HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC
-------------- -------------
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: CHUYÊN ĐỀ TÂM LÝ
Đề tài:
Nâng cao hiệu quả chất lượng tự học các môn khoa học xã hội và
nhân văn cho sinh viên trong trường Đại học hiện nay
GVHD : TS Trần Thị Minh Ngọc
SV : Hồ Thị Hải Yến
Lớp : Giáo Dục Chính Trị K28
Hà Nội, tháng 6 năm 2011
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của đề tài
II. Mục đích và nhiệm vụ
1. Mục đích
2. Nhiệm vụ
III. Đối tượng nghiên cứu
IV. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
1. Phạm vi nghiên cứu
2. Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG
Chương 1. Lý luận chung về tự học và hoạt động tự học các môn khoa
học xã hội và nhân văn của sinh viên trong trường Đại học
1.1. Khái quát chung về hoạt động tự học
1.1.1. Một số quan điểm về tự học
1.1.2. Một số khái niệm về tự học
1.1.2.1. Khái niệm tự học
1.1.2.2. Các hình thức tự học
1.1.2.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng tự học của sinh viên trong
quả chất lượng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn trong
trường Đại học
3.3.1. Nhận thức về vai trò tích cực của sinh viên trong việc tự học các
môn khoa học xã hội và nhân văn
3.3.2. Một số kỹ năng phục vụ hoạt động tự học các môn khoa học xã
hội và nhân văn
3.4. Đảm bảo tốt cơ sở vật chất kĩ thuật, trang thiết bị phục vụ cho
hoạt động tự học của sinh viên
KẾT LUẬN
CẤU TRÚC TIỂU LUẬN.
Đề tài: Nâng cao hiệu quả chất lượng tự học các môn khoa học xã
hội và nhân văn cho sinh viên trong trường Đại học hiện nay.
Gồm 3 phần:
Mở đầu
Nội dung
Kết luận
Trong đó, nội dung gồm 3 chương:
• Chương 1. Lý luận chung về tự học và hoạt động tự học các môn
khoa học xã hội và nhân văn của sinh viên trong trường Đại học.
• Chương 2. Thực trạng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn
của sinh viên trong trường Đại học.
• Chương 3. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả chất
lượng tự học các môn khoa học xã hội và nhân văn cho sinh viên
trong trường Đại học.
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Để đáp ứng xu thế hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, ngay từ
cuối thế kỷ XX, khoa học giáo dục đã chuyển từ quan điểm dạy học
“lấy người dạy làm trung tâm”, sang quan điểm “lấy người học làm
Vì vậy với kiến thức nhỏ về vấn đề tự học của sinh viên em xin
mạnh dạn chọn đề tài: Nâng cao hiệu quả chất lượng tự học các môn
khoa học xã hội và nhân văn của sinh viên trong trường Đại học.
Tiểu luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót nên em mong được sự
góp ý của cô giúp em hoàn thành tiểu luận tốt hơn. Em xin chân thành
cảm ơn!
II. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu
Trên cơ sở làm rõ lý luận và thực tiễn định hướng phương pháp
tự học cho sinh viên trong trường Đại học hiện nay, đề xuất các giải
pháp tự học cho sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh
viên trong các trường Đại học.
2. Nhiệm vụ
- Làm rõ lý luận về chất lượng tự học của sinh viên trong
trường Đại học.
- Đánh giá thực trạng việc tự học các môn khoa học xã hội và
nhân văn của sinh viên trong các trường Đại học.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng tư học các
môn khoa học xã hội và nhân văn của sinh viên trong các trường Đại
học.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung nghiên cứu việc nâng cao chất lượng tự học các
môn khoa học xã hội và nhân văn cuả sinh viên trong các trường Đại
học.
IV. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Cơ sơ lí luận: dựa trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa Mác
-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng
sản về giáo dục đào tạo, lí luận phương pháp giáo dục hiện đại.
