1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Câu hỏi nghiên cứu 11
3. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 11
3.1. Ý nghĩa lý luận 11
3.2. Ý nghĩa thực tiễn 11
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 12
4.1. Mục đích nghiên cứu 12
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 12
5. Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu 13
5.1. Đối tượng nghiên cứu 13
5.2. Khách thể nghiên cứu 13
5.3. Phạm vi nghiên cứu 13
6. Phương pháp nghiên cứu 13
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu 13
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu 14
6.3. Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc 14
7. Giả thuyết nghiên cứu và khung lý thuyết 15
7.1. Giả thuyết nghiên cứu 15
7.2. Khung lý thuyết 16
NỘI DUNG CHÍNH 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 17
1.1. Các lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 17
1.1.1. Lý thuyết hành động xã hội 17
1.1.2. Lý thuyết cấu trúc - chức năng 19
1.1.3. Lý thuyết hệ thống 20
3
2.4.4. Thái độ của gia đình đối với công việc của đội ngũ trí thức khoa
học xã hội và nhân văn 101
2.4.5. Mong đợi của trí đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 102
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1. Kết luận………………………………………………………… 109
2. Khuyến nghị…………………………………………………… 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 120
PHỤ LỤC 123
4
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu đội ngũ trí thức Việt Nam phân theo ngành đào tạo và bậc
đào tạo 41
Bảng 2.2: Cơ cấu giới của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn 43
Bảng 2.3: Số lượng ngoại ngữ sử dụng được của tri thức khoa học xã hội và
nhân văn 54
Bảng 2.4: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá các kỹ năng ngoại
ngữ 55
Bảng 2.5: Trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá các kỹ năng tin
học 57
Bảng 2.6: Đánh giá về việc hoàn thành nhiệm vụ của trí thức khoa học xã hội
và nhân văn 60
Bảng 2.7: Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn tự đánh giá năng lực
trí tuệ 64
văn 99
Bảng 2.24: Phòng làm việc riêng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 101
Bảng 2.25: Quan điểm của gia đình về công việc của cán bộ khoa học xã hội
và nhân văn 101
Bảng 2.26: Những mong muốn của cán bộ khoa học xã hội và nhân văn 104
Bảng 2.27: Mong đợi về môi trường làm việc của cán bộ khoa học xã hội và
nhân văn 105
Bảng 2.28: Mức độ sẵn sàng làm việc tại vùng khó khăn của cán bộ khoa học
xã hội và nhân văn 106 6
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 1: Về môi trường làm việc của trí thức khoa học xã hội và nhân văn 80
Biều đồ 2: Đánh giá về mức độ hợp lý của sự phân công công việc của trí
thức khoa học xã hội và nhân văn 81 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trí thức là nền tảng của tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức vừa là lực lượng
sáng tạo, truyền bá tri thức vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Đây
cũng là một nhóm xã hội quan trọng đặc biệt là trong thời đại kinh tế trí thức
hiện nay.
Cha ông ta đã xem: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, “phi trí bất
hưng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý
báu của dân tộc, ở nước khác như thế, Việt Nam càng như thế”. [Hồ Chí
ương Đảng cũng khẳng định rất rõ vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết nhấn mạnh:
“Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt trong chiến
lược phát triển, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia”; “Xây dựng đội ngũ trí
thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất
nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ
thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền
vững”. [Đảng Cộng sản Việt Nam, Hội nghị 7 Ban Chấp hành Trung ương
khóa X, 2008, tr.90-91].
Nghị quyết số 27 - NQ/T.Ư về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng ta cũng quan niệm
rằng: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về
lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền
bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá
trị đối với xã hội”. [Nghị quyết số 27 khóa X, 2008]. 9
Cho đến Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ phương hướng:
"Xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu
phát triển đất nước. Tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động
nghiên cứu, sáng tạo. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm
chất, năng lực và kết quả cống hiến. Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đãi ngộ
xứng đáng những cống hiến của trí thức. Có chính sách đặc biệt đối với nhân
tài của đất nước. Coi trọng vai trò tư vấn, phản biện, giám định xã hội của
các cơ quan nghiên cứu khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước và các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.
