, các lợi thế về số lợng lao động,
đất đai, tài nguyên thiên nhiên đã dần đợc thay bởi trình độ khoa học, trình độ
ngời lao động, khả năng tổ chức quản lý nguồn lao động hợp lý.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng
định: Nguồn lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh
tế nhanh và bền vững..., là nhân tố quyết định sự phát triển đất nớc trong thời kỳ
CNH, HĐH.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập, bên cạnh sự hợp tác để phát triển,
cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng trở nên gay gắt và lợi thế luôn thuộc về
các quốc gia có NNL chất lợng cao. Vì vậy, đào tạo nâng cao chất lợng NNL
nhằm tăng năng lực cạnh tranh nền kinh tế trở thành vấn đề cấp bách của mọi
quốc gia. Kinh nghiệm của các nớc trong khu vực và trên thế giới cho thấy,
những nớc quan tâm và có chính sách phát triển NNL đúng đã tạo ra một lực l-
ợng lao động kỹ thuật lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lao động của nền
kinh tế, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng tởng kinh tế, giải quyết tốt các vấn đề
xã hội và là tiền đề cho phát triển bền vững.
Đảng và Nhà nớc ta luôn xem con ngời là yếu tố đặc biệt quan trọng và
đã không ngừng đào tạo, bồi dỡng phát triển NNL đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đề
ra trong từng thời kỳ.
Vĩnh Phúc là tỉnh nằm trong vùng KTTĐ Bắc Bộ, đang trong quá trình
triển khai thực hiện các mục tiêu KT - XH do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X của Đảng và Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIV đề ra và đạt đợc
những thành tựu quan trọng. Kinh tế có tốc độ tăng trởng cao và ổn định, vốn
đầu t tăng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hớng hiện đại, tăng tỷ
trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm
1
nghiệp - thuỷ sản, văn hoá - xã hội có bớc phát triển khá, đời sống của nhân dân

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
NNL là một trong những nguồn lực quan trọng và quyết định nhất đối với
sự tăng trởng và phát triển kinh tế bền vững của một quốc gia cũng nh một tỉnh. ở
Vĩnh Phúc và cả nớc đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các hội thảo
khoa học, các luận văn tiến sĩ, thạc sĩ của các nhà khoa học về đề tài này ở
nhiều góc độ, phạm vi rộng, hẹp khác nhau, trong đó nổi bật lên là các công
trình:
- PGS,TS Phạm Thành Nghị và TS Vũ Hoàng Ngân (2004), "Quản lý
nguồn nhân lực ở Việt Nam", Nxb Khoa học xã hội.
- TS Nguyễn Thanh (2005), "Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- TS Mai Quốc Chánh (1999), "Nâng cao chất lợng nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nớc", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
- TS Đoàn Văn Khải (2005), Nguồn nhân lực con ngời trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
- TS Nguyễn Hữu Dũng (2003), Sử dụng hiệu quả nguồn lực con ngời
ở Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội.
- TS Nguyễn Bá Ngọc và KS Trần Văn Hoan (2002), Toàn cầu hoá:
Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam, Nxb Lao động - Xã hội,
Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Nguyễn Ngọc Tú (2003), "Nguồn nhân
lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
ở tỉnh Bắc Ninh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Đinh Khắc Định (2005), Nguồn nhân
lực cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở tỉnh Đắk Nông, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Luận văn thạc sĩ Kinh tế của Lê Quang Hùng (2006), Nguồn nhân
lực chất lợng cao cho phát triển kinh tế- xã hội ở thành phố Đà Nẵng, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
3

