Báo cáo nghiên cứu khoa học " KHOA LỊCH SỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN [ĐHQGHN] 55 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN (1956-2011) " - Pdf 21

KHOA LỊCH SỬ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN
VĂN [ĐHQGHN]
55 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
(1956-2011)

55 năm là ngắn trong dặm dài ngàn năm của lịch sử dân tộc, nhưng 55 năm không
phải là ngắn trong chặng đường 66 năm của nước Việt Nam mới. 55 năm ấy, lớp
lớp cán bộ và sinh viên Khoa Lịch sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) đã
không ngừng học tập, rèn luyện, phấn đấu vươn lên, đưa Khoa trở thành một trong
những trung tâm đào tạo và nghiên cứu sử học hàng đầu ở Việt Nam, hướng tới
hội nhập và hợp tác sâu rộng với quốc tế.
Tiên phong trong nền sử học mới
Chỉ hơn một tháng sau ngày đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa, ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 45/SL
thành lập Trường Đại học Văn khoa Hà Nội. Tuy nhiên, sự kiện thực dân Pháp
quay lại xâm lược khiến cho công cuộc xây dựng nước Việt Nam mới bị gián
đoạn, việc tổ chức hệ thống giáo dục đại học của chế độ mới cũng bị ảnh hưởng.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” năm
1954, miền Bắc được giải phóng và tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuẩn bị
nhân tài - vật lực cho nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong
không khí phấn khởi xây dựng chế độ mới, xác định rõ vị trí quan trọng của nền
giáo dục đại học, Thủ tưởng Chính phủ đã ra Quyết định 2138/TC ngày 4 tháng 6
năm 1956 thành lập Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội với hai Ban đầu tiên là Ban
Khoa học và Ban Văn khoa. Ban Văn khoa do Giáo sư Trần Đức Thảo phụ trách,
gồm hai bộ phận tương đối độc lập với nhau là Sử và Văn. Không lâu sau, Ban
Văn khoa được tách ra để xây dựng thành hai khoa độc lập là Khoa Lịch sử và
Khoa Văn học.
Mặc dù còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ, nhưng ngay sau
những ngày đầu mới thành lập, Khoa Lịch sử đã có bước phát triển nhanh chóng.
Từ trụ sở ban đầu ở phố Hai Bà Trưng, cùng các nhà khoa học nổi tiếng (Trần Đức

trước 1858 (Trần Văn Giàu); Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến cuối thế kỷ XIX,
Nguồn gốc dân tộc Việt Nam (Đào Duy Anh); Lịch sử Việt Nam thời kỳ 1897-
1914; Lịch sử cận đại Việt Nam [4 tập] (Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, Đặng
Huy Vận…); Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ (Phan Huy Lê);
Lịch sử chế độ Phong kiến Việt Nam [3 tập] (Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà
Văn Tấn, Đinh Xuân Lâm, Chu Thiên, Vương Hoàng Tuyên), Lịch sử chế độ
Cộng sản nguyên thủy Việt Nam (Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn); Sơ yếu khảo cổ
học nguyên thủy Việt Nam (Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn); Những đề nghị cải
cách của Nguyễn Trường Tộ (Đặng Huy Vận, Chương Thâu) Bên cạnh đó, hoạt
động dịch thuật cũng được đẩy mạnh nhằm cung cấp tài liệu giảng dạy và nghiên
cứu. Các công trình dịch thuật tiêu biểu có thể kể đến: Dư địa chí (Hà Văn Tấn);
Quân trung từ mệnh tập (Phan Huy Lê); Việt sử lược (Trần Quốc Vượng); Việt
Nam vong quốc sử (Chương Thâu, Chu Thiên); Lịch sử toàn thế giới [10 tập] (Bộ
môn Lịch sử Thế giới)…
Có thể nói, chặng đường gần chục năm đầu xây dựng nền sử học mới của Khoa
Lịch sử diễn ra trong vô vàn gian khó và thử thách nhưng đã đạt được nhiều thành
tựu rất to lớn. Đội ngũ cán bộ được tăng cường về số lượng và chất lượng (mặc dù
một số người nhận vị trí công tác khác nhưng số lượng cán bộ cơ hữu vẫn được
duy trì ở con số trên dưới 30). Số lượng sinh viên nhập học và ra trường ổn định
qua các năm. Hệ thống môn học - chuyên đề được xây dựng và không ngừng cập
nhật. Công tác nghiên cứu khoa học, hội thảo, dịch thuật chuyên môn được chú
trọng phát triển… Khoa Lịch sử đã nhanh chóng trở thành một đơn vị đào tạo và
nghiên cứu sử học hàng đầu trong nền giáo dục và khoa học Việt Nam mới, một
trung tâm sử học mạnh và tiên phong trong giới sử học Việt Nam hiện đại. Đây
chính là những tiền đề vững chắc để đảm bảo cho sự phát triển của Khoa trong
những chặng đường thử thách sắp tới: cùng cả nước thực hiện nhiệm vụ đánh
thắng giặc Mỹ xâm lược.
Những năm tháng hào hùng cùng dân tộc
Thất bại trong việc kiểm soát miền Nam, từ nửa cuối năm 1965, đế quốc Mỹ tiến
hành ném bom đánh phá miền Bắc nước ta. Trong bối cảnh chiến tranh, nhằm hạn