Gắn bó mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng
và Nhà nước". [Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo chính trị Đại hội XI, 2011,
nước. Cho nên, nước ta cần phải phát huy tối đa tiềm năng trí tuệ của đội
ngũ trí thức, đặc biệt là đội ngũ trí thức thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn.
Đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn Việt Nam, trong những
năm qua đã có những đóng góp to lớn vào đời sống chính trị, xã hội của đất
nước như: Tham gia chuẩn bị, góp ý kiến cho các văn kiện, nghị quyết của
Đảng và Nhà nước; phổ biến kiến thức, khuyến khích đưa nhanh các tiến bộ
khoa học vào đời sống… Tuy nhiên, đội ngũ trí thức trong nền kinh tế trí thức
hiện nay bên cạnh những kết quả đã đạt được, đội ngũ trí thức khoa học xã
hội và nhân văn vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định như: Hiệu quả hoạt
động chưa tương xứng với tiềm năng của đội ngũ này, chưa đáp ứng tốt
những yêu cầu của quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói
riêng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung ở nước ta trong thời
kỳ đổi mới.
Chính vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn về tìm hiểu năng lực của
nguồn lực trí thức nói chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói 11
riêng ở Việt Nam hiện nay, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Năng lực của đội
ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam trong thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Câu hỏi nghiên cứu
- Năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn ở Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Phát huy năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân văn chịu ảnh
hưởng của những nhân tố nào?
- Làm thế nào để phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã
hội và nhân văn hiện nay?
năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay, từ đó đề
xuất những khuyến nghị góp phần nâng cao và phát huy năng lực của đội ngũ
trí thức khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta hiện nay.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Mô tả khái quát về đội ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn hiện
nay.
- Đánh giá mức độ phát huy năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã
hội nhân văn hiện nay.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát huy năng lực của đội
ngũ trí thức khoa học xã hội và nhân văn.
- Đề xuất những khuyến nghị nhằm phát huy năng lực của đội ngũ trí
thức khoa học xã hội và nhân văn hiện nay.
13
5. Đối tượng - khách thể - phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Năng lực của đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân
văn ở Việt Nam hiện nay.
5.2. Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ trí thức trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
5.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn sử dụng số liệu khảo sát của đề tài KX.03.22/06-10: “Xây
dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng
đất nước trong thế kỷ XXI” do GS.TS Nguyễn Văn Khánh làm chủ nhiệm đề
tài, đã được nghiệm thu vào đầu năm 2011.
Đề tài đã tiến hành khảo sát đội ngũ trí thức ở 4 địa bàn là Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Bình Dương. Trong nghiên cứu này, tác
giả giới hạn khai thác số liệu khảo sát về trí thức khoa học xã hội và nhân văn
47%
2
Tình trạng hôn nhân
Chưa từng kết hôn
85
25,9%
Đang có vợ/chồng
238
72,6%
Ly thân/ly hôn/góa
5
1,5%
3
Học vị
Cử nhân/kỹ sư
216
65,9%
Thạc sỹ
92
28%
Tiến sỹ
20
6,1%
6.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Để làm sáng rõ hơn cho vấn đề nghiên cứu và có thêm cơ sở để đánh
giá năng lực, mức độ phát huy năng lực của trí thức khoa học xã hội và nhân
văn hiện nay, với 40 trường hợp phỏng vấn sâu (20 nam và 20 nữ), tác giả đã
tập trung vào:
Đối tượng phỏng vấn: trí thức làm việc trong lĩnh vực giáo dục, nghiên
Nhà nước ban hành đang có ảnh hưởng rất lớn tới đội ngũ trí thức và vấn đề
phát huy năng lực của đội ngũ trí thức trong giai đoạn hiện nay.
16
7.2. Khung lý thuyết
Bối cảnh KT-VH-CT-XH
Đặc điểm của trí thức
KHXH&NV Gia đình
Năng lực của trí thức
KHXH&NV
Trí thức KHXH&NV
Cá nhân
Tự đánh
giá về
của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính
đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi
hành động đó. Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thì không
thể là một hành động xã hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và
những phản ứng có thể có từ những người khác thì không phải là hành động 18
xã hội. Hành động không phải là kết quả của quá trình suy nghĩ có ý thức thì
không phải là hành động xã hội. Do vậy, khi đề cập đến các loại hành động xã
hội, ông đã chia hành động xã hội ra 4 loại cơ bản:
Thứ nhất là hành động xã hội theo mục đích: người hành động phải
chọn mục đích nào và phương tiện nào để đạt được mục đích, kết quả cao
nhất. Ông cho rằng chỉ đến xã hội tư bản, hành động hợp mục đích mới phát
triển đầy đủ và chiếm ưu thế.