4
5. Phơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Tiếp cận những lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, t tởng Hồ Chí
Minh, các nghị quyết của Đảng và Nhà nớc về phát triển NNL.
- Luận văn sử dụng các phơng pháp tiếp cận hệ thống, tiếp cận lịch sử và
các phơng pháp điều tra xã hội học, thống kê, so sánh, minh họa để thực
hiện đề tài.
6. Đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận giải những vấn đề lý luận cơ bản về NNL và phát triển NNL.
- Phân tích, đánh giá thực trạng NNL và phát triển NNL ở tỉnh Vĩnh Phúc
trong những năm qua.
- Đề xuất những giải pháp nhằm phát triển NNL đáp ứng yêu cầu
CNH,HĐH ở tỉnh Vĩnh Phúc đến năm 2020.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chơng, 8 tiết.
5
Chơng 1
CƠ Sở Lý LUậN về phát triển nguồn nhân lực
đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nớc ta
1.1. Khái niệm, vai trò và các tiêu chí đánh giá nguồn
nhân lực
1.1.1. Khái niệm và vai trò nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
1.1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Trong nền kinh tế hiện đại, NNL đặc biệt là NNL chất lợng cao vừa là
nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng
cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế,
là yếu tố quyết định tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững. Bởi vì, chỉ có NNL
mới có khả năng tiếp thu và áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ mới,

Theo định nghĩa của UNDP thì NNL là trình độ lành nghề, là kiến thức
và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngời hiện có thực tế hoặc đang là tiềm
năng để phát triển KT-XH trong một cộng đồng. Nh vậy, NNL là tổng thể các
tiềm năng lao động con ngời của một quốc gia đã đợc chuẩn bị ở một mức độ
nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển KT-XH của đất nớc.
Tiềm năng về thể lực con ngời thể hiện qua tình trạng sức khỏe của cộng đồng,
tỷ lệ sinh, mức độ dinh dỡng của xã hội. Cơ cấu dân số thể hiện qua tháp tuổi
của dân số. Năng lực thể chất của con ngời là nền tảng và cơ sở để năng lực về
trí tuệ và nhân cách phát triển. Tiềm năng về trí lực là trình độ dân trí và trình
độ CMKT hiện có cũng nh khả năng tiếp thu tri thức, khả năng phát triển tri
thức của NNL. Năng lực về nhân cách liên quan đến truyền thống lịch sử và nền
văn hóa của từng quốc gia. Nó đợc kết tinh trong mỗi con ngời và cộng đồng,
tạo nên bản lĩnh và tính cách đặc trng của con ngời lao động trong quốc gia đó.
Tiến sĩ Nguyễn Hữu Dũng cho rằng Phát triển NNL của một quốc gia,
một vùng lãnh thổ chính là quá trình làm biến đổi về số lợng, chất lợng và cơ
cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền KT-XH [10, tr.13]. Quá
trình đó bao gồm phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến
7
thức, tay nghề; tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngời; nền văn
hóa, truyền thống lịch sử dân tộc hun đúc nên bản lĩnh, ý chí của con ngời trong
lao động.
Các nhà kinh tế khi xem xét NNL thờng xem xét dới 2 góc độ:

góc
độ thứ nhất, đó là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan
trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần cho
xã hội.

góc độ này có thể hiểu NNL là tổng thể những tiềm năng của con
ngời (trớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) của một quốc gia (một

trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện của con ngời vì sự tiến bộ xã hội và
sự hoàn thiện bản thân mỗi con ngời.
Phát triển NNL luôn luôn là động lực thúc đẩy sự phát triển và tác động
đến toàn bộ đời sống xã hội. Phát triển NNL gắn liền với phát triển con ngời cụ
thể, có năng lực hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Kinh nghiệm của các nớc công nghiệp hóa trớc đây đã chỉ ra rằng phần
lớn thành quả phát triển không phải nhờ tăng vốn mà là nhờ những hoàn
thiện trong năng lực của con ngời, sự tinh thông, bí quyết nghề nghiệp và
quản lý. Khác với đầu t cho các nguồn lực phi con ngời, đầu t cho phát triển
con ngời là vấn đề liên ngành, đa lĩnh vực và tác động đến đời sống của các
cá nhân, gia đình, cộng đồng của họ và đến toàn bộ xã hội nói chung.
Phát triển NNL chủ yếu là những tiến bộ về chất lợng NNL của mỗi quốc
gia, mỗi vùng lãnh thổ hoặc mỗi tổ chức. Ngoài yếu tố chất lợng sức lao động
của mỗi cá nhân đang sống và làm việc, chất lợng NNL còn phụ thuộc vào cơ
cấu của đội ngũ lao động và lành nghề, trình độ kỹ thuật, năng lực tổ chức, quản
lý và khả năng phối hợp hành động để đạt mục tiêu đề ra. Một cơ cấu nhân lực
hợp lý và tổ chức hoạt động tốt sẽ có tác động cộng hởng làm tăng sức mạnh
của tổ chức và từng cá nhân để thực hiện mục tiêu đề ra. Ngợc lại một cơ cấu
không hợp lý, không đồng bộ và tổ chức quản lý hoạt động không tốt sẽ không
phát huy đợc tác dụng cộng hởng mà đôi khi còn giảm sức mạnh của tổ chức đó
và triệt tiêu động lực hoạt động của từng cá nhân. Do đó, phát triển NNL của
mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ và mỗi tổ chức phải chú ý lựa chọn một cơ cấu hợp
lý và phù hợp với yêu cầu và trình độ phát triển của mỗi giai đoạn.
1.1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với công nghiệp hóa, hiện đại hóa
9
- Con ngời vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển: NNL là
nguồn lực con ngời và là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự
phát triển KT - XH. Vai trò của NNL bắt nguồn từ vai trò của yếu tố con ng-
ời.
+ Con ngời là động lực của sự phát triển:

động cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó và ngợc lại.
Nhu cầu con ngời vô cùng phong phú, đa dạng và thờng xuyên tăng lên,
nó bao gồm nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, về số lợng và chủng loại hàng
hóa ngày càng phong phú và đa dạng, điều đó tác động tới quá trình phát triển
KT- XH.
- Nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trởng kinh tế
và rút ngắn khoảng cách tụt hậu:
Tăng trởng kinh tế của bất kỳ quốc gia nào cũng đợc tạo bởi 4 yếu tố:
nhân lực, vốn, công nghệ và tài nguyên thiên nhiên. Tùy theo điều kiện cụ thể
của mỗi quốc gia mà tác động của các yếu tố đó đối với tăng trởng cũng khác
nhau. Tăng trởng kinh tế có ý nghĩa cực kỳ to lớn là điều kiện đầu tiên chống
tụt hậu về kinh tế, rút ngắn quá trình CNH, HĐH. Đại hội VIII của Đảng đã chỉ
rõ Phát huy nguồn lực con ngời là yếu cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền
vững [11, tr.85].
Nhật Bản là một quốc gia nghèo về tài nguyên nhng lại có NNL dồi dào,
kỹ năng năng động, sáng tạo và chăm chỉ đã đa Nhật Bản trở thành một trong
những quốc gia phát triển hàng đầu trên thế giới, điều này cho thấy nhân lực là
tài nguyên quý giá đối với sự tăng trởng và phát triển kinh tế nếu biết khai thác
sử dụng nó. Nhiều nớc phát triển trong khu vực nh Hàn Quốc, Singapo, Đài
Loan, Hồng Kông... trong thế kỷ XX đã trở thành những con rồng. Nguyên
nhân là các quốc gia đó đã biết điều chỉnh chiến lợc tăng trởng theo hớng khai
thác tối đa nguồn lực con ngời, coi đào tạo NNL là quốc sách hàng đầu.
Đối với Việt Nam, trong điều kiện kỹ thuật cha phát triển thiếu vốn để
đầu t cho máy móc, thiết bị, công nghệ thì yếu tố nhân lực mà trớc hết chất lợng
lao động chính là nguồn lực quan trọng nhất mà Việt Nam cần hớng tới để từng
bớc xây dựng và phát triển kinh tế theo hớng CNH, HĐH. Hiện nay, Việt Nam
đang đứng trớc thách thức rất lớn về chất lợng NNL, tỷ lệ lao động qua đào tạo
còn thấp so với nhu cầu (năm 2007 đạt 34,75%), mất cân đối về cơ cấu lao động
11
theo trình độ, kỹ năng; lao động chất xám thiếu và yếu về chất lợng; thể lực