ở địa phương mà còn trực tiếp tham gia cầm súng chiến đấu trên các chiến trường
từ Bắc vào Nam. Tiếp bước các tấm gương thầy giáo - chiến sĩ như Lê Anh Xuân,
Ngô Văn Sở… trong những năm khói lửa ác liệt 1971-1972, hàng chục cán bộ và
sinh viên của Khoa đã “xếp bút nghiên” hòa cùng đoàn quân - sinh viên Trường
Đại học Tổng hợp Hà Nội và thanh niên cả nước lên đường chi viện cho tuyến lửa
miền Nam: làm phóng viên thông tấn xã, công an nhân dân vũ trang, bộ đội, tuyên
truyền viên hỏa tuyến… Những kiến thức lịch sử học được từ mái trường Đại học
Tổng hợp hòa quyện với nhiệt huyết tuổi thanh xuân và lòng yêu nước nồng nàn tự
ngàn xưa hun đúc đã nâng bước cho các lớp Thầy - Trò - Chiến sĩ của Khoa Lịch
sử xông pha trên chiến trường. Nhiều người trong số đó đã anh dũng hi sinh: Thầy
giáo - Nhà thơ - Liệt sĩ Ca Lê Hiến (Lê Anh Xuân) đã hiên ngang ngã xuống trong
đợt Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968, để lại cho muôn đời sau một “dáng đứng
Việt Nam tạc vào thế kỷ”; các sinh viên Dương Tấn Nhường, Lê Văn Tròn, Trần
Văn Tuấn, Lê Văn Doan, Phạm Văn Tài, Nguyễn Xuân Toản, Nguyễn Văn Tâm…
kiên cường chiến đấu và anh dũng hi sinh cho ngày non sông thống nhất, tổ quốc
độc lập.
Trong những năm tháng không thể nào quên ấy, dù là những ngày khó khăn dưới
mái lá đơn sơ ở vùng sơ tán (từ Đại Từ, Sông Cầu đến Ba Vì, Sông Nhuệ) hay khi
được chuyển về trung tâm ở Mễ Trì - Thượng Đình, các thế hệ thầy trò Khoa Lịch
sử vẫn không quên nhiệm vụ chuyên môn của mình. Các kỳ tuyển sinh vẫn được
đảm bảo, các khóa sinh viên vẫn đều đặn nhập học và ra trường hàng năm. Đặc
biệt, trong hoàn cảnh bom đạn, trường lớp sơ tán, cơ sở vật chất vô cùng thiếu
thốn, vẫn có nhiều chuyên gia và sinh viên nước ngoài (Liên Xô, Trung Quốc, Ba
Lan, Triều Tiên, Inđônêxia…) theo Khoa, theo Trường về nơi sơ tán để giảng dạy
và học tập. Các đợt thực tập chuyên môn, khảo sát, điền dã về lịch sử Việt Nam,
Khảo cổ học, Dân tộc học vẫn được tổ chức thường xuyên.
Sau ngày giải phóng, số lượng sinh viên của Khoa tăng lên nhanh chóng, trong đó
có một số lượng đáng kể sinh viên từ tiền tuyến trở về. Đứng trước vận hội mới để
phát triển, đội ngũ cán bộ cũng được chú trọng tăng cường nhằm đáp ứng tốt
nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học của Khoa. Bên cạnh những bộ môn