- Phương pháp nghiên cứu: duy vật biên chứng, phân tích tổng
hợp, so sánh, kháo sát thực tế sinh viên một số trường …
khẳng định ý chí và nghị lực quyết tâm học tập suốt đời. Để làm được
điều đó đòi hỏi bản thân người học phải có ý thức tự học, học tập phải
là nhiệm vụ thường xuyên, được tiến hành bền bỉ, lâu dài, có củng cố,
rèn luyện mới đạt hiệu quả cao.
Trong lịch sử Trung Quốc, Khổng Tử cũng là người hết sức đề
cao việc học tập. Theo ông làm người cũng phải học làm quan chính
trị cũng phải học. Khổng Tử cho rằng mọi người đều cần phải học, có
học mới có thể biết được thế nào là: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng,
Cương. Ông chủ trương dạy điều gì cũng phải để học trò có sức suy
nghĩ tìm tòi. Theo ông, học phải gắn với tập và hành. Học mà có tập
thì nhớ lâu, thạo việc. Sau học là hành nghề, khi đã hành cần phải tiếp
tục học nữa. Như vậy, có thể nói phương châm chính của Khổng Tử là
“học không biết chốn, dạy không biết nơi”.
1.1.2. Một số khái niệm cơ bản về tự học
1.1.2.1. Khái niệm tự học
Trong một số giáo trình, tài liệu đã có nhiều tác giả đưa ra các
định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
Nhà tâm lý học N.RUBAKIN coi: tự tìm lấy kiến thức - có
nghĩa là tự học. Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã
hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các
mối quan hệ cảỉ tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình
phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri
thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chúng ta.
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó Giáo sư Hà Thị Đức trong
cuốn “Lý luận dạy học Đại học” thì “ tự học là một hình thức tổ chức
dạy học cơ bản ở Đại học. Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân,
nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự
tiến hành ở trên lớp hay ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương
trình và sách giáo khoa đã được quy định”.
Theo Giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: “ tự học – là tự
thời phải có vốn tri thức vô cùng sâu rộng. Với hình thức này, người
học không tiếp xúc với thầy và sách giáo khoa mà chỉ cọ sát thực tiễn.
Hình thức thứ hai là tự học với sách nhưng không có giáo viên
bên cạnh. Ở hình thức này, tự học có thể diễn ra ở 2 mức sau: thứ
nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy, người học
tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách. Qua đó sẽ phát triển
tư duy tư duy tự học với sách. Thứ hai, tự học có thầy từ xa hướng
dẫn: trao đổi thông tin giữa thầy và trò thông qua các phương tiện
thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh và giải đáp các thắc
mắc, làm bài tập, kiểm tra,…
Hình thức thứ 3 là tự học có sách, có thầy trong một số tiết học
sau đó sinh viên tự học ở nhà dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo
viên. Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò chỉ đạo,
tổ chức, điều khiển và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức. Trò
tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình học tập.
Trong quá trình tự học ở nhà, dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của thầy,
người học phải phát huy tính tự giác, tích cực, chủ động tự sắp xếp kế
hoạch học tập, huy động mọi tri thức, kĩ năng để hoàn thành những
nhiệm vụ giáo viên đề ra.
1.1.2.3. Tiêu chí đánh giá chất lượng tự học
Tiêu chí là những quy định dùng làm tiêu chuẩn để phân loại,
đánh giá được thể hiện ở các chỉ số, thông số, chỉ tiêu dùng làm thước
đo để dựa vào đó so sánh, đánh giá kết quả tự học của sinh viên. Với
cách tiếp cận trên, khi đánh giá chất lượng tự học các môn khoa học
xã hội và nhân văn của sinh viên trong trường Đại học cần dựa trên
các nhóm tiêu chí sau:
Một là, kết quả nhận thức về nội dung các môn khoa học xã hội
và nhân văn của sinh viên thông qua việc sinh viên đã xác định được
tầm quan trọng các môn học khoa học xã hội và nhân văn hay chưa,
đã nắm vững, bản chất, nội dung vấn đề, nội dung bài học đến đâu,
sư phạm, họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của
mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của nghề
nghiệp, qua đó họ sẽ xác định rõ ràng mục tiêu học tập, rèn luyện và
thể hiện bằng hành động học tập hàng ngày trong giờ lên lớp, thực tập
nghề hay nghiên cứu khoa học. Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển
mà sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết
quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ, vào phương
pháp học tập của họ.