12
không chỉ đơn thuần đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế mà còn hớng vào các
yêu cầu phát triển con ngời và tiến bộ xã hội, xây dựng xã hội tiến bộ, công bằng,
dân chủ, văn minh, dân giàu, nớc mạnh.
- Nguồn nhân lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lao
động xã hội:
NNL chất lợng cao sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, các chủ thể
kinh tế đẩy mạnh áp dụng công nghệ mới, hiện đại vào sản xuất. Và chỉ trên cơ
sở này góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển theo hớng tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp- dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông, lâm nghiệp- thủy sản
trong cơ cấu kinh tế.
Giữa cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động có mối quan hệ biện chứng với
nhau, cơ cấu kinh tế luôn ở trạng thái động, hình thành khách quan theo yêu cầu
của thị trờng, chịu sự tác động của yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ mới.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh hơn cơ cấu lao động, quyết định và chi phối
cơ cấu lao động.
Khi nền kinh tế chuyển dịch mạnh theo hớng tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp- dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông- lâm nghiệp, thủy sản buộc cơ cấu
lao động chuyển dịch theo trên hai góc độ. Về cơ học: cơ cấu lao động ngành
công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên cả về tỷ trọng và số lợng. Về chất lợng: cơ
cấu lao động chuyển đổi về chất, lao động có tay nghề, có trình độ kiến thức
trong các lĩnh vực và năng suất lao động đợc nâng cao.
Ngợc lại, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không thể nhanh và bền vững theo
hớng CNH, HĐH một khi cơ cấu lao động quá lạc hậu và không phù hợp, đây
chính là lực cản lớn nhất trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nớc ta.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động, ngợc lại
chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều kiện và tiền đề chuyển dịch cơ cấu kinh
tế.
Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế để phát huy tiềm năng, thế mạnh của
từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế trong quá trình CNH, HĐH ở nớc

cao, đòi hỏi ngời lao động phải có kiến thức, kỹ năng, năng lực tiếp thu tri thức
mới, có khả năng hội nhập và thích ứng nhanh với môi trờng toàn cầu hóa về
14
kinh tế. Đào tạo lao động có trình độ cao tạo ra đội ngũ tri thức, sử dụng đội
ngũ tri thức vào quá trình sản xuất để tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng
lớn cho xã hội, có sức cạnh tranh nổi trội là động lực chủ yếu của phát triển nền
kinh tế tri thức.
1.1.2. Các tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực
1.1.2.1. Tiêu chí đánh giá quy mô nguồn nhân lực
- Tỷ lệ NNL trong dân số: Là tỷ lệ giữa NNL so với dân số, tỷ lệ này phản
ánh toàn bộ quy mô của NNL trong dân số và dùng để đánh giá tỷ trọng sự vận
động của NNL trong mối quan hệ với dân số.
- Tỷ lệ LLLĐ trong dân số: Là tỷ lệ giữa LLLĐ so với dân số, tỷ lệ này
phản ánh quy mô NNL tích cực tham gia vào hoạt động kinh tế trong dân số.
- Tỷ lệ ngời đủ 15 tuổi trở lên có việc làm trong dân số: Là tỷ lệ giữa dân
số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm so với dân số, tỷ lệ này phản ánh quy mô dân
số 15 tuổi trở lên đang làm việc, đang gánh vác hoạt động kinh tế trong nền
kinh tế.
- Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động có việc làm trong dân số: Là tỷ lệ giữa
dân số trong độ tuổi lao động có việc làm so với dân số, tỷ lệ này phản ánh quy
mô dân số trong độ tuổi lao động đang tham gia vào hoạt động kinh tế.
Trên đây là các tiêu chí cơ bản để xác định quy mô NNL gắn với mức độ
tham gia của NNL. Việc sử dụng từng tiêu chí để đánh giá quy mô NNL phụ
thuộc vào quan điểm và xu thế phát triển NNL trong từng giai đoạn cụ thể.
1.1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lợng nguồn nhân lực
Chất lợng NNL là trạng thái nhất định của NNL thể hiện mối quan hệ
giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL. Chất lợng NNL
không những là chỉ tiêu phản ánh trình độ kinh tế, mà còn là chỉ tiêu phản ánh
trình độ phát triển về mặt đời sống xã hội, bởi lẽ chất lợng NNL cao sẽ tạo ra
động lực mạnh mẽ hơn với t cách không chỉ là nguồn lực của sự phát triển, mà