Khoa Lịch sử đã tổ chức nhiều hội nghị nhằm thảo luận phương hướng đưa mục
tiêu đào tạo và nghiên cứu của đơn vị tiến lên theo tư duy đổi mới và hội nhập.
Trong hai thập niên 1980 và 1990, do những khó khăn chung nên số lượng cán bộ
giảng dạy của Khoa gần như không tăng. Trong khi đó, một số thầy cô được điều
động làm nòng cốt xây dựng các Khoa mới được thành lập của Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đông phương học, Quốc tế học, Du lịch học, Lưu
trữ học và Quản trị văn phòng…). Tuy nhiên, chất lượng giảng viên thời kỳ này
được củng cố nhanh chóng: nhiều người đã hoàn thành chương trình Tiến sĩ và
Tiến sĩ Khoa học ở trong và ngoài nước, được phong học hàm Giáo sư và Phó
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân và Nhà giáo ưu tú.
Đội ngũ cán bộ giảng dạy có trình độ chuyên môn cao và truyền thống đoàn kết
vượt khó của lớp lớp thầy trò Khoa Lịch sử, là tiền đề để Khoa đạt được những
thành tựu to lớn trong thời kỳ đầu Đổi mới. Vượt qua những di sản của thời kỳ bao
cấp kéo dài, Khoa Lịch sử là một đơn vị tiên phong trong sự nghiệp đổi mới giáo
dục đại học của đất nước: hoàn thiện các chương trình đào tạo theo hướng đổi
mới, liên kết và hội nhập; tổ chức biên soạn và cập nhật những bộ giáo trình mới
(Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Đại cương Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Thế giới, Lịch
sử Văn minh thế giới, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí
Minh…) và hàng loạt các sách chuyên khảo, sách tham khảo…; thực hiện nhiều đề
tài khoa học cấp Nhà nước (Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện
nay do GS.VS Phan Huy Lê làm Chủ nhiệm, Thiết chế chính trị xã hội nông thôn
Việt Nam do GS Phan Đại Doãn làm Chủ nhiệm, Tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh do GS.TS Phùng Hữu Phú làm Chủ nhiệm, Lịch sử và hiện trạng hệ thống
chính trị ở Việt Nam do GS.TSKH Vũ Minh Giang làm Chủ nhiệm, Lịch sử chủ
quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc
làm Chủ nhiệm, Lãnh thổ phía Nam và biên giới Tây Nam trong lịch sử do
GS.TSKH Vũ Minh Giang làm Chủ nhiệm), và các đề tài cấp Bộ, Tỉnh/Thành
phố; tổ chức các hội thảo quốc tế (Đô thị cổ Hội An năm 1990, Phố Hiến năm
1992, Việt Nam học lần thứ nhất năm 1998…); đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm
phát triển đội ngũ cán bộ (nhiều cán bộ của Khoa tiếp tục tham gia các chương

Comparative Approach (12/2009), Sử học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và
toàn cầu hóa: Những vấn đề lý luận và phương pháp tiếp cận (3/2011), Between
Classical and Modern: Southeast Asia in the Early Modern Period, ca. late 14th
to late 18th Century (11/2011); Future Directions in Southeast Asian Studies
(3/2012)… Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do cán bộ của Khoa
làm chủ nhiệm: Lịch sử Việt Nam do GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Lịch sử Chính
phủ Việt Namdo PGS Lê Mậu Hãn làm Chủ nhiệm, Đề án Khoa học xã hội cấp
nhà nước Quá trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ do GS.VS Phan
Huy Lê làm Chủ nhiệm Đề án, GS.TSKH Vũ Minh Giang, GS.TS Nguyễn Quang
Ngọc, PGS.TS Nguyễn Văn Kim, PGS.TS Vũ Văn Quân làm Chủ nhiệm các đề
tài). Khoa Lịch sử cũng là đơn vị có nhiều đóng góp trong nghiên cứu khoa học
hướng tới 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Cán bộ của Khoa trực tiếp làm Chủ
nhiệm 03 trong tổng số 12 đề tài thuộc Chương trình khoa học cấp Nhà nước
“Nghiên cứu phát huy điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và giá trị lịch sử - văn
hoá, phục vụ phát triển toàn diện Thủ đô”, mã số KX.09 (PGS.TS Phạm Xuân
Hằng, PGS.TSKH Nguyễn Hải Kế và PGS.TS Vũ Văn Quân). Cùng với các đơn
vị trong trường, với Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, các cán bộ Khoa
Lịch sử, hiện đang công tác tại Khoa, tại các đơn vị thuộc Trường, thuộc Đại hoc
Quốc gia Hà Nội hoặc đã nghỉ hưu chủ biên 23/94 đầu sách của “Tủ sách Thăng
Long ngàn năm văn hiến”.
Trải qua chặng đường 55 năm xây dựng và phát triển (1956-2011), Khoa Lịch sử
đã đào tạo cho đất nước khoảng 5.500 Cử nhân, gần 500 Thạc sĩ và 112 tiến sĩ.
Hầu hết các thế hệ sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh của Khoa đều trưởng thành
về chuyên môn, có uy tín trong ngành, nhiều nhà khoa học được huân danh trong
nước và quốc tế, nhiều cựu sinh viên của Khoa trở thành lãnh đạo cao cấp của
Đảng và Nhà nước. Nhiều đơn vị và cá nhân trong Khoa được Nhà nước trao tặng
các phần thưởng cao quý: Huân chương lao động các hạng Nhất, Nhì, Ba cho tập
thể Khoa và một số bộ môn; Huân chương lao động hạng Nhất, Nhì, Ba cho cá
nhân như: GS. Đinh Xuân Lâm, GS. Phan Huy Lê, GS. Hà Văn Tấn, GS. Trần
Quốc Vượng, GS. Phan Đại Doãn, GS. Vũ Dương Ninh, PGS. Lê Mậu Hãn,