Thứ hai là hành động xã hội theo giá trị: đây là loại hành động hợp lý
về giá trị-hướng tới những giá trị, nghĩa là khi diễn ra hành động thì chủ thể
hành động phải suy nghĩ kiểm tra.
Thứ ba là hành động xã hội theo cảm xúc: không tuân theo qui luật,
lôgic biện chứng của khoa học mà tuân theo những qui luật tâm lý.
Thứ tư là hành động theo truyền thống: là loại hành động mà chủ thể
hành động xuất phát từ cái họ cho là họ đã học hành hay kinh nghiệm từ trước
đó.
Cấu trúc của hành động xã hội gồm: Nhu cầu và lợi ích cá nhân; chủ
thể hành động; hoàn cảnh (môi trường) hành động và phương tiện (công cụ)
hành động.
1. Nhu cầu và lợi ích của cá nhân: Đây là yếu tố tạo động cơ thúc đẩy
hành động để thỏa mãn. Động cơ này sẽ tạo ra tính tích cực của chủ thể, tham
gia định hướng hành động và quy định mục đích của hành động.
2. Chủ thể hành động: Là cá nhân, nhóm, cộng đồng, xã hội.
trật tự xã hội.
Vận dụng lý thuyết này vào vấn đề cụ thể, thuyết chức năng hướng vào
giải quyết vấn đề bản chất của cấu trúc xã hội và hệ quả của cấu trúc xã hội
đó. Đặt trong bối cảnh sự kiện, hiện tượng là tìm hiểu năng lực của đội ngũ trí 20
thức thì vấn đề là hướng vào phân tích thực trạng năng lực của trí thức hiện
nay và các thành phần tác động tới khả năng làm việc của đội ngũ trí thức
cũng như hệ thống các các cơ chế, chính sách dành cho đội ngũ trí thức nói
chung và trí thức khoa học xã hội và nhân văn nói riêng hiện nay như thế nào?
1.1.3. Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được áp dụng trong nghiên cứu xã hội đã coi xã
hội là một hệ thống với tập hợp những yếu tố liên hệ với nhau, tạo thành sự
thống nhất ổn định và tính chỉnh thể. Hệ thống này có những thuộc tính và
những quy luật tích hợp. Nguyên lý tính chỉnh thể là nguyên lý xuất phát
đồng thời là nguyên lý trung tâm của lý thuyết hệ thống. Nó cho thấy đặc
trưng cơ bản nhất của hệ thống là tính thống nhất chỉnh thể. Tính thống
nhất của hệ thống còn là sự thống nhất trong đa dạng hay gọi đó là nguyên
lý tính phức thể. Hệ thống là một thể phức tạp, đa cấu trúc, đa chức năng,
phức tạp về các loại quan hệ. Trong cấu trúc có hệ thống đóng khác với hệ
thống mở; hệ thống thuần nhất khác với hệ thống không thuần nhất; Hệ thống
điều khiển với hệ thống bị điều khiển. Còn trong chức năng có những phạm
trù thể hiện hành vi, hành động, hoạt động nhằm duy trì hệ thống; trong quan
hệ có quan hệ vĩ mô khác quan hệ vi mô, quan hệ bên trong (nội tại) khác với
quan hệ bên ngoài
Lý thuyết hệ thống trong xã hội học gắn liền với tên tuổi Talcott
Parsons - nhà xã hội học người Mỹ.
Về mặt lý thuyết, Parsons xem xét hệ thống trong một trục toạ độ 3
chiều: Cấu trúc - Chức năng - Kiểm soát. Tức là hệ thống nào cũng có cấu
Đến lượt nó, năng lực của cá nhân lại chịu tác động của tổ hợp các yếu
tố kinh tế xã hội như nghề nghiệp, gia đình, địa vị xã hội, giới, học vấn và 22
môi trường xã hội. Nghiên cứu năng lực của đội ngũ trí thức khoa học xã hội
và nhân văn cần phải đặt trong tổng thể hệ thống những yếu tố này.