+ Chỉ tiêu học vấn chung (số năm đi học) của NNL, chỉ tiêu này phản
ánh chất lợng NNL ở góc độ học vấn xét cho một địa phơng, một vùng, khu vực
thành thị hay nông thôn hoặc ở phạm vi toàn quốc. Đây là một trong những chỉ
tiêu đợc Liên hợp quốc sử dụng để đánh giá chất lợng NNL của các quốc gia.
16
+ Tỷ lệ lao động theo cấp trình độ văn hóa phổ thông trong NNL bao
gồm: Tỷ lệ lao động không biết chữ, tỷ lệ lao động cha tốt nghiệp tiểu học, tỷ lệ
lao động tốt nghiệp tiểu học, tỷ lệ tốt nghiệp THCS, tỷ lệ tốt nghiệp THPT.

c chỉ tiêu này đánh giá một cách đầy đủ trình độ văn hóa của NNL,
dùng để đánh giá chất lợng NNL và làm căn cứ để lập chiến lợc quy hoạch, kế
hoạch đào tạo, phát triển NNL. Theo đó ngời lao động thuộc NNL có thể phải
học thêm văn hóa, tham gia đào tạo các cấp trình độ CMKT để đáp ứng nhiệm vụ
phát triển KT - XH trong từng thời kỳ ở cả tầm vĩ mô và vi mô của đất nớc.
Bảng 1.1. Cơ cấu lực lợng lao động theo trình độ học vấn
Đơn vị tính: %
Trình độ học vấn Năm 2000 Năm 2004 Năm 2007
Tổng số 100,0 100,00 100,0
Không biết chữ 4,0 4,2 3,6
Cha tốt nghiệp cấp I 16,5 25,5 11,9
Tốt nghiệp tiểu học 29,3 31,5 28,9
Tốt nghiệp THCS 33,0 30,4 31,1
Tốt nghiệp THPT 17,2 18,4 24,5
Nguồn: Điều tra lao động việc làm 1.7 hằng năm, Bộ LĐ-TB và XH
- Trình độ chuyên môn - kỹ thuật:
Trình độ CMKT là sự hiểu biết, kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm đ-
ơng các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp. Lao
động có CMKT bao gồm những công nhân kỹ thuật từ bậc 3 trở lên (có bằng
hoặc chứng chỉ nghề), những ngời tốt nghiệp THCN, cao đẳng, đại học, trên đại
học. Họ đợc đào tạo ở các trờng, lớp các bậc học và hình thức học khác nhau:

càng lớn hơn của lao động CMKT để đáp ứng nhiệm vụ phát triển KT - XH.
Lao động có CMKT cao có vai trò rất lớn đối với việc thúc đẩy tăng trởng và
phát triển trong tất cả các ngành, khu vực kinh tế của quốc gia.
Khi đánh giá trình độ CMKT của NNL quốc gia ngời ta thờng xem xét
cơ cấu giữa các cấp trình độ: CNKT- THCN- cao đẳng, đại học và trên đại học
có đáp ứng đợc với thị trờng lao động hay không, đặc biệt đáp ứng đợc xu hớng
phát triển của nền kinh tế.
- Trình độ tin học, ngoại ngữ
Trong nền kinh tế thị trờng mở cửa ra thế giới, với sự phát triển nhanh
chóng của khoa học kỹ thuật và xu hớng chuyển sang nền kinh tế tri thức đang
diễn ra tại nhiều nớc phát triển thì trình độ tin học, ngoại ngữ là công cụ quan
trọng để nâng cao năng suất lao động của NNL. Khả năng ngoại ngữ, tin học có
thể giúp con ngời lao động đáp ứng đợc quá trình chuyển giao, áp dụng thành
tựu KHCN vào sản xuất kinh doanh. Chỉ tiêu đánh giá trình độ ngoại ngữ là:
Lao động biết một ngoại ngữ và trình độ ngoại ngữ đạt đợc của lực lợng lao
18
động. Chỉ tiêu đánh giá trình độ tin học là: Lao động biết tin học và trình độ tin
học của lực lợng lao động
- Năng lực sáng tạo
Trong thời đại ngày nay, việc trang bị những kiến thức học vấn phổ
thông và kỹ năng nghề nghiệp là cha đủ, cần phải tạo lập cho mỗi con ngời
Việt Nam có t duy năng động, sáng tạo, dám mạo hiểm, sẵn sàng thích ứng
với một thế giới đầy biến động và cạnh tranh khốc liệt nhất là trong bối cảnh
HNQT và khu vực. Cho nên trí lực còn đợc biểu hiện ở óc sáng tạo, tính linh
hoạt, nhanh nhẹn, sắc bén trong tiếp thu thông tin mới và khả năng thích ứng
nhanh để học tập, áp dụng, làm chủ các phơng tiện khoa học kỹ thuật và công
nghệ hiện đại cũng nh năng lực hoạch định và thực hiện các giải pháp phát
triển kinh tế. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá năng lực trí tuệ của NNL
trong quá trình CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức hiện nay.
1.1.2.3. Chỉ số phát triển con ngời HDI (Human Development Index)