3). Nghiên cứu các vấn đề kinh tế nông nghiệp và xã hội nông thôn, thiết chế làng xã,
tôn giáo-tín ngưỡng từ đó góp phần làm sáng tỏ những đặc tính của xã hội nông
nghiệp Việt Nam trong tương quan, so sánh với các xã hội khác ở phương Đông.
4). Những nhận thức cơ bản về lịch sử và tình hình chính trị, xã hội thế giới, nghiên
cứu chuyên sâu về lịch sử khu vực, về các cuộc cách mạng xã hội và các phong
trào, trào lưu cách mạng thế giới, quá trình hình thành, phát triển và ảnh hưởng
của các tổ chức khu vực, quốc tế, chính sách, chiến lược của các cường quốc, vị
thế của Việt Nam cũng như con đường phát triển đặc thù của Việt Nam trong so
sánh với một số quốc gia phương Đông.
5). Góp phần làm rõ tiến trình cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Đảng và vai trò
lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự hội nhập
với xu thế phát triển chung của khu vực và thế giới, đường lối Đổi mới của Đảng.
Nhằm tiếp tục duy trì và phát huy vị thế tiên phong của một đơn vị đào tạo, nghiên
cứu hàng đầu cả nước về Sử học, trên cơ sở những thành tựu khoa học đã đạt được
trong 55 năm qua, Khoa Lịch sử đã và đang hướng trọng tâm nghiên cứu vào 5
định hướng nghiên cứu lớn trên cơ sở nắm bắt những yêu cầu đã và đang đặt ra
đối với công cuộc Đổi mới và phát triển đất nước, mở rộng quan hệ quốc tế cũng
như sự phù hợp với các định hướng của các cơ quan quản lý Nhà nước về nghiên
cứu khoa học, của Đại học Quốc gia Hà Nội và Trường Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn:
1). Nghiên cứu vùng đất phương Nam: lịch sử, văn hoá, quá trình khai phá và xác
lập chủ quyền của Tổ quốc, các chính sách của các triều đại đối với vùng đất
phương Nam…
2). Nghiên cứu hệ thống về biển - đảo Việt Nam: môi trường kinh tế biển, ý thức
về biển và truyền thống khai thác biển, quá trình xác lập chủ quyền lãnh hải,
truyền thống bảo vệ biển đảo, nghiên cứu hải thương và bang giao quốc tế khu vực
Biển Đông cũng như các vùng biển khu vực và quốc tế…
3). Nghiên cứu vấn đề giao lưu và tiếp xúc văn hoá trong lịch sử Việt Nam: các
trung tâm - vùng - không gian văn hoá Việt Nam, văn hóa Việt Nam hiện đại, tính
thống nhất và đa dạng của văn hoá Việt Nam trong nền cảnh văn hoá khu vực…

2006.
- Nguyễn Văn Kim, “50 năm - Một chặng đường nghiên cứu khoa học của Khoa
Lịch sử”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 9 (365), 2006.
- Vũ Văn Quân, “Khoa Lịch sử - nửa thế kỷ xây dựng và phát triển”,
www.khoalichsu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status