Ở sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận,
đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày. Sinh viên là
trí thức tương lai, ở họ sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt.
Học tập ở đại học là cơ hội tốt để sinh viên được trải nghiệm bản thân,
vì thế, họ rất thích khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc
lộ những thế mạnh của bản thân, thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn
sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử thách để khẳng định
mình.
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn
định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp-
một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thự
sự yêu thích và đam mê với nghề đã lựa chọn. Sinh viên là lứa tuổi đạt
đến độ phát triển sung mãn của đời người. Họ là lớp người giàu nghị
lực, giàu ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, do quy luật phát triển không
đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách
thức giáo dục khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được
phát triển tối ưu, độ chín muồi trong suy nghĩ và hành động còn hạn
chế. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực hoạt động của bản
thân mỗi sinh viên. Bên cạnh đó, sự quan tâm đúng mực của gia đình,
phương pháp giáo dục phù hợp từ nhà trường sẽ góp phần phát huy ưu
điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sinh viên. Tuy
nhiên, điều quan trọng và quyết định chính là ở sự nỗ lực và tinh thần
một trong những yêu cầu cần thiết. Một trong những đòi hỏi nhằm
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường Đại học là
giúp cho sinh viên có khả năng tự hoc, tự nghiên cứu. Nghị quyết
Trung ương 2 khóa VIII khẳng định: “đổi mới phương pháp giáo dục
đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư
duy sáng tạo của người học. Từng bước áp dụng các phương pháp dạy
học tiên tiến và phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy học,
bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên,
nhất là sinh viên Đại học”.
Có thể nói, tự học là nhân tố trực tiếp trong việc nâng cao chất
lượng đào tạo ở các trường Đại học. Khi một học sinh trở thành một
sinh viên Đại học, họ bắt đầu làm quen với phương thức học tập hoàn
toàn mới. Ở phổ thông trung học, học sinh chỉ cần nắm vững những
kiến thức được cô giáo truyền giảng ở trên lớp và giáo viên liên tục
kiểm tra, đánh giá học sinh và có giao bài tập cụ thể. Song ở đại hoc
thì khác hẳn, tự học là phương pháp, cách thức cơ bản của mỗi sinh
viên phải quán triệt. Bởi vì, phương hướng chủ yếu của trường Cao
đẳng, Đại học trong giai đoạn này là nhanh chóng biến quá trình đào
tạo thành quá trình tự đào tạo mà thực chất là làm cho sinh viên tự
hoàn thiện và làm phong phú thêm vốn tri thức bằng sự nỗ lực tự học,
tự nghiên cứu. Sinh viên đại học, học phương pháp là chủ yếu. Giờ
đây, thầy cô giáo đóng vai trò là những người hướng dẫn học tập, và
các giờ lên lớp chỉ cung cấp được những kiến thức cơ bản nhất, những
tài liệu cơ bản, còn việc học tập của sinh viên là sắp xếp trình tự, thời
gian để nghiên cứu nắm tài liệu cơ sở và cả tài liệu tham khảo mở
rộng. Thêm vào đó, không còn sự kiểm tra sát sao của giáo viên, kết
quả học tập dồn hết vào kỳ thi hết học phần, hết môn. Kết quả này phụ
thuộc vào bản thân sinh viên là chủ yếu. Công tác tự học của sinh viên
ngày càng tăng lên, ngày càng đòi hỏi nhiều cố gắng nỗ lực vì chỉ có
việc tự học mới trang bị cho mình kiến thức mới nhất, khoa học nhất