ngời chỉ đạt 160 USD/năm).
Nh vậy 0 HDI 1. Nớc nào có giá trị HDI càng gần đến 1 thì mức độ
phát triển NNL càng cao. Ngợc lại, nếu nớc nào có giá trị HDI dới 0,4 thì mức
độ phát triển NNL của nớc đó đợc coi là thấp.
Đặc trng của chỉ số phát triển con ngời (HDI) là sự tiếp cận tổng thể, toàn
diện, quan tâm đến số đông trong cộng đồng. Đây là hệ thống mở, linh hoạt đợc
khuyến khích thêm các chỉ số hoặc chỉ tiêu thành phần nhằm phản ánh những
vấn đề bức xúc tại từng thời điểm của cộng đồng.
Theo số liệu của UNDP, chỉ số phát triển con ngời (HDI) của Việt Nam
có xu hớng gia tăng, xếp thứ 122/174 nớc (năm 1995) lên thứ 109/173 nớc (năm
2000) và 108/177 nớc (năm 2003). Diễn biến các chỉ số trong HDI qua các năm
của Việt Nam đợc phản ánh qua bảng 1.3.
Bảng 1.3. HDI của Việt Nam
Năm Chỉ số HDI
Thứ bậc so với các nớc
tham gia xếp hạng
Chỉ số
giáo dục
Tuổi thọ GDP
1995 0,56 122/174 0,81 0,64 0,42
2000 0,688 109/173 0,84 0,72 0,50
2003 0,704 108/177 0,82 0,76 0,54
20
Nguồn: Nghiên cứu chỉ số phát triển con ngời (HDI) của Việt Nam, Nxb CTQG,
Hà Nội 2008, tr.54
Qua bảng 1.3 cho thấy Việt Nam là một trong mời nớc có chỉ số xếp
hạng về HDI cao hơn xếp hạng GDP/ngời trên 20 bậc. Điều này chứng tỏ Việt
Nam đã gắn tăng trởng kinh tế với phát triển xã hội, quan tâm đến con ngời
(tuổi thọ trung bình của ngời Việt Nam là 70,5 tuổi năm 2003, 90% dân số đợc
tiếp cận các dịch vụ xã hội).