Ngoài ra còn phải xem xét năng lực của cá nhân như một phạm trù có
tính hệ thống luôn luôn biến đổi và ngày càng được nâng lên. Khi xã hội phát
triển, năng lực của cá nhân cũng chuyển động theo đúng khả năng của mỗi cá
nhân. Sự hướng đích của mọi sự phát triển là tạo ra sự cân bằng, hài hoà trong
hệ thống năng lực của từng nhóm xã hội nói chung và nhóm trí thức khoa học
xã hội và nhân văn nói riêng đồng thời có sự ảnh hưởng đến các phương diện
khác của xã hội.
Như vậy, vận dụng lý thuyết hệ thống vào tìm hiểu năng lực của trí
thức khoa học xã hội và nhân văn sẽ giúp lý giải phần nào theo các nguyên lý
của hệ thống, và thông qua đó để phân tích những đặc điểm của sự biến đổi và
những nhân tố tác động đến đội ngũ trí thức này hiện nay.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Khái niệm trí thức/ trí thức khoa học xã hội và nhân văn
Khái niệm “Trí thức”
Hiện nay, còn có nhiều cách tiếp cận, cách hiểu khác nhau về trí thức:
- Đại từ điển Tiếng Việt cho rằng: “Trí thức là những người chuyên làm
việc lao động trí óc”. [Nhà xuất bản văn hóa thông tin, Hà Nội, 1998,
tr.1705].
- Từ điển Bách khoa Việt Nam xác định: Trí thức, “tầng lớp xã hội làm
nghề lao động trí óc, trong đó bộ phận chủ yếu là người có trình độ học vấn
cao, hiểu biết sâu rộng về chuyên môn của mình, có sáng tạo và phát minh.
Trí thức bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy giáo, thầy
thuốc, luật sư, nhà văn, nghệ sỹ…”. [Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Hà
thức hiện nay nhưng trong phạm vi luận văn này, tác giả sử dụng định nghĩa 24
trí thức theo tinh thần của Nghị quyết số 27. Đây là định nghĩa đã khái quát
đặc trưng và tiêu chí cơ bản của trí thức Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở định
nghĩa này, khi hoạch định chính sách, chế độ cần phải cụ thể hoá, như ấn định
bằng cấp nào là trí thức, tiêu chí đối với trí thức trong các lĩnh vực, ngành
nghề, các thời kỳ khác nhau; cần xác định rõ trí thức là những người như thế
nào
Nghị quyết 27/TW cũng xác định khái niệm “Đội ngũ trí thức”: Là lực
lượng những người lao động, chủ yếu là lao động trí óc, có trình độ học vấn,
trình độ chuyên môn nhất định, đang hoạt động nghề nghiệp trên các lĩnh vực
kinh tế xã hội bao gồm: khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, văn hoá nghệ
thuật, quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, hệ thống các tổ chức chính trị,
chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, và các hội trí thức…
Đội ngũ trí thức đã nghiên cứu, cung cấp nhiều luận cứ khoa học, giúp
Đảng bộ, chính quyền địa phương vận dụng cụ thể hóa các chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước sát với điều kiện thực tiễn của địa phương, góp
phần trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài.
Khái niệm “Trí thức khoa học xã hội và nhân văn”
Trí thức khoa học xã hội nhân văn nằm trong cơ cấu chung của trí thức
Việt Nam và là bộ phận hoạt động trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn.
Họ có tri thức sâu rộng về xã hội và về con người. Bằng lao động sáng tạo của
mình, họ tham gia vào đời sống chính trị - xã hội và trở thành một nguồn lực
trí tuệ quan trọng giúp cho xã hội không ngừng tiến bộ.
1.2.2. Khái niệm năng lực/phát huy năng lực
Khái niệm “Năng lực”
Theo Từ điển Tiếng Việt “Năng lực” được hiểu là: Khả năng, điều kiện
chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Hay năng
trí nhớ ) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này