nâng cao chất lượng giai cấp công nhân việt nam trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước - Pdf 25

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 / Lí do chọn đề tài :
Trong xu thế toàn cầu hoá, với nền kinh tế tri thức và sự bùng nổ của công
nghệ thông tin, chuyển giao từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh trí
tuệ, tất cả các nước trên thế giới đang thực hiện cuộc chạy đua để đạt đến cái
đích đó. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá ( CNH-HĐH ) đất nước
đang diễn ra rầm rộ ở các quốc gia và tiếp cận ngày càng sâu văn minh trí
tuệ - một sự đầu tư vô cùng lớn cho tương lai. Và trong sự nghiệp phát triển
đó, yếu tố về con người là yếu tố quan trọng bậc nhất chi phối các yếu tố
khác và cả quá trình đổi mới. Con người là trung tâm và động lực của vận
hội đất nước, giai cấp công nhân (GCCN) lại là trung tâm của trung tâm đó.
Đất nướcViệt Nam chúng ta cũng đang trên con đường hội nhập cùng bạn
bè quốc tế, tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN Việt Nam trong thời kì
hiện nay là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của Đảng, nhà nước, của cả hệ
thông chính trị, của mỗi công dân và của toàn xã hội. Nước ta đã chính thức
là thành viên của WTO, sức ép cạnh tranh và chuyển dịch lao động diễn ra
rất phức tạp và quyết liệt. Đến năm 2020 ta cơ bản hoàn thành CNH-HĐH
để có một đất nước “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh “. Vì thế yêu cầu đặt ra là phải có một GCCN đủ mạnh cả về số lượng
lẫn chất lượng, có trình độ tay nghề cao, có kỉ luật và tác phong công nghiệp.
GCCN chiếm giữ một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 1 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
đổi mới của đất nước, là trung tâm của xã hội. GCCN Việt Nam có mặt
trong tất cả các thành phần kinh tế, các ngành nghề đồng thời là lực lượng
sản xuất cơ bản nắm giữ cơ sở vật chất quan trọng, quyết định phương
hướng phát triển của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Là lực lượng nòng cốt của
liên minh công – nông – trí thức, là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc.
Do đó, GCCN cần có những thay đổi tích cực nhằm thích ứng với những
thay đổi của xã hội hiện đại cũng như không để mình bị tụt hậu và thực hiện

3.2) Phạm vi nghiên cứu.
Vấn đề về GCCN Việt Nam hiện nay là một vấn đề nóng cần được quan
tâm, nghiên cứu về vấn đề này là một việc làm mang tính xã hội cao. Tuy
nhiên do trình độ kiến thức có hạn và thời gian không cho phép nên phạm vi
nghiên cứu còn hạn chế. Ở đây chúng ta chủ yếu chú trọng vào tình hình
GCCN Việt Nam từ những năm đổi mới (1986) đến nay và chủ trương phát
triển GCCN hiện nay của Đảng và nhà nước ta.
4) Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu.
4.1) Cơ sở lí luận :
Lập trường macxit của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về GCCN.
Nghị quyết hội nghị lần 6 (khoá X) của Đảng cộng sản Việt Nam về
GCCN.
4.2) Phương pháp nghiên cứu :
Sử dụng những nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử nhằm nghiên cứu hệ thống lí luận về GCCN của chủ
nghĩa Mác- Lênin, vận dụng nó để đề ra phương hướng nhằm nâng cao chất
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 3 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
lượng của GCCN Việt Nam trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước.
Đọc và phân tích những tài liệu liên qua đến GCCN thế giới nói chung và
GCCN Việt Nam nói riêng
Sử dụng các qui tắc diễn dịch, qui nạp nhằm trình bày nội dung bài tiểu
luận.
5) Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
5.1) Ý nghĩa khoa học.
Nghiên cứu lí luận về GCCN trong điều kiện CNH-HĐH đất nước theo
định hướng XHCN để thấy được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của
GCCN trong giai đoạn hiện nay.
5.2) Ý nghĩa thực tiễn.

GCCN đại công nghiệp.
Thứ hai: Về địa vị của GCCN trong hệ thống quan hệ sản xuất TBCN:
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 5 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
Về mặt này, hai ông đã thấy được người công nhân không có tư liệu sản
xuất buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống, khiến họ trở
thành giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản (GCTS) và là lực lượng
đối kháng của GCTS. Từ đặc trưng thứ hai này mà Mác và hen gọi GCCN là
GCVS.
Trong tác phẩm “Những nguyên lí của chủ nghĩa cộng sản” , Ăghen có
định nghĩa : “GCVS là giai cấp xã hội hoàn toàn chỉ kiếm sống bằng việc
bán sức lao động của mình chứ không phải sống bằng lợi nhuận của bất cứ
tư bản nào, đó là một giai cấp mà hạnh phúc và đau khổ, sống và chết, toàn
bộ sự sống của họ đều phụ thuộc vào số cầu về lao động, tức là vào tình hình
diễn biến tốt hay xấu của công việc làm ăn, vào những sự biến động của
cuộc cạnh tranh không gì ngăn cản nổi. Nói tóm lại, GCVS hay những người
vô sản là giai cấp lao động trong thế kỉ XIX”.
1.1.2) Quan điểm của Lênin về GCCN.
Kế thừa và phát triển các quan điểm của chủ nghĩa Mác, trong tác phẩm
sáng kiến vĩ đại” của mình, Lênin nhận định : “Người ta gọi là giai cấp,
những tập đoàn người to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ
trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về
quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ
chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về
phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng.Giai cấp là những tập
đoàn người mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,
do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một thể chế kinh tế xã hội
nhất định”. Từ đó Lênin đã hoàn thiện thêm khái niệm về GCCN. Theo ông
trong các nước đi theo con đường XHCN về cơ bản GCCN cùng với nhân
dân lao động đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ

đúng bản chất cách mạng và năng lực lãnh đạo của GCCN. Trong cuốn
“Đường cách mệnh “ và các văn kiện được thông qua tại hội nghị thành lập
Đảng, các quan điểm về GCCN được Người khẳng định : “GCCN là gốc
cách mạng, là lực lượng, là giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đandr
cộng sản Việt Nam là Đảng của GCCN Việt Nam, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin
làm nền tảng và kim chỉ nam cho các hoạt động của Đảng, GCCN cần phải
đoàn kết với giai cấp nông dân và các thành phần dân tộc khác để đấu tranh
giải phóng dân tộc, thực hiện dân chủ và đi tới xã hội cộng sản, GCCN Việt
Nam có mối liên hệ mật thiết với GCCN quốc tế”. Người nhận rõ: “GCCN
các nước kể cả thuộc địa và chính quốc phải đoàn kết để chống kẻ thù chung
là CNTB, để giành lấy thắng lợi, cách mạng nhất định phải do GCCN lãnh
đạo ,vì nó là giai cấp tiền tiến nhất ,giác ngộ nhất, kiên quyết nhất, có kỉ luật
nhất và có tổ chức chặt chẽ nhất”.
Mở đầu nghị quyết 6 (khóa 10), Trung ương Đảng đã đưa ra khẳng định :
“GCCN là một lực lượng xã hội to lớn đang phát triển, bao gồm những
người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình
sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và
dịch vụ có tính chất công nghiệp”.
Bác Hồ và Đảng ta đã có những nhận định đúng đắn về GCCN quốc tế
nói chung và GCCN việt Nam nói riêng.Người cũng đã đề ra những đường
lối, chủ trương phát triển GCCN nước nhà . Trong thời đại CNH-HĐH,
Đảng ta cũng đã và đang lãnh đạo tiếp tục xây dựng và phát triển GCCN
theo chủ trương của Bác.
Dựa trên quan điểm của các nhà triết học và tình hình của GCCN trong
sự phát triển khoa học công nghệ rút ra được định nghĩa : “GCCN là một tập
đoàn xã hội ổn định, hình thành và phát triển cùng với quá trình phát triển
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 8 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
của nền công nghiệp hiện đại, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất
có tính xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực

là đại biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất của xã hội, có điều kiện lao
động và sinh sống tập trung…Nhưng bên cạnh đó do ảnh hưởng của những
điều kiện lịch sử của đất nước, những bản chất và truyền thống của dân tộc
nên GCCN Việt Nam còn mang những đặc điểm riêng của mình. Đó là :
Bị ba tầng áp bức bóc lột : Lúc bấy giờ, nước ta là một nước thực dân nửa
phong kiến nên tồn tại nhiều tầng lớp trong xã hội, những tầng lớp thống trị
đua nhau áp bức GCCN để làm giàu cho mình,đó là bọn thực dân xâm lược,
bọn địa chủ phong kiến và cả bọn tay sai bán nước. Nhân dân Việt Nam lúc
bấy giờ nằm trong tình trạng “một cổ ba tròng”.
Có quan hệ gắn bó tự nhiên mật thiết với giai cấp nông dân và các tầng
lớp lao động khác : Người dân Việt Nam phần lớn là những người nông dân
chất phác đi ra từ gốc ruộng, GCCN hầu hết xuất phát từ những người nông
dân, họ cùng có chung một nguồn gốc với nhau lại cùng chịu cảnh cực khổ
và sự bóc lột của giai cấp thống trị nên họ có sự gắn bó mật thiết với nhau.
Đây là nguồn gốc để hình thành liên minh công nông vững mạnh và và khối
đại đoàn kết dân tộc trong đó GCCN là lực lượng đi đầu lãnh đạo trong công
cuộc đấu tranh tự giải phóng mình và giải phóng xã hội.
Kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng ,bất khuất của dân tộc : Sinh ra
trong lòng một dân tộc có truyền thống đấu tranh bất khuất chống ngoại
xâm, có truyền thống yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc và dần lớn lên trong
không khí sục sôi của các phong trào yêu nước, các cuộc khởi nghĩa chống
thực dân, GCCN chịu sự ảnh hưởng và tiếp thu những nét tinh hoa đó tạo
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 10 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
thành bản chất quí báu luôn được nung nấu trong mình.
Tất cả những đặc điểm đó tạo thành nét đặc trung cho GCCN Việt Nam,
góp phần thúc đẩy lực lượng phát triển và thực hiện nhiệm vụ cách mạng
của mình.
Từ khi trở thành giai cấp cầm quyền, GCCN Việt Nam luôn phát huy bản
chất cách mạng trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, luôn là lực lượng đi đầu

tranh của công nhân viên chức các sở công thương của tư nhân ở Bắc Kì
năm 1922, tiếp đó là cuộc bãi công của thợ nhuộm ở Chợ Lớn (11/1922).
Sang năm 1924 có nhiều cuộc bãi công của công nhân ở các nhà máy dệt,
rượu, xay gạo ở Nam Định, Hà Nội, Hải Dương…quan trọng hơn là cuộc bãi
công của thợ máy xưởng Ba Son. Tháng 2/1930 ,nổ ra cuộc bãi công của
công nhân đồn điền Phú Riềng ,tiếp là công nhân nhà máy sợi Nam Định,
nhà máy diêm và cưa Bến Thủy, xi măng Hải Phòng , hãng dầu Nhà Bè, đồn
điền Dầu Tiếng…đến đỉnh cao là phong trào Xô Viết Nghệ - Tĩnh và nhiều
phong trào khác. Sau khi giành độc lập, đất nước ta thực hiện công cuộc đổi
mới quá độ lên CNXH và thực hiện CNH-HĐH đất nước.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 6 (khóa 10) khẳng định
“GCCN nước ta có SMLS to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua
đội tiền phong là Đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp đại diện cho phương
thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng CNXH,
lực lượng đi đầu trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong
liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo
của Đảng”. Trước mắt trong những năm tới thực hiện thắng lợi mục tiêu
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 12 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
“nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi
nguồn lực cho CNH-HĐH đất nước, phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ
công bằng xã hội, tăng cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối
ngoại chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính
trị sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Trước yêu cầu và thách thức lớn của thời đại, GCCN Việt Nam mang trên
mình trọng trách nặng nề và để thực hiện được nhiệm vụ đó, GCCN nước ta
cần phải được hoàn thiện và phát triển về mọi mặt .

ái. Cùng với các giai cấp ,tầng lớp khác trong xã hội , GCCN là cơ sở chính
trị - xã hội vững chắc của Đảng và nhà nước.
Trong liên minh GCCN với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự
lãnh đạo của Đảng, họ đã phối hợp với nhau chặt chẽ và đồng bộ hơn. Đã có
một số mô hình liên kết trực tiếp công nhân với nông dân và nghiên cứu
khoa học; công nhân, nông dân và trí thức trong sản xuất kinh doanh như mô
hình công ty mía đường Lam Sơn; hình thức liên kết bốn nhà : nhà nông,
nhà doanh nghiệp,nhà khoa học, nhà nước; các hình thức liên kết trong thực
hiện xây dựng cánh đồng 50 triệu đồng\ ha\ năm và hộ nông dân thu nhập 50
triệu đồng \ năm.
Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu GCCN nước ta cũng còn một số hạn
chế : Sự phát triển của GCCN chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội về số
lượng, cơ cấu, trình độ học vấn, chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp , thiếu
nghiêm trọng các chuyên gia kĩ thuật, cán bộ quản lí giỏi, công nhân lành
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 14 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
nghề , tác phong công nghiệp và kỉ luật lao động còn nhiều hạn chế, chưa
được đào tạo có hệ thống , chậm thích nghi với cơ chế thị trường của thời
đại CNH-HĐH. Địa vị chính trị của GCCN chưa được thể hiện đầy đủ , còn
nhiều hạn chế trong phát huy vai trò nòng cốt của liên minh công nhân-nông
dân-trí thức, giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị không đồng đều, hiểu
biết pháp luật còn thấp. Tỉ lệ Đảng viên và cán bộ lãnh đạo xuất thân từ công
nhân rất ít. Việc làm và đời sống vật chấtđược cải thiện nhưng chưa công
nhân được hưởng tương ứng với công sức của mình, đời sống vật chất và
tinh thần còn nhiều khó khăn và thách thức.
* Nguyên nhân của thực trạng trên:
Đảng đã có những đường lối đổi mới , phát triển kinh tế- xã hội nhưng
chưa được thực hiện triệt để , còn nhiều hạn chế yếu kém.
Đảng có chú trọng xây dựng GCCN nhưng chưa đầy đủ, chưa ngang tầm
với vị trí, vai trò của GCCN trong thời đại mới .

tạo nghề một cách chuyên nghiệp .GCCN bao gồm những người lao động có
tính công nghiệp (chân tay, thủ công) tại các công trường xây dựng; các
doanh nghiệp, nông, lâm trường và các hộ tiểu chủ sản xuất; nhóm công
nhân công nghiệp cơ khí, nhất là các ngành công nghiệp nặng; nhóm công
nhân tự động hóa hay lao động công nghệ cao, lao động trí thức tại các khu
công nghệ cao. Trong các ngành nghề của công nhân, tỉ lệ công nhân cơ khí
và công nghiệp nặng còn rất thấp khoảng 20% tổng số công nhân cả nước.
Trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến thực
phẩm lại chiếm tỉ lệ cao khoảng 40%.
Về cơ cấu thành phần kinh tế : GCCN gồm có số công nhân làm việc trong
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 16 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (doanh nghiệp nhà nước,
doanh nghiệp của tư nhân và tập thể, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài); số công nhân làm việc tại cáchộ sản xuất kinh doanh cá thể (trong
lĩnh vực công nghiệp hoặc mang tính công nghiệp);số lao động Việt Nam
đang làm việc theo hợp đồng ở nước ngoài( chủ yếu làm việc trong các
doanh nghiệp);số lao động chân tay trong các cơ quan Đảng, nhà nước, đoàn
thể. Trong thời kì đổi mới, số lượng công nhân ngoài quốc doanh tăng mạnh,
số công nhân trong khu vực quốc doanh lại giảm.
Về tư tưởng, ý thức giai cấp : Sự hiểu biết của một bbộ phận công nhân về
chủ nghĩa Mác-Lênin đã được nâng lên một bước nhờ vào sự nổ lực của
Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam cả nước có 6 triệu công nhân được học
5 bài giáo dục chính trị cơ bản. Ý thức chính trị của công nhân được bồi
dưỡng và nâng lên một bước. Theo thống kê ở Hà Nội có 23,1% công nhân
tự nhận là hiểu rõ về chủ nghĩa Mác-Lênin; 71,3% hiểu khái quát và 5,6%
chưa hiểu rõ.Mức độ hiểu tư tưởng Hồ Chí minh cũng khá cao, tại các doanh
nghiệp ở Hà Nội số công nhân tự nhận hiểu rõ là 35,4% ; chỉ hiểu khái quát
là 59,5% ; chưa hiểu rõ là 5,1% . Tuy nhiên một số ít GCCN Việt Nam ở Hà
Nội và một số nơi khác có ý thức không cao, họ ít tự hào về công việc của

không có các đảm bảo về chăm sóc ytế, giáo dục cho con cái…Về vấn đề ăn
uống thì còn rất kém, các hiện tương ngộ độc thức ăn tập thể vẫn diễn ra
thường xuyên do bữa ăn không chất lượng và kém vệ sinh. Thế nhưng họ
phải làm việc cả ngày như những cổ máy, vi phạm luật lao động về số giờ
làm việc \ ngày \ tháng , thậm chí làm 10-12 giờ \ ngày.
Đời sống tinh thần: Trước áp lực công việc và mưu toan cuộc sống như
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 18 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
vậy, đời sống văn hóa tinh thần của công nhân chưa cao, một biện pháp đáng
kể có tâm lí quá coi trọng vật chất,tiền bạc, coi nhẹ các giá trị khác. Thậm
chí có tư tưởng sùng bái CNTB, tâm lí làm thuê, coi trọng tiền bạc hơn
quyền làm chủ…Thêm vào đó,những vụ hành hung trong các mối quan hệ
ngoài xã hội và các vụ hành hạ thân xác của giới chủ đặc biệt là những tên
chủ nước ngoài làm cho GCCN bị những cuộc khủng hoảng cả về thể xác
lẫn tinh thần. Trong tình trạng như vậy công nhân không thể giác ngộ được
lí tưởng cách mạng và SMLS bản thân. Cuộc sống của họ diễn ra tuần hoàn
như một chu trình từ sáng đến tối làm họ chán ngắt nên có thể xảy ra một số
vấn đề không hay và có thể lâm vào tệ nạn xã hội. Từ những bất công trong
lao động , công nhân lại bãi công, đình công gây nên những tiêu cực về dư
luận xã hội và gây rối trật tự trị an nói chung. Lại thêm việc công nhân kéo
về quê vào dịp lễ tết gây nên sự xáo trộn trong xã hội và họ phải mất cả một
số tiền lớn cho những chuyến xe đắt đỏ.
Tóm lại GCCN hiện nay đang bị bóc lột về mọi mặt, đời sống vật chất và
tinh thần của họ thật sự thậm tệ và đó là vấn đề cần được quan tâm và giải
quyết
2.2) CÔNG CUỘC XÂY DỰNG GCCG VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ
CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC.
2.2.1) Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong xây dựng
GCCN Việt Nam.
Xây dựng CNXH và CNH-HĐH đất nước là một quá trình lâu dài và đầy

lược xây dựng GCCN lớn mạnh phải gắn chặt với chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội, CNH-HĐH đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế. Xử lí đúng đắn
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 20 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội, chăm lo xây dựng GCCN; đảm bảo hài hoà lợi ích giữa công nhân,
người sử dụng lao động ,nhà nước và toàn xã hội; không ngừng nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của công nhân, quan tâm , giải quyết kịp thời những
vấn đề bức xúc, cấp bách của GCCN."
Để đáp ứng được những yêu cầu mới của thời đại, Đảng ta cũng đã chú ý
chỉ đạo " Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân,
không ngừng trí thức hoá GCCN là một nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt quan
tâm xây dựng tế hệ công nhân trẻ có học vấn, chuyên môn và kĩ năng nghề
nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp và bản lĩnh
chính trị vững vàng, trở thành bộ phận nòng cốt của GCCN".
Và để thực hiện những nhiệm vụ đó, Đảng ta cũng đã chỉ rõ vai trò trách
nhiệm của từng cá nhân và cơ quan đoàn thể." Xây dựng GCCN lớn mạnh là
trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và sự nổ lực vươn lên
của bản thân mỗi người công nhân, sự tham gia đóng góp tích cực của người
sử dụng lao động ; trong đó sự lãnh đạo của Đảng và quản lí của nhà nước
có vai trò quyết định, công đoàn có vai trò trực tiếp trong chăm lo xây dựng
GCCN. Xây dựng GCCN lớn mạnh phải gắn liền với xây dựng Đảng trong
sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xây dựng tổ chức công
đoàn, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị - xã
hội khác vững mạnh".
2.2.2) Mục tiêu xây dựng GCCN.
Để đạt đến mục tiêu năm 2020 Việt Nam là một nước công nghiệp toàn
diện, trên nền những quan điểm chỉ đạo xây dựng GCCN lớn mạnh, ngang
tầm với sự nghiệp CNH-HĐH, chủ động vững bước vào quá trình hội nhập
quốc tế, Nghị quyết Hội nghị 6 khoá X của Đảng ta cũng đã xác định mục

Nhiệm vụ: " Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lí luận về
GCCN trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, đẩy mạnh
CNH-HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế".
Giải pháp : Trong điều kiện phát triển ngày càng cao của xã hội, cần phải
đổi mới công tác nghiên cứu, tăng cường đầu tư để hiệu quả hoá công tác
tổng kết thực tiễn và trên những điều sát thực đi đến phát triển, hoàn thiện lí
luận về GCCN. Trong đó, những vấn đề cần phải quan tâm và được giải đáp
là vai trò lãnh đạo, vai trò làm chủ của GCCN trong thời kì mới , về vấn đề
trí thức hoá và xu hướng phát triển của GCCN. Mối quan hệ giữa GCCN với
các tầng lớp khác trong xã hội mà trọng điểm là mối quan hệ trong khối liên
minh công nhân- nông dân- trí thức, sự phân hoá và mối quan hệ trong nội
bộ GCCN, mối quan hệ đoàn kết giữa công nhân Việt Nam với công nhân
quốc tế trong thời đại hội nhập, những âm mưu thủ đoạn "diễn biến hoà
bình", và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối với GCCN
Tiếp đó là từ những cơ sở lí luận đưa ra những chủ trương, đường lối, giải
pháp xây dựng GCCN phát triển trên mọi mặt để đáp ứng yêu cầu của thời
đại mới. Và những lí luận đó cũng trở thành tài liệu giảng dạy trong các bậc
đại học,cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các buổi giáo dục chính trị cho
công nhân để mọi người nhận thức được tầm quan trọng, vai trò lãnh đạo
xã hội, phát triển đất nước của GCCN. Qua đó mà toàn xã hội có ý thức tự
xây dựng và phát triển GCCN,đoàn kết sức mạnh toàn xã hội ủng hộ đắc lực
công cuộc phát triển của đất nước.
Thứ hai :
Nhiệm vụ: “Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, bồi dưỡng ý
thức chính trị, ý thức pháp luật, từng bước trí thứchoá GCCN”. Đây là một
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 23 - SVTH : Trần Thị Lan Hương
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GCCN VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ CNH-HĐH ĐẤT NƯỚC
nhiệm vụ cực kì quan trọng trong xây dựng GCCN để đáp ứng nhu cầu
CNH-HĐH đất nước.
Giải pháp: Công tác này quán triệt cần phải đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại

động, luật công đoàn, luật doanh nghiệp…Chú trọng đào tạo nâng cao chất
lượng giáo viên dạy nghề, qui hoạch và phát triển mọi hình thức và thành
phần kinh tế.
Thứ ba :
Nhiệm vụ : “Thực hiện tốt chính sách pháp luật, đảm bảo tốt quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của công nhân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần
cho công nhân gắn với tăng năng suất lao động”.
Giải pháp: Để GCCN tiếp tục phát triển thì phải tạo được một nền tảng
về cơ sở vật chất và tinh thần cho họ từ đó mà họ có khả năng phát triển tốt
tư duy và thể chất để phục vụ lao động tốt hơn, đem lại năng suất lao động
cao hơn.
Thực hiện được nhiệm vụ này thì Đảng ta chỉ đạo phải hoàn thành các
mục tiêu như: “Nghiên cứu, bổ sung và sử đổi chính sách pháp luật về lao
động và đời sống công nhân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo
hài hoà lợi ích của GCCN với các cá nhân tổ chức có liên quan. Tập trung
giải quyết các vấn đề bức xúc của công nhân là chế độ tiền lương, việc làm,
điều kiện lao động, vấn đề nhà ở, sức khoẻ, đảm bảo và phát huy quyền làm
chủ của công nhân…Nâng cao ý thức tự giác của công nhân, tăng cường vai
trò của nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội và tổ chức công đoàn.
Hiện nay, Đảng ta đã và đang cùng nhân dân thực hiện một số chính sách
lớn : Bổ sung, sửa đổi để đảm bảo thực hiện nghiêm các qui định về kí hợp
GVHD: Hoàng Thị Kim Liên - 25 - SVTH : Trần Thị Lan Hương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status