- Yêu cầu trớc tiên là giải quyết bài toán dân số: Chiến lợc phát triển
NNL của một quốc gia bao giờ cũng phải bắt đầu từ bài toán dân số. Bởi vì, quy
mô và chất lợng dân số một mặt phản ánh tiềm năng, sức mạnh về nguồn lực
con ngời của một quốc gia, mặt khác nó còn là mẫu số để xác định các chỉ tiêu
phát triển khác của quốc gia đó. Đối với nớc ta, bài toán dân số đặt ra là phải
tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số và nâng cao chất lợng dân số. Yêu cầu cơ bản
đặt ra là:
+ Phải quy hoạch giáo dục, đào tạo phù hợp với cơ cấu tuổi và nền kinh tế.
+ Phải tạo đủ công ăn việc làm cho nhóm dân số trong độ tuổi lao động.
+ Kiểm soát, điều tiết và quản lý hiệu quả di dân trong quá trình đô thị hóa.
+ Cải thiện các chỉ số phát triển con ngời (HDI), chỉ số phát triển giới
(GDI), chỉ số nghèo đói của con ngời (HPI)
- Yêu cầu cơ bản có tính chất quyết định và quan trọng nhất là phải đảm
bảo cơ cấu lao động phù hợp với cơ cấu kinh tế trong từng thời kỳ phát triển.
Cần phải xóa bỏ khoảng cách quá xa giữa cơ cấu lao động rất lạc hậu và cơ cấu
kinh tế đang phát triển nhanh theo hớng CNH, HĐH và hội nhập, đi vào nền
kinh tế tri thức hiện nay và tơng lai ở nớc ta. Cơ cấu đó phải đợc xem xét trên
nhiều phơng diện: Trong bản thân NNL (cơ cấu trình độ kỹ thuật, độ tuổi,
giới), theo ngành kinh tế, thành phần kinh tế, các vùng, theo dạng việc làm.
Để thực hiện yêu cầu này, cần phải giải quyết các vấn đề sau:
+ Căn cứ vào các chỉ tiêu phát triển KT - XH theo ngành, theo thành
phần và theo vùng kinh tế để dự báo nhu cầu về lao động.
+ Dựa trên quy hoạch phát triển ngành, các vùng để xây dựng các quy
hoạch phát triển thuộc lĩnh vực NNL (quy hoạch giáo dục, đào tạo, dịch vụ việc
làm, thông tin thị trờng lao động).
22
+ Đổi mới kế hoạch hóa lao động, việc làm theo định hớng cầu lao động
trên thị trờng lao động.
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu lao động, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn.

1.2.2.1. Dân số tác động đến quy mô nguồn nhân lực
- Tác động của tăng, giảm dân số tự nhiên đến quy mô NNL:
Dân số của một quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với quy mô NNL, là cái
gốc sản sinh ra NNL. Nớc nào có quy mô dân số lớn thì quy mô NNL lớn và
ngợc lại; Mặt khác, cơ cấu tuổi của dân số có ảnh hởng quyết định đến quy mô
và cơ cấu NNL. Quy mô của dân số phụ thuộc vào tỷ suất tăng tự nhiên của dân
số, vì vậy quy mô NNL cũng phụ thuộc vào tỷ suất tăng dân số tự nhiên.
Sự vận động của dân số, tái sản xuất dân số là cơ sở tự nhiên của sự hình
thành NNL, quan hệ giữa tốc độ tăng dân số và tốc độ tăng NNL là quan hệ
thuận. Mối quan hệ này chỉ đợc biểu hiện sau một thời gian nhất định, tùy thuộc
vào quy định độ tuổi thuộc NNL của mỗi quốc gia. Tỷ suất sinh không những
tác động đến quy mô NNL mà còn đến cơ cấu NNL.
- Tác động của tăng, giảm dân số cơ học đối với quy mô NNL
Tăng, giảm dân số cơ học là kết quả của sự di chuyển, xuất nhập c của
dân số từ một vùng, địa phơng, khu vực này đến một vùng, địa phơng, khu vực
khác làm giảm dân số đầu đi và tăng dân số nơi tiếp nhận. Quá trình di chuyển
này cũng ảnh hởng qui mô NNL cả đầu đến và đầu đi.
Tăng nhanh dân số cơ học và lao động cơ học diễn ra có tính quy luật đối
với tất cả các nớc đặc biệt là trong giai đoạn tiến hành CNH,HĐH nền kinh tế.
Nhìn chung, đối với các nớc trong giai đoạn đầu của công cuộc đô thị hóa, CNH
thì các dòng di chuyển dân số và lao động diễn ra sôi động bao gồm các dòng
chủ yếu: Di chuyển NNL từ nông thôn đến thành thị; di chuyển dân số, lao
động đến các khu công nghiệp, khu chế xuất; di chuyển từ NNL từ vùng chậm
phát triển sang vùng phát triển hơn.
1.2.2.2. Trình độ phát triển kinh tế- xã hội
- Trình độ phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thu hút đầu t:
+ Trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia đóng vai trò quyết định
đến trình độ phát triển NNL. Quốc gia có trình độ kinh tế phát triển cao thì ở đó
24
NNL có chất lợng cao, bởi vì trình độ phát triển kinh tế là cơ sở xác định tiền l-

Trích đoạn Đánh giá nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc 1 Những kết quả đạt đợc Những tồn tại hạn chế và những vấn đề đặt ra Nguyên nhân kết quả đạt đợc